Thơ từ cõi nhiễu nhương

THƠ TỪ CÕI NHIỄU NHƯƠNG
Tập I
Tập họp những bài viết về thi phẩm/ thi sĩ miền Nam đã đăng trên tạp chí Thư Quán Bản Thảo
Sách dày 456 trang
Trình bày bìa, nội dung layout: THT
Thư Ấn Quán xuất bản

(Sách có password protected)

Click vào bìa để đọc nội dung

Ngày giỗ

Lời chũ blog: Cuối cùng, TQBT và những tác phẩm sưu tập hoặc tái bản đã đến nơi đến chốn. Với những người đã khuất, luôn luôn là hai tập. Một tập TQBT số chủ đề của người đã khuất, và một tác phẩm của chính tác giả này.

Continue reading “Ngày giỗ”

Một thoáng thơ tình thời chinh chiến điêu linh

Cao Thoai Chau

Cao Thoại Châu

(cựu lính và GS/THPT Kontum)

22489909_859500550877624_6615690875206802621_n

Thời yên ổn ở miền Nam trong vùng VNCH không dài lắm. Đến khoảng 1963 chính quyền VNCH đã có lệnh tổng động viên. Nhiều lớp thanh niên sinh viên phải gọi vào lính, trong đó không thiếu những nhà thơ tuổi đời còn trẻ. Bắt đầu xuất hiện rầm rộ một dòng thơ tình thời chiến. Sống động, nóng bỏng, không hùng tráng mà nhiều bi tráng nhưng rất chân thật, viết tự lòng mình .
“Tặng cho em trái lựu đạn cay
Hạch nước mắt của thời đại mới
Tặng cho em cuộc chiến tranh đang tàn
Trên quê hương của bao nhiêu bà mẹ
Nơi đồng bào ta ăn bom đạn thay cơm
Nơi vải xô không đủ để chít đầu con trẻ”

(Trần Dạ Từ).

Lần đầu tiên những thứ dùng để hạ sát được nhà thơ mang làm tặng vật như tặng cho nhau một tâm trạng thừa mứa những vô vọng nghịch lý của một thời. Bài thơ này dường như thay lời muốn nói cho cảm quan nghệ thuật trước cuộc sống bị đắp bờ bao của phẫn nộ. “Tặng vật tỏ tình” không ít người có thời đã coi như bài thơ viết cho mình, thậm chí “ứng” vào mình.
Bài mà tôi thích nhất là bài thơ của Trần Hoài Thư, anh bạn bị động viên cùng khóa với tôi, bởi nó nói những gì có thật, sự thật cay đắng làm sao!:
“Xin cô hàng thêm một két bia 
Hôm nay lãnh lương tôi dành đãi hết 
Cô hàng ơi, một mai tôi chết 
Ai tiêu dùm, ba tháng tiền lương 

Hôm qua tôi dừng chợ Bồng Sơn 
Mẹ thằng bạn ôm tôi mà khóc 
Tôi nói làm sao qua giòng nước mắt 
Thị trấn này vừa mất thằng con 

Cô hàng ơi cho một ly không 
Tôi rót mời một người lính Bắc 
Hắn nằm banh thây dưới hầm bí mật 
Trên người vẫn còn sót lại bài thơ 

Trên đồi cao, mây vẫn xanh lơ 
Có con bướm vàng dịu dàng dưới nắng 
Tôi với hắn, đâu có gì thống hận 
Bài thơ nào cũng viết để yêu em 

Khi tôi buồn tôi nói trăm năm 
Có nghĩa là tôi vẫn còn muốn sống 
Đừng nhắc cùng tôi người tôi yêu dấu 
Kẻo tôi lại sầu, mửa hết mật xanh”

nguoi_yeu_cua_linh*

Chiến tranh ngày một khốc liệt và dai dẳng, nó động đến từng gia đình. Một cuộc chiến tranh mà cả những người không thích nó cũng phải mặc áo lính như một bổn phận công dân. Nguồn xúc cảm của thi ca có ngay một bối cảnh mới là những cuộc chia ly- chia ly thời chiến. Thứ chia ly này hàm chứa một hy vọng ngày về hết sức mong manh

“Kỷ vật đây viên đạn màu đồng/
Cho em làm kỷ niệm sang sông/
Đời con gái một lần dang dở”

(Linh Phương).

Tình yêu và hạnh phúc thường xuyên trong tình trạng khẩn cấp như một thành phố bị thiết quân luật!
Còn không thì lối về cũng chẳng hanh thông gì

“ Tôi về ngơ ngác đôi tay
chân đi hồn rã áo bay lạ người
vẫn mình trên phố ngược xuôi
nghe trong cơn rộn tiếng đời héo hon
mai đây bỏ lại phố phường
bụi se cát mỏi trên đường tôi đi”

(Lâm Chương) –

lính và cây đàn

ở đâu về và rồi đi đâu trong những năm tháng dang dở mộng chưa thành ấy?
Khi 25 tuổi tôi bị động viên và mất một mối tình chưa kịp tỏ cũng trong tình cảnh chung đó, nên tôi hiểu và trọng sự vội vã và cái quyền bị lung lay này của bạn mình:

“… em hỡi em
người anh yêu
anh có quyền hôn em lúc này
bởi ngày mai anh trở ra mặt trận
ở đó, anh không thiếu một thứ gì
kể cả máu
chỉ duy có thứ này
hãy viện trợ cho anh
đó là giọt lệ em xanh biếc…”

nhà thơ bị mất một chân vì mìn nổ Luân Hoán đã viết như tiên tri thế ấy. Không thiếu một thứ gì, máu thì nhiều không kể xiết giống như cái chết lởn vởn xung quanh, trong cảnh tượng đó, những “giọt lệ em xanh biếc” bỗng trở thành một thứ khát khao dù rằng lệ hay máu thì cũng là bi thương thôi. Tôi nghe một sự lẩn quẩn giữa hai dòng nước này của con người.
Nhiều lúc anh tự hỏi không biết chiến tranh để làm gì/ 
không biết để làm gì nhưng dù không biết để làm gì đi nữa
hãy nhớ hôn anh một lần đi/

em nhé”

. Nhỏ nhoi thậm chí nhạt nhẽo một nụ hôn “trăn trối” không có nghĩa gì!

(Triều Uyên Phượng)
Ngày mãn lính trở về? Mấy câu của Hồ Minh Dũng

“Còn ba năm nữa anh sẽ về
Anh biết chắc không còn quê hương để ở
Em gắng sắm cho anh một cây đàn bầu
Làm bằng nắp hòm người lính nghèo
Chết ngoài mặt trận”

nghe có vẻ như báo động một tương lai khi nhà thơ hết hạn kỳ đối diện với chết chóc, nhưng sao đó lại không là thơ tình viết bằng trái tim người làm thơ bị cuốn vào cuộc chiến ?
Chiến tranh là hòa bình bị dán đè lên một mảnh giấy, ai cũng biết thế và ai cũng nuôi trong lòng một hy vọng ngày mảnh giấy rơi xuống. Nhà thơ vốn là người bén nhạy hơn “Và có thể nào đêm nay không còn tiếng súng
Không còn nghe tiếng còi hụ giới nghiêm
Ba giờ sáng xuống Ngã tư quốc tế
Ăn một tô mì thơm ngát bình yên”

(Phạm Cao Hoàng).

Thật tuyệt vời cho tô mì ăn vào phút đầu tiên của hòa bình! Nó như một niềm hân hoan bé mọn không ít lần bị hụt hẫng. Phải đã từng có mặt ngoài phố , đứng ở một gốc cây, sau một tảng đá, trong giờ giới nghiêm mới hình dung ra được ảo ảnh một phút giây hòa bình là thế nào.
Rồi như Nguyễn Bắc Sơn

“đời đã bắt kẻ làm thơ đi làm lính
mang trong đầu những ý nghĩ trong veo
xem cuộc chiến như tai trời ách nước”

nha-tho-nguyen-bac-son-lam-tho-ben-duongmg111-1390758303109

thì đấy là tiếng nói thực của nhiều người lứa tuổi tôi khi đó. Và tôi, CTC, có vẻ buông xuôi hơn, kết thúc một tình yêu sắp ngỏ

” Hãy cứ đi lấy chồng
Hoặc yêu một người nào khác
Rất có thể anh không về
Tỷ lệ không về ngày một cao hơn
Đừng dại dột sống chờ làm góa phụ”.

Thơ tình thời chiến miền Nam trước 1975- thường được gọi là “thơ Sài Gòn” – thật sự thiếu không khí hào hùng nhưng đó là một nét đẹp bởi nó chân thật, điều hết sức cần thiết của thi ca, làm nên một giai đoạn thi ca đáng lưu giữ và trân trọng, nó có tính lịch sử rõ ràng. Tuy nét đó là một nỗi buồn có phần bị động, khó lòng nói hết.

Cao Thoại Châu

 

(nguồn: http://kontumquetoi.com)

Đôi mắt La Ronda

Ngày cuối cùng trước buổi hội luận “Chiến tranh Vietnam và hậu quả xã hội” tại Đại Học Massachusetts, tôi đã ngõ ý với La Ronda, người nữ đồng nghiệp, dành cho tôi nửa tiếng đồng hồ. Tôi kể đến buổi hội luận mà tôi sắp  sửa có mặt và tầm mức quan trọng của cuộc thuyết trình.. Về phía những người đến từ trong nước,  họ đã có sẵn thông dịch viên. Còn chúng tôi phải tự một mình xoay sở bằng môi miệng mình nhưng ngôn ngữ người. Đây là một danh dự, không phải cho riêng cá nhân tôi, mà cho một tập thể.

 

La Ronda đồng ý. Cô viết tờ giấy với hàng chữ : “Room in conference, don’t bother” và dán ngoài cửa phòng. Sau đó cô ngồi đối diện, nghiêm trang như một cô giáo. Trên bàn là sổ tay, và cô cầm cây viết chì, sẵn sàng ghi note. Trong kinh nghiệm nghề nghiệp tôi là người đi trước cô, nhưng bây giờ tôi là học trò của cô. Thú thật, tôi đã từng nhiều lần đứng thuyết trình và đã từng trải qua khoá học về kỹ thuật thuyết trình, nhưng chưa bao giờ tôi lại lo âu như lần này. Tôi nhìn chăm vào cô và nghĩ là đang nói trước một cử toạ đông đảo. Tôi đọc chậm và rõ. Cô không nói, chỉ note trên trang giấy. Cuối cùng sau tám phút đọc, tôi ngước nhìn cô. Tôi thấy đôi mắt cô đỏ và long lanh nước mắt. Cô khóc. Cô nói so wonderful. So wonderful… Sau đó, cô đã chỉ tôi vài chỗ cần thiết để nhấn giọng hay ngừng lại. Cô đã làm cho tôi tự tin hơn bao giờ.  Dù vậy tôi cũng không thể đo lường được con tim của cô. Có lẽ cô nói để khuyến khích tôi, giúp cho tôi tự tin hơn hoặc vì phép lịch sự giữa những người đồng nghiệp với nhau.

                                    oOo

 

Ba giờ rưỡi sáng, tôi lên xe rời thị trấn. Phải mất 5 tiếng đồng hồ lái xe mới lên Boston. Những người trên ấy muốn tôi lên càng sớm càng tốt để gặp nhau chuẩn bị. Trời đầy sương. Đôi mắt ráo khô, thần kinh căng thẳng. Tôi kéo cửa kính xe xuống. Gió sớm mơn man. Chỉ những cột đèn bầu bạn. Chỉ có thành phố ngái ngũ. Chỉ có con đường xa lộ dài hun hút, và những mảng đèn pha mờ nhạt trong sương.

 

Vâng, thì lên đường. Ngày xưa, tôi có những chuyến đi về sáng như thế. Nhảy vào mật khu, tiếp viện hay tăng phái cho một chiến trường. Nhưng ngày xưa, bên tôi là đồng đội, là súng đạn, là những dắt dìu, bảo bọc nhau… Ngày xưa, nửa đêm kẻng dục quân ra trận. Kinh động cả lòng đêm tối bưng. Nhận lấy ba ngày cơm gạo sấy. Không buồn chỉ một chút bâng khuâng.(thơ THT) Ngày xưa, và bây giờ có khác gì đâu. Bởi vì từ lâu nay, cái nơi ấy vẫn được xem là nơi bất khả xâm phạm, không một nhà văn nhà thơ Việt Nam hải ngoại nào được quyền nói lên tiếng nói. Bởi vì nói đến văn chương chiến tranh, người Mỹ chỉ biết đến những cuốn sách của Bảo Ninh, Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Thu Bồn, Hoàng Phủ Ngọc Tường, Dương Thu Hương, Nguyễn Quang Sáng. Không ai biết giòng văn chương miền Nam thời chiến qua 35 năm lâm chiến… Chẳng ai cần biết một kho tàng sách báo bị đốt hủy. Chẳng ai biết một nền văn học lẫy lừng hừng hực lửa, trái phá đã bị bức tử. Nơi này chỉ dành một Lê Lựu, Ngụy Ngữ, Nguyễn Quang Sáng, đã một lần đến đãy, rồi trở về nước viết bài chửi rủa mạt sát những người văn nghệ sĩ hải ngoại không chừa một mống.
Chẳng ai cần thắc mắc về sự thật của những cây viết mà họ xem là trung thật về chiến tranh như Bảo Ninh khi tả cảnh toán thám báo đột nhập mật khu bắt ba chị nuôi hãm hiếp rồi trấn nước, trong khi vai trò của thám báo chỉ săn tin, phối kiểm tin tức tình bào, phải tự mình bảo vệ lấy mình giữa lòng địch. Chẳng ai cần thắc mắc một Ngụy Ngữ, nhà văn một thời mang bộ đồng phục miền Nam, được miền Nam ưu đãi, không đi tác chiến một ngày lại bôi nhọ chửi rũa lính miền Nam gọi thương phế binh miền Nam là bọn què quặt, kể lính rằn ri mỗi lần về phố là quan xá đóng cửa cài then, nhục mạ thậm tê người đã chết là cố đại úy Nguyễn văn Đương là tên sĩ quan dù.. ngay trên những số báo Vấn Đề do Vũ Khắc Khoan và Mai Thảo chủ trương…
Vâng, họ đã bị lừa bịp bởi những nhà văn thiếu tư cách mà họ không hề biết.

 

 

Tôi đã dừng tạm ở một Trạm Nghỉ. Quá mệt, và quá buồn ngủ.. Trời đã sáng. Tôi lên đồi cây. Đứng yên. Trong nỗi cô liêu hiu quạnh, với những hàng thông, hàng sồi san sát, với màn sương còn che khuất những dãy núi bên kia đường, tôi lại liên tưởng đến bạn bè đồng đội của mình. Những thân cây che chở mạng người.  Những hòn đá câm. Và mây trắng như ngày xưa chứng kiến những con ngựa chiến chinh bay về trời. Mười mấy năm chiến tranh đã hàng hàng lớp lớp những con ngựa bay về trời như thế. Tức tửi.                      

                                  oOo

 

Xin được đi lại một đoạn  của bài tôi thuyết trình:
 

“Quí vị hỏi tôi viết gì. Trước năm 1975, tôi viết về cuộc chiến tranh, trong đó tôi và thế hệ của tôi đã lao vào, đã chiến đấu, đã bảo vệ cho quê hương tôi. Tôi viết bằng ngay cả máu lệ của chính bản thân mình. Có những bài văn tôi viết trong hầm phòng thủ. Có bài tôi viết khi bằng cảm giác hơn là lý trí. Đó là lúc tôi trùm poncho, trùm cả chiếc mền, bật đèn pin và viết trong giờ chờ giặc. Khi ấy, cảm giác đã đẩy ngòi bút, và hơi thở của tôi điều khiển tôi. Có bài tôi viết khi nằm trong bệnh viện, giữa những tiếng rên la quằn quại của những người lính thuộc đại đội tôi. Tôi đã hiểu thế nào là tiếng nổ của trái phá, và sự khủng khiếp của nó là như thế nào. Tôi muốn dùng những kinh nghiệm có thật của mình để nói về một cuộc chiến quá dài, quá kỳ lạ, tàn bạo hơn bất cứ cuộc chiến nào trên thế giới mà khí giới được nhập từ Nga Sô Trung Cộng và Hoa Kỳ. Nhưng trong tiếng gào thét của chiến tranh ấy, giữa những trang đầy máu của hai phe, và thêm những xác của trẻ con vô tội, tôi cũng viết về những điều hết sức kỳ diệu mà tôi đã gặp trong chiến tranh. Đó là lòng từ tâm của người lính VNCH. Điều ấy tôi đã được thấy khi sau khi một trận đánh kết thúc. Đó là lúc vai trò người lính của tôi không còn nữa mà nhường lại là vai trò của người viết văn. Tôi đã thấy lính tôi mời tù binh những điếu thuốc hay dìu họ lên trực thăng để tải về quân y viện. Tôi đã thấy trong bệnh xá những người thương binh Nam và Bắc ngồi lại nhau để chơi cờ, đàn hát cho nhau nghe những bài tình ca. Tôi đã hiểu là dân tộc tôi quá hiền từ thời đại này qua thời đại khác. Từ đó tôi tin rằng ai cũng có con tim. Rồi sẽ có một ngày người Nam kẻ Bắc sẽ bỏ hết hận thù sẽ quên đi quá khứ, bởi vì tuổi trẻ chúng tôi chỉ là những nạn nhân từ các thế lực chủ nghĩa. Một ngày nào, chúng tôi sẽ vùng dậy, sẽ lột mặt những tay đồ tể chiến tranh, sẽ nối lại vòng tay như qua bài hát cuả Trịnh Công Sơn: Từ Bắc vô Nam nối liền cánh tay. Nhưng giấc mơ của một người viết văn ấy đã bị tan vỡ sau 1975. Bởi vì tôi đã nhận ra rằng cái hậu quả của chiến tranh đã không ngừng lại ở đây, để đồng bào tôi, bạn bè con cháu tôi được sống an ổn trong những ngày hoà bình còn lại. Mà trái lại, đồng bào tôi lại trở thành một nạn nhân của hậu quả khác. Hậu quả từ những trái tim được nuôi dưỡng bằng một thứ chủ nghĩa chỉ được xây dựng bằng căm hờn và bạo lực. Đó là chủ nghĩa Cộng Sản.

Thưa quí vị,

Tôi có thật nhiều điều để muốn tỏ bày cùng quí vị về một nỗi đau khổ khủng khiếp của một người viết văn. Đó là lúc anh ta muốn viết mà không dám viết, muốn nói mà không được nói. Quí vị được may mắn là có thể viết tất cả những gì mà quí vị muốn, trình bày tất cả nỗi buồn vui của quí vị cùng độc giả. Nhưng có một nơi, văn chương được xem là một tai họa. Người ta đã tìm mọi cách để tận diệt văn chương. Bằng chứng, riêng cá nhân tôi, đây là những đứa con tinh thần của tôi, không phải tôi mang từ quê hương tôi qua, mà tôi đã thu thập chúng từ một thư viện của đại học Cornell Hoa Kỳ. Chúng vẫn còn sống sót cũng như bản thân tôi vẫn còn sống sót sau một cuộc chiến, sau những năm tháng tù tội.  Vâng tôi là kẻ được may mắn được thoát khỏi cõi im lặng khủng khiếp ấy. Nhưng còn biết bao nhiêu người viết văn làm thơ khác của miền Nam với biết bao công trình văn chương đồ sộ của thời chiến tranh. Họ đã mất tiếng nói. Họ đã bị quên lãng bởi loài người. Họ không được nhắc nhở.  Bằng chứng là hôm nay, quí vị không thấy họ mà chỉ thấy những người viết văn làm thơ trong hàng ngũ thắng trận. Như vậy đâu là công bằng, đâu là tiếng nói trung thật của văn chương, nhất là nền văn chương về chiến tranh VN?

 

                               oOo

 

Khi chúng tôi chuẩn bị ra về, thì một người đàn bà bản xứ đã tiến đến bên tôi. Trên tay bà vẫn còn cầm cuốn sổ tay ghi những note. Bà ngước nhìn tôi. Và tôi bỗng thấy lại đôi mắt của La Ronda. Cũng đỏ hoe. Cũng ngấn lệ. Bà cám ơn tôi. Một tay bà đưa ra và siết chặt lấy bàn tay tôi. Bây giờ tôi mới hiểu rằng La Ronda không phải nói để lấy lòng tôi như phép lịch sự của những người đồng nghiệp với nhau.

 

TUẦN BÁO KHỞI HÀNH VÀ TÔI

Người viết: Trần Hoài Thư

 

khoihanh-bia4 (1)

  1. Chọn mặt gởi vàng
    https://tranhoaithu42.com/2014/10/10/khoi-hanh-va-toi-chon-bao-goi-bai/
  2. Nhân vật người lính
    https://tranhoaithu42.com/2014/10/16/khoi-hanh-va-toi-nhan-vat-nguoi-linh/
  3. Hội văn nghệ sĩ quân đội
    https://tranhoaithu42.com/2014/10/19/khoi-hanh-va-toi-hoi-van-nghe-si-quan-doi-bai-ba/
  4. Phản chiến, phản bội hay…
    https://tranhoaithu42.com/2014/10/25/khoi-hanh-va-toi-phan-chien-hay-phan-boi-bai-bon/
  5. Nhân một bài viết của Dương Nghiễm Mậu
    https://tranhoaithu42.com/2014/10/28/khoi-hanh-va-toi-nhan-mot-bai-viet-cua-duong-nghiem-mau-bai-5/
  6. Đọc KH trên trần nhà
    https://tranhoaithu42.com/2014/10/29/doc-khoi-hanh-tren-tran-nha/
  7. Khi chúng tôi lên tiếng
    https://tranhoaithu42.com/2014/10/30/khoi-hanh-va-toi-khi-chung-toi-len-tieng-bai-sau/
  8. Cái chết của một tuần báo văn học miền Nam
    https://tranhoaithu42.com/2014/11/04/khoi-hanh-va-toi-cai-chet-cua-mot-tuan-bao-bai-8/

 

 

Ra Biển Gọi Thầm: Niềm Đau Của Thế Hệ Lớn Lên Trong Thời Chiến

 

Bài của Lê Tạo

Lời chủ Blog: Bài  nhận định này được viết cách đây khoảng 20 năm, trong thời gian nhóm Ô Thước và tuần báo văn học nghệ thuật Liên Mạng đầu tiên xuất hiện, càng ngày càng lớn mạnh, qui tụ những người viết đủ thành phần, khuynh hướng và tuổi tác. Số lượng người đọc rất đông đảon có khi số người ghi danh  lên đến 10,000 người ! Chúng tôi xin được đăng lại để bạn đọc có cái nhìn rõ hơn về một tác phẩm dưới cái nhìn của người phê bình trẻ không thuộc thế hệ chiến tranh. 
Tưởng cần ghi chú Lê Tạo là tên thật của nhà phê bình Đoàn Nhã Văn .

 

 RaBienGoiTham

Tập truyện Ra Biển Gọi Thầm của Trần Hoài Thư gồm hai mươi truyện ngắn. Trong đó có bốn truyện ngắn viết trước 1975 và được sửa chữa viết lại ở hải ngoại. Lớn lên trong thời loạn ly của đất nước, ông cũng như phần lớn những người cùng thế hệ đều là những người lính, những người lính thực sự, sống chết từng giây từng phút ở chiến trường. Là người lính, sống và đổ máu cho quê hương, mang trên mình những vết tích của chiến tranh, những nổi đau nghiệt ngã của đất nước nên những truyện ngắn của ông phần lớn mang những hình ảnh, tâm sự của người lính lúc còn cầm súng hay những vết sẹo ngàn đời, những ám ảnh khôn nguôi, những quá khứ tang thương sau cuộc chiến.

Chiến tranh là lò hủy diệt con người, là nơi người lính đối diện với cái chết từng phút từng giây. Mới vài tiếng đồng hồ trước, họ có thể nói cười nghiêng ngửa, tán phét tứ tung, thì vài tiếng sau có thể họ phải để lại một phần thịt xương của chính mình trên trận địa hay ra đi mắt còn chưa kịp nhắm. Và thật may mắn, bên cạnh người lính, Trần Hoài Thư còn là nhà b áo, nhà văn. Cho nên khi viết về cuộc chiến vừa qua, ông luôn bày tỏ lòng mình một cách rõ ràng, minh bạch. Hơn thế nữa, ông luôn chờ đợi những nhà văn, và cũng là người lính bên kia chiến tuyến viết trung thực về một cuộc chiến mà ông và họ đã cùng tham dự. Ông viết, “Từ lâu, người ta chờ đợi những tác phẩm viết về chiến tranh Việt Nam bằng ngòi bút trung thật, vượt khỏi định kiến, guồng máy, lập trường, từ những nhà văn miền Bắc…” (Đối thoại với một nhà văn trong hàng ngũ thắng trận, trang nhà của Trần Hoài Thư tại Saigonline. com). Chiến tranh đã đi qua. Còn gì để giấu diếm. Sao không nói sự thật! Nói thật để thế hệ đi sau khỏi xa vào vết đổ của người đi trước. Nói thật để giảm thiểu những khổ đau chồng chất, để học quá khứ sau lưng mà bước về tương lai trước mặt. Trong tinh thần đó, chữ nghĩa của ông được viết ra từ những rung động thực của con tim. Vì thế, theo tôi, những truyện ngắn trong Ra Biển Gọi Thầm được ghi lại từ đời sống thực của ông, của bằng hữu, của những cảnh tai nghe mắt thấy. Lối viết này là lối viết người thật việc thật.

Viết theo hướng người thật việc thật dễ mà khó. Bởi đã thật thì không cần màu mè mây nước. Không màn đến hoa lá xum xoe. Lối viết này dựa vào cốt lõi của con người, của sự việc. Bút pháp mà họ xử dụng phải là bút pháp thật trần trụi và giản dị mới làm nổi bật câu chuyện. Đây là một loại viết văn ngắn, gọn, không dùng nhiều tính từ để tô vẽ… Chữ nghĩa làm bật lên sự chuyển động chứ không phải phơi bày, mô tả sự chuyển động. Chữ nghĩa đưa cảnh thật vào cõi lòng và ở lại với người đọc chứ không phải xếp thành từng hàng, vô hồn như bức tranh chụp vụng. Nó đòi hỏi người sáng tác một sự nhạy bén cần thiết và chữ nghĩa phải tôi luyện đúng mức mới làm sáng vấn đề. Nếu không, câu cú sẽ chỗ này chênh vênh, chỗ kia khập khễnh, khi đứt khúc, lúc gãy đoạn khó thu hút người đọc. Do đó, càng dùng nhiều tính từ, chữ nghĩa dễ làm mờ đi điểm trọng yếu. Càng dùng nhiều tính từ người viết càng dễ trở thành người thuyết minh. Mà nghệ thuật thì không cần thuyết minh, giải thích. Bởi độc giả ngày nay rất nhạy bén trong khi thưởng ngoạn. Họ là những người trọng chữ nghĩ a, yêu nghệ thuật. Do đó cái hay của tác giả họ sẽ nhận thấy ngay. Còn người không yêu nghệ thuật thì khó mà nuốt nổi những tác phẩm nghệ thuật. Vì thế, dù tác giả có cố công giải thích thì cũng bằng thừa.

Khi viết về người lính trong cuộc chiến, Trần Hoài Thư đã xử dụng lối viết sắc cạnh này.

Tôi vùng dậy chạy. Đạn rít dưới chân. Đạn xẹt trên đầu. Tôi nhào lộn. Lê lết. Bò trườn. Tôi nhào xuống bờ suối. Đạn đuổi theo. Nó canh kỹ. Ló đầu ra. Tắc bùm. Thụt đầu vào. Chạy. Lăn. (Nhật ký hành quân, trang 135). Không diễn tả đậm đặt. Không thuyết minh dài dòng. Không tính từ để tô vẽ lòe loẹt. Câu văn ngắn củn, bật lên sự chuyển dịch trong từng tích tắc đồng hồ, ga y cấn, nghẹt thở.

Nói đến chiến tranh, phải nói đến tổn thất, thương vong, chết chóc. Dù không muốn nghĩ đến nhưng sự thật vẫn là sự thật.

Họ nằm đấy, mỗi người có kiểu thế riêng. Người thì nằm ngửa, người nằm sấp. Người co quắp lại như con tôm. Người nằm giang hai tay hai chân thanh thản. (Thư về người đồng đội cũ sau 25 năm thất lạc, trang 75). Những cái chết rõ mồn một giữa thanh thiên bạch nhật. Những cái chết không hề định trước. Hậu quả trận chiến bị lột trần, gây nên cái nhờn nhợn trong lòng người đọc.

Cái đau thể xác của người lính trong chiến tranh được ông diễn tả một cách sống động và đầy khốc liệt.

Hắn vùng vẫy, rên xiết, thét gào. Tiếng la dội cả một không gian hừng hực khói lửa và nắng mặt trời tháng năm. (Thư về người đồng đội cũ sau 25 năm thất lạc, trang 80).

Cả chân tôi bị dập bởi một trái lựu đạn nào đó được quăng lên từ dưới hang đá. Và cả bả vai, cánh tay tôi nữa. Tôi nằm yên không cựa quậy, tênh hênh trên bãi trống trải. Tôi la gào, tru tréo. (Vết thương không rời, trang 119).

Là người lính, không phải ai cũng anh hùng! Dĩ nhiên ai cũng sợ cái chết. Có những cái chết đi vào lịch sử, cũng có những cái chết đi vào quên lãng. Có những cái hèn, chết. Cũng có những cái chết, hèn. Và cũng có những cái chết vì cái hèn của đồng đội. Trong truyện “Vết thương không rời”, nhân vật xưng tôi bị thương, chiến hữu của ông, Minh, cũng bị thương, mặt đỏ hồng, dính cả máu. Giữa trận địa, chết với sống không còn biên giới. Nước rặt mới biết cỏ thúi. Ai anh hùng, ai hèn hạ cũng được đánh giá ở những giây phút tử sinh. “Tôi van lơn hắn: Minh, tao không thể bò được. Rán cứu tao. Minh trườn tới bên tôi. Hắn tiếp tục cầu khẩn tôi, Tân mày rán đưa tay mày cho tao kéo tiếp… Mày xem, làm sao tao có thể cõng mày được. Rán đưa tay tới tao… mày thương tao gắng trườn tới một thước…” Hoàn cảnh của bạn đáng thương như vậy. Tấm lòng hắn đáng phục như vậy. Thế mà “tôi” chỉ biết có tôi. Tôi chỉ sợ tôi chết, “Tôi chửi hắn. Đ.M mày. Mày hèn lắm. Đối với Việt Cộng mày dám cởi quần nó, còn đối với bạn mày, mày lại hèn, hèn lắm.” Chính cái chửi như tát nước vào mặt đó, là nguyên nhân đưa đến cái chết của bạn “tôi”. Ai hèn? câu hỏi không cần câu trả lời. Tàn cuộc chiến, “tôi” còn sống, bạn “tôi” đã gởi lại xác thân, đi vào miền miên viễn. “Tôi đã xúc phạm danh dự của anh. Và tôi biết anh đã chết vì tiếng chửi này. Tôi biết tôi phải ân hận suốt một đời.” “Tôi” là ai? Là thiếu úy Tân, là “Ba cận thị”, là Năm Râu — những nhân vật trong tác phẩm, hay là một người lính nào đó trong muôn vàn những người lính trong chiến tranh? Mà cần gì phải truy nguyên, cần gì phải tìm kiếm. Trong hàng ngũ nào mà chẳng có người anh hùng, kẻ hèn hạ, mà nhất là trong chiến tranh. Điều quan trọng là có thấy mình “hèn” hay không. Ở đây, cái “hèn” được nhìn nhận một cách trễ tràng, nhưng trễ vẫn hơn là… không bao giờ. Dù sao đi nữa cũng là lời kinh sám hối, lời thống khổ trong tận cùng tim can của người còn lại. Còn bao nhiêu người nữa chưa nhận biết được cái “hèn” của mình trước vong linh những chiến hữu đã ra đi? Chỉ có những người tham gia cuộc chiến vừa qua như Trần Hoài Thư và những người cùng thế hệ mới có câu trả lời. Viết được cái hùng đã khó. Làm bật được cái “hèn” còn khó gấp đôi.

Là người lính, Trần Hoài Thư thấm được cái đau của chính ông, của đồng đội ông. Một cái đau khởi từ thịt da rồi dần dà ăn sâu vào tận xương tủy, thấm đến tâm can. Nỗi đau đó còn bị tác động mạnh bởi bao nhiêu kẻ buôn xương bán máu người lính. Họ là những kẻ đứng ngoài chiến tranh, hay nói cách khác họ chỉ là những kẻ chỉ biết “mượn áo lính để tiến thân, chưa bao giờ ra trận một ngày mà hùng hổ la gào.” (Ra biển gọi thầm, trang 77). Vì thế, làm gì họ biết đến cái đau của người lính. Có khi chỉ cần nghe tiếng súng thì són đáiỉa trong quần. Chỉ một tiếng nổ thảng thốt là đã thấy chúng nằm rẹp xuống đất hay chạy ẩn sau bờ mương, bờ đất tự lúc nào. (Vết thương không rời, trang 106).

Trần Hoài Thư viết về nổi đau của chính ông và của những bạn bè cùng thế hệ trong cuộc chiến với một trái tim rung động. Chính vì thế, chuyện của ông lôi cuốn. Người đọc cùng thế hệ của ông nhìn thấy đâu đó hình ảnh của chính mình. Ông đưa họ đi từ địa danh này đến địa danh khác, từ mặt trận này đến mặt trận kia. Chuyện của ông trải dài theo nổi khốc liệt của chiến tranh, của tàn phá, của đạn bom, của kinh hoàng, của khiếp sợ, của máu, của nước mắt.

Còn hằng hà sa số những nổi đau của người lính, những mất mát của chiến tranh mà Trần Hoài Thư đã dùng ngòi bút đưa đến cái tận cùng bằng một lối viết hết sức giản dị nhưng rất lôi cuốn. Đây là sự thành công của ông.

Chiến tranh đã qua đi. Tàn cuộc chiến, người lính còn lại được gì?

Sau cuộc chiến, người lính mang nổi đau của kẻ có Tổ quốc nhưng không có quê hương, có đồng bào nhưng lại thiếu tình thương. Họ mang thương tích đầy người. Họ bị xã hội ruồng bỏ. Hoàn cảnh của họ là hoàn cảnh bi đát, ngõ họ đi về gần như là ngõ cụt, bước đến của họ là bước đường cùng. Bàng bạc trong truyện của ông là những cảnh rất tang thương này.

Là người lính bại trận, trở thành kẻ điên trong nhà tù, sống trong cảnh thối tha mà những người bạn tù không thể chịu nổi. Chỉ cần vài nét, ông làm người đọc có cảm tưởng như mình đang sống trong không khí đó, cái không khí nồng nặc, nhờm tởm đến ghê sợ.

Bây giờ các người tù binh trong phòng đã trốn chạy ra khỏi khu nhà tôn. Họ bịt mũi, bịt miệng. Họ nhổ hoài nước miếng. Lưỡi họ lợm. (Người và Quỉ, trang 64).

Sau những đắng cay, tủi nhục, sau những năm tháng đọa đày, cuối cùng, họ cũng trở về. Ngày trở về. Ôi, cái ngày trở về từ những ngục tù đen tối, xác thân họ rách nát một, tâm hồn họ sưng tấy lên đến mười. Họ phải bắt đầu từ đâu, và làm gì để sống? Đây, gia tài của họ sau cuộc chiến.Chiếc xe đạp. Thùng cà rem. Chiếc chuông đồng. Chiếc mủ rơm và chiếc áo lính cũ. (Người bán cà rem dạo, trang 34). Cái đau của họ là cái đau dội ngược từ trong tâm khảm len lỏi giữa các tế bào, rồi tóe tung từng mảng da thịt vì không thể là công dân của một nước, dù rằng nơi đó họ từng oe oe cất tiếng khóc chào đời. Tay chân họ không bị đạn bom cắt nát mà bị chế độ bẻ quặt trong tức tưởi. Họ là những kẻ phải ăn bám vào người thân dù chân tay còn lành lặn. Họ là những kẻ bất lực trước đời thường.

Bên cạnh những người lính, đó đây, ông có nhắc đến cái tủi nhục, khổ đau của những người vợ lính — những người phụ nữ cùng thế hệ với ông — suốt đời hy sinh cho chồng cho con. Và cũng suốt đời hứng chịu những chia ly nghiệt ngã. Chồng họ đối diện với cái chết từng giây thì tim họ cũng quặn thắt từng phút. Đau đớn nhất là khi nghe tin chồng mình tử trận. Còn cái đau nào đau hơn cảnh “Chiều nay đi nhận xác chồng / Say đi để thấy mình không là mình.” Hình ảnh đó được ghi lại qua nỗi nhớ của một cậu bé tuy mới lên sáu nhưng cũng rất rõ nét.

Mẹ hét lên rồi ngã nhào trên nền nhà. Cả nhà đỡ mẹ dậy. Bóp tay chân mẹ. Thoa dầu người mẹ. Một lát mẹ tỉnh dậy. Mẹ tiếp tục gào khóc. Mẹ nói mẹ đi tìm xác bố.” (Bãi chiến, trang 19).

Còn biết bao phụ nữ chịu đựng chia ly trong chiến tranh. Và họ càng đau khổ sau chiến tranh. Đất nước thống nhất không có nghĩa rằng nhà nhà được xum họp, người người được yên vui. Tại sao? Dễ hiểu thôi, bởi “Ở đâu cũng là nhà tù. Và ai cũng chui vào địa ngục.” (Ra biển gọi thầm, trang 144). Vì thế, cái đau của người phụ nữ lớn lên trong thời chiến là cái đau triền miên. Sự chịu đựng của họ quả là quá lớn để gánh vác những oan khiên trùng điệp này.

Ngày đầu tiên em ra ngoài Bắc, anh thấy em gầy guộc, mắt trũng và những đường nhăn trên tráng. Chiếc áo bà ba ngày nào bó thân em, nay như rộng thùng thình. Đôi dép ngày nào thấy bàn chân yếu mềm, nay thấy những gót chân dày dạn, khô nẽ. (Đà nẵng quê em, trang 219)

Ngày em đi thăm nuôi anh, anh đã bắt gặp những sợi tóc trắng lẽ loi trên mái tóc mà ngày xưa như một dòng suối…. Nhưng bây giờ – không những em ở trong hàng ngũ bại trận mà còn có thêm một tên chồng vượt thoát – thì chắc chắn em phải đau khổ đến dường nào. (Những ngày ở đảo, trang 207)

Bàng bạc trong Ra biền gọi thầm, ông có vẽ lại những cảnh đoạn trường này, nhưng hình ảnh chưa đủ đậm. Chữ nghĩa chưa lột tả hết cái đau của thể xác, cái ung mủ của tâm hồn, và vì thế chưa đẩy đến cái xót xa tận cùng của người phụ nữ sau cuộc chiến. Tại sao? Có rất nhiều câu trả lời. Qua lối viết của Trần Hoài Thư, lối viết người thật việc thật, người đọc có thể thấy được một trong những câu trả lời đó. Có thể Trần Hoài Thư chưa chứng kiến những nổi đau nghiệt ngã của họ như ông từng đối diện, từng dựa lưng nỗi chết trong chiến tranh. Hoặc nếu có, cũng chỉ là hình ảnh của một vài người thân quen. Và những hình ảnh này chưa đủ nóng đến độ tạo nên sự “gặm nhắm” tâm hồn ông hay nói cách khác, nó chưa tạo được một chất xúc tác mãnh liệt để giúp ông đẩy vào lòng người đọc những tang thương của thời cuộc, những rát buốt của con người. Lối viết này, đòi hỏi người viết phải có một vốn sống dồi dào, phải cảm nhận được cái rát của người khác cũng là cái rát cháy da cháy thịt của mình. Với Trần Hoài Thư, bốn năm sau chiến tranh, sống trên quê hương, là bốn năm tù đày. Sau thờ i gian tù đày không lâu, ông vượt biên. Vì thế cái đau của người phụ nữ cùng thế hệ mà ông “thấy”, ông “cảm” chỉ mới lưng lửng, nửa vời chứ chưa tràn trề, ngập ngụa, do đó chưa đủ để tạo nên một thứ vết thương không rời, một thứ ám ảnh không nguôi như ông đã từng trong chiến tranh. Do đó ông chưa gọt dũa đến cái cốt lõi của vấn đề. Nên, cảnh co ù phơi bày nhưng thiếu cái hồn cần thiết. Và cũng chính vì thế, ông chưa tạo được những hình ảnh nổi bật, hay đi xa hơn, ông chưa tạo được sự cân bằng trong lối viết này.

Bên cạnh khói lửa, chết chóc, đau khổ của chiến tranh, Trần Hoài Thư còn viết về tình yêu. Đó là những mảnh tình vụn vỡ, đó là những chia lìa tan thương. Viết về tình yêu, ông rất tha thiết, ân tình. Rất nhiều đoạn văn ngọt ngào, xuôi chảy.

Đôi khi, con người chỉ sống cho một thời và cũng chỉ chết cho một thời. Ai biết những trang giấy cứ tô hoài cho một giòng suối tóc. Ai biết, gót chân người nào, đẫm lên lối cuội, tà áo vạt trước vạt sau, mắt nhìn thẳng, tấm thân yểu điệu thon mềm thục nữ, để mình và Tân, Tân và mình. Ai biết con đường đã thấy bao nhiêu lá vàng, lá rụng cuống quít, lá đậu lại dưới gót chân người. (Người về Trăm năm, trang 11)

Tôi đang mềm yếu để nghĩ dến một nụ hôn, một lần gục đầu, một lần cắn bầm da thịt. Tại sao gặp mặt rồi lại chia tay? Tại sao gót chân ai một hôm nào đạp lên khu vườn già nua cũ mục? (Bên này dòng Hudson, trang 30)

Chao ơi, lòng tôi cứa đau, đau đến khùng điên như một vầng trăng tưới xuống quả địa cầu những cơn mưa máu. Con tim tôi nức nở cùng một mảnh trời không đủ màu xanh. Tôi ứa mắt nhìn những người con gái biết nổi buồn rất sớm. Những sợi tóc mai kia không có tôi chim ngưỡng làm sao em cảm nhận tuổi ngọc tuổi hồng. (Cánh bướm của mùa luân lạc, trang 193)

Những đoạn văn trên là những đoạn văn đẹp.

Một nét riêng của ông trong Ra Biển gọi Thầm là đã đưa rất nhiều thơ vào truyện. Trong dòng văn chương ở hải ngoại, có hai nhà văn đã làm điều này. Đó là Kiệt Tấn, người được độc giả biết nhiều qua tác phẩm Nụ cười tre trúcEm điên xỏa tóc, và nhà văn Trần Hoài Thư. Kiệt Tấn đi tiên phong trong lối viết này nhưng lại trích dẫn quá nhiều thơ của nhiều tác giả, nên cốt truyện của ông đôi lúc bị loãng. Trái lại, Trần Hoài Thư dùng nhiều thơ của chính ông, trừ truyện ngắn cuối cùng, điều này sẽ được nhắc đến phần sau. Trong hầu hết các truyện ngắn, ông dùng thơ để nói lên điều ông muốn nói, để diễn đạt đủ cái ông cần diễn đạt. Cho dù đôi khi hình ảnh hay ngôn từ chưa đủ sắc cạnh nhưng được đặt đúng chỗ, đúng lúc làm thư g iản tâm hồn người đọc khi cùng tác giả bước vào những thực tế nóng bỏng của chiến tranh. Tôi xin đơn cử vài đoạn thơ ngắn sau đây.

Một buổi quân dừng qua xóm nhỏ
Mẹ run run mời một bát canh đầy
Bát canh hẹ cho ngọt ngào gạo đỏ
Con chan vào từng muỗng nhỏ mà say

(Vết thương không rời, trang 115)

Dù ngại một lần rồi sẽ ngã.
Ta dắt đàn con nhỏ chắt chiu.
Về thăm gò mã, thăm kênh rạch.
Thăm những oan hồn đang hẩm hiu
.

(Nhật ký hành quân, trang 132)

hay

Ngày cuối anh tìm nơi quán nhớ.
Ngồi thật lâu và thật lặng yên.
Cô hàng ơi thành này mấy cửa.
Có cửa nào cất giữ con tim?

(Tháng bảy mưa ngâu, trang 181).

Và còn rất nhiều những khổ thơ ngắn như vậy đó, đây trong truyện của ông. Vì thế, khi viết về chiến tranh, viết về người lính, viết về những mối tình chớm nở, vội tan trong thời chiến, truyện của Trần Hoài Thư khó mà lẫn lộn với những nhà văn khác.

Bên cạnh những điểm mạnh, người đọc thấy có đôi chỗ chưa đạt, hay nói rõ hơn là chưa cân xứng trong lối viết của ông khi sử dụng thi ca trong vác truyện ngắn. Vì thể đã làm mờ đi phần nào cái sắc xảo mà ông đã tạo được cho mình trong suốt tác phẩm. Có thể đơn cử bằng truyện ngắn cuối cùng. Trong truyện này ông đi lại nguyên bài thơ của một tác giả khác. Đây là con dao hai lưỡi trong nghệ thuật. Bởi nghệ thuật có qui luật riêng của nghệ thuật. Qui luật của nó là sáng tạo, sáng tạo và luôn luôn sáng tạo. Tác giả là người tìm tòi cái mới để hiến dâng cho độc giả. Nghĩa là cái trước chỉ là điểm tựa để đi đến cái sau, và cái sau lại là điểm khởi hành để đi đến cái sau nữa. Nghệ thuật không chấp nhận sự dừng lại, bởi dừng lại đồng nghĩa với thụt lùi, hay xa hơn là đi vào con đường dẫy chết. Do đó nghệ thuật đòi hỏi phải mới mẻ. Vậy mà Trần Hoài Thư để lọt chi tiết này vào truyện cuối cùng. Điều này chẳng khác nào ông vô tình cho độc giả thấy ông đang cắt một phần của bứt tranh cũ, mà ông ưng ý, rồi dán lên một bức tranh mới. Trong khi đó, bức tranh mới, Ra Biển Gọi Thầm, không cần một phần bức tranh cũ vẫn đẹp, nếu không muốn nói là đẹp hơn. Lổ hổng do chính tác giả tạo ra lại nằm ngay vào truyện cuối cùng, trang cuối cùng, trước khi gấp sách, làm cho người đọc có cảm tưởng là ông bị… hụt hơi. Điều này, theo tôi, đã làm cho bản văn có phần giảm đi giá trị của nó. Tuy nhiên, cũng chính điểm này, người đọc thấy ở Trần Hoài Thư một điều rằng: ông không hề kềm hãm, cân nhắc, mà ngược lại cứ thân tình dàn trải mọi rung động dưới ngòi bút của mình.

Tóm lại, trong những truyện ngắn viết về những cảnh tượng trong cuộc chiến, Trần Hoài Thư đã thành công với lối viết gẫy gọn, trần trụi và sắc cạnh. Rất nhiều người đã viết theo lối nầy nhưng rất ít người thành công. Tuy vậy, khi viết về người và việc sau cuộc chiến, hay hậu quả của cuộc chiến, tuy lời văn có thiết tha nhưng chữ nghĩa thiếu cái gân guốc cần thiết, do đó chưa mổ xẻ đế n cái tận cùng của mất mát, đớn đau, hay cái nghiệt ngã trùng trùng mà những người phụ nữ cùng thời phải gánh chịu. Đôi chỗ, người đọc thấy ông như bị…đuối! Trần Hoài Thư bị khựng lại, bị hụt hơi? Với sức sáng tác sung mãn như hiện nay của ông, tôi không nghĩ vậy. Tuy nhiên bản văn đã cho thấy điều đó, trong một vài chỗ. Vậy câu trả lời là gì? Tôi chưa có câu trả lời. Tôi tiếc cho ông. Tôi tìm kiếm, tôi xục xạo đó đây mong tìm ra một lời giải đáp thỏa đáng. Nhưng làm sao người đọc có thể tìm ra được ngọn nguồn. Chỉ có tác giả mới có câu trả lời bởi họ là người tạo ra tác phẩm bằng lối đi riêng của mình bởi chữ nghĩa, bởi văn phong. Lời tâm sự của ông có thể giải thích một phần nhỏ nào cho vấn đề. “Mỗi lần đặt bút lên là lòng tôi lại quặn đau. Tôi không dám kể hết những gì mà chiến tranh đã gây nên. Tôi không thể không quằn quại khi khui lại, mở lại những sợi gân đã buộc chặc vết thương.” (Đối thoại với một nhà văn trong hàng ngũ thắng trận, trang nhà của Trần Hoài Thư tại Saigonline. com)

Ngắn gọn, qua tập truyện ngắn Ra Biển Gọi Thầm, người đọc sẽ thất vọng nếu chỉ chủ tâm đi tìm những từ ngữ mới mẽ, những tiếng lấp láy lạ lẫm, hay lối dựng truyện lắt léo, cầu kỳ. Tuy nhiên người đọc hiểu được tấm lòng của ông đối với đất nước, với thời cuộc, với bạn hữu, với văn chương, và nhất là muốn gởi cho thế hệ sau những sự thật của c hiến tranh, chứ không phải những dựng đứng, những tô hồng, những bôi đen bởi chủ nghĩa, bởi lãnh tụ. Người đọc thấy được trái tim mẫn cảm với người, với đời của ông xuyên suốt tác phẩm.

Hơn hai mươi năm đã đi qua, vết thương thể xác đã khép miệng nhưng vết thương của tâm hồn biết đến bao giờ mới lành lặn. Mà dù cho vết thương có lành thì muôn đời chỗ cắt vẫn còn đau. Niềm đau của ông cũng là niềm đau của cả một thế hệ lớn lên trong thời buổi ngặt nghèo của đất nước.

Lê Tạo

THƠ BỐN CÂU – CỦA TRẦN HOÀI THƯ

Tạp Bút của  Mang Viên Long

Nhiều bạn đọc chỉ biết Trần Hoài Thư là nhà văn, ít người biết anh là nhà thơ, đã có thơ đăng trên các tạp chí Văn học uy tín ở Saigon và Huế từ những năm đầu của thập niên 60 với tên thật là Trần Quí Sách.
Tôi cũng là bạn đọc thường xuyên của anh từ năm đầu bước vào ngưỡng cửa đại học ở tạp chí Bách Khoa, Văn, Vấn Đề, Văn Học, và sau nầy trên tuần báo Khởi Hành, Thời Tập, Ý Thức….

Lúc ấy, đọc thơ anh, tôi có cảm giác, Trần Hoài Thư làm thơ thoải mái, dễ dàng quá, giống như khi anh viết truyện. Anh viết truyện nhiều hơn làm thơ (tập truyện đầu tay của anh là “Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang” – 1968), và thường xuyên có mặt trên các tạp chí “khó tính” (mà nhà thơ Cao Thoại Châu gọi là “khung cửa hẹp”) ấy. Thuở đó, sự “có mặt” (dầu chỉ một hay vài lần) ở các tạp chí Văn học như Bách Khoa, Văn, Vấn Đề, Thời Tập không phải là chuyện dễ! Thế nhưng truyện ngắn và thơ của Trần Hoài Thư (Trần Quí Sách) dường như…đều đặn hiện diện bên những tên tuổi lớn của Văn học Miền nam khi anh còn rất trẻ.

Về sau, tôi lại yêu thích những bài thơ “rất bất chợt” (và ngẩu hứng) bốn câu của THT nhiều hơn. Thơ 4 câu của anh như một “hơi thở ra nhẹnhàng” dù với một tâm trạng hiu hắt, buồn!

Ví dụ:

Anh  đã có một thời không tuổi trẻ
Khi hiểu rồi, thì tuổi trẻ đi xa
Chụp tay với, mà lòng thêm nức nở
Một con đò đã gọi mãi không qua!”

(Chụp Bắt)

Hình ảnh “một con đò đã gọi mãi không qua” là con đò đã mãi mãi xuôi dòng về biển! Thời “không tuổi trẻ” của anh, cũng là thời của bằng hữu anh (trong đó có tôi) trong cuộc chiến ngày càng khốc liệt; đã thiêu cháy tuổi thanh xuân, mọi ước mơ và cả tình yêu thương đầu đời của tất cả!

Cho đến lúc “hiểu rồi”, biết đã đánh mất tuổi xuân ngọc ngà hồn nhiên, thảng thốt ngoảnh lại kiếm tìm với bao hy vọng, tiếc nuối, thì “con đò thanh xuân” kia cũng chỉ một lần lướt qua, ghé lại, rồi đã vĩnh viễn “đi xa” tầm tay với của bao người! Tâm trạng “chụp tay với, mà lòng thêm nức nở” cũng là tâm trạng chung của tuổi trẻ ngục tù một thời quê nhà điêu linh (mà nhà phê bình Ban Mai gọi là “thế hệ buồn” *).

Chỉ bốn câu 32 chữ, THT đã phác họa được “chân dung” tuổi trẻ trong gần 21 năm đao binh, chia cách!

Còn đây là thãm cảnh, nỗi lòng chung của kiếp người – không riêng gì ai, trong thời trầm luân ấy :

“Nhà đã trống mà mái tình không đủ
                           Che hiên ngoài thì ướt dột hiên sau
T
ội nghiệp lắm có những người không ngủ
                           Đêm chong đèn thao thức cả đêm thâu!”

(Trống Trải)

Đời đã khổ, nhà đã nghèo, tường xiêu xơ xác, mà “mái tình” cũng không có đủ để sưởi ấm nỗi đơn côi! Loan toan hết chuyện mình, đến đau xót chuyện người – mà “mái tình” để chở che, ẩn trú đôi khi, cũng “thiếu trước hụt sau”!  Gắng “đắp đổi” qua ngày để sống, để tồn tại, tự an ủi lấy mình để hy vọng; nhưng rồi nỗi cô đơn to lớn quá: “ Che hiên ngoài thì ướt dột hiên sau”.

Tội nghiệp lắm có những người không ngủ…”

Chỉ “không ngủ” (hay mất ngủ) không thôi, mà nhà thơ cũng đã cảm thấy thương xót quặn lòng, huống hồ là bao nỗi tai ương đêm ngày đang vây chụp xuống quê nhà? Có “không ngủ” (hay mất ngủ) mới có được nỗi cảm thông sâu sắc đến đêm dài thao thức, đợi chờ…Không có gì khổ tâm, đớn đau, chạnh lòng hơn cho những người mất ngủ khi phải trằn trọc thâu đêm, chờ sáng! Chỉ một câu thơ nầy thôi, tôi như thấy cả một quãng đời dài hiu hắt đơn côi của bản thân, và của bao kiếp người quanh mình một thời khói lửa: “Đêm chong đèn thao thức cả đêm thâu”!

Trước bao đổi thay dâu biển của cuộc đời, có một khoảnh khắc nào đó, nhà thơ đã “hỏi lòng” như thế nầy:

                 “Bến kia, lnh nến đôi hàng
Ph
kia, và nhng con đưng lng im
Nhà kia, đóng c
a im lìm
Sao tôi không đóng n
i nim mui mê?”

(Hỏi Lòng)

Tự hỏi mình, nhưng rồi cũng không tự trả lời cho chính mình – phải chăng đây là tâm trạng bi đác khi con đường trước mặt cũng đã bị “khép kín”, đang đi dần vào ngõ cụt? Hay đó là một sự tự nguyện hiến dâng, mà cho hôm nay, đã ngoài 70, nhà thơ vẫn luôn miệt mài bên trang viết đêm đêm với bao hoài vọng nồng nàn?

Thơ bốn câu của Trần Hoài Thư là một khắc chạm cảnh tình tinh tế, rất “ngẩu cảm”, đơn sơ thôi, nhưng dạt dào cảm xúc; luôn ghi đậm dấu ấn nhân văn trong lòng người đọc!

Quê nhà, tháng 12 năm 2014

MANG VIÊN LONG

văn chương “Đù mẹ” (bài 1)

 

Đù mẹ  là hai chữ cấm kỵ, trong văn chương nhất là trong thi ca.  Nó là tiếng chửi thề. Nhưng nó là một lợai thuốc thần dược để giảm cái tức, nỗi bất mãn, những nín câm của những con ngựa thồ kéo xe, của những con bò con trâu kéo cày trong trại khổ sai…. Chúng là đặc trưng của một lọai văn chương tự do, thể hiện trung thật nhất bản chất của con người. Nó không giả dối, đầu môi chót lưỡi. Nó không phải thể hiện sự vô luân, mất dạy, hay tính anh chị vô học, mà trái lại nó là một sự giải thoát. Những bài thơ được chúng tôi trích đăng trong Thơ Miền Nam trong thời chiến tập I do Thư Ấn Quán sưu tập và xuất bản dưới đây đã chứng tỏ điều này. Chửi thề vì chiến hữu mất. Chửi thề vì hận kẻ bạc tình. Chưi thề vì sự bất công. Chửi thề vì bất mãn. Chửi thề vì cứ hành quân mãi miết khi có những kẻ ở nhà ung dung viết văn làm thơ tán gái….. Chửi thề vì chẳng có ai để chia sẻ:

 

Trần Đắc Thắng

Khóc chiến hữu

      Khóc Trung sĩ Quý, Thành và Thiếu úy Tư

 

Đ.M. Tụi bây chết thật rồi
Ta nghe hồn chết giữa mưa rơi
Bao giờ bây lại ngồi uống rượu
Cùng kể nhau nghe những chuyện rời

Nhớ buổi theo ta đi  đánh giặc
Bây thề mãi mãi ở bên ta
Giờ đây, sao lại đi đâu hết
Bỏ mặc ta đau, mắt lệ nhòa

Bây khóc tình ta trong vắng lạnh
Còn ta đứng khóc với quê hương
Bỗng thấy lòng mình mùa đông xám
Thấy bây đi kích dưới mù sương

Từ đây bây đớn  đau một cõi
Còn ta đánh giặc giữa sa trường
Thương bây chiến hữu ta ngồi khóc
Đau đớn nào dâng với nhớ thương !

 

Phạm Quang Ngọc

 

Ly chiến sĩ

 

đ.m, sao mày không uống đi
mặt con gà chết thấy mà ghê
ngày mai xung trận còn hay mất
phú qúi, công danh, một tiếng khì

tao biết mày buồn, có phải không
được tin em bé sắp đi đoong
thằng này khờ quá, nghe tao phán:
một trái là xong, khỏi lấy chồng

đ.m, còn thằng ngựa chứng kia
uống đi rồi đón, má mày kìa
dăm ba ngày phép về du hí
cơm hẩm ăn hoài chửa-chán-chê

ê, thằng lính cận đấu văn chương
xếp bút, treo nghiên, bỏ mái trường
bàn luận anh hùng, gan cóc tía
Phạm Thái hề, ta cũng chẳng gờm

gươm mài chưa bén , mong chi nguyệt
kệ cứ say đi, mặc chuyện đời
ta chẳng màng đâu, gươm tráng sĩ
một đời lính trận đã phong ngôi

ai như lão trọc Tiêu Sơn ấy
ôm mộ Quỳnh Như khóc một đời
ta chẳng phí đâu giòng nước mắt
chẳng tình, chẳng nghĩa, một ly bôi !

ê, thằng gà chết, sao mày khóc ?
uổng phí hiên ngang cả một trời
lính trận hề chi ba lẻ tẻ
dẫu đời sương khói sắp xa khơi

ê, thằng mắt trắng, ngồi lơ láo
hãy uống cho say một trận cười!
mai lỡ xác thân vùi chiến địa
mà sầu hun hút vẫn chưa nguôi

 

Dã Nhân

 

Uống-rượu-với-duyên
ở Thạnh-phú-đông

 

Buổi sáng buồn tình ta uống rượu
Hình như có nắng ở trên cao
Bạn bè ngồi ghế chưa đông đủ
Không lẽ mời em thế chỗ sao ?

Làm cạn cốc này đi thằng bạn
Để lâu rượu nhạt uống không ngon
Ba năm trôi nổi miền quan ải
Không lẽ mày chưa đủ trí khôn ?

Ta biết mày buồn em lấy chồng
Thì coi như gió thổi trên sông
Tình đâu có đẹp bằng hiên quán
Rượu xé lòng vui Thạnh Phú đông.

Ta có thằng em đi đánh giặc
Bốn năm trấn thủ ở đồn xa
Lâu lâu về phép nâng tay rượu
Ngồi nói nhâm nhi với mẹ già

Những lúc ngồi buồn trên chiến đỉnh
Nắng lên ta thấy nhớ trong lòng
Người yêu tóc xõa tình lưu xứ
Biền biệt chiều xưa mưa trắng sông.

Ngồi hát hò đi bằng hữu cũ
Thời gian bỗng thấy lướt qua mau

Ngày xưa đi học ta nào biết
Chữ nghĩa đâu dùng để đánh nhau
Chinh chiến tạm quên đi thằng bạn
Mềm môi đù má cuộc đời chơi …

 

Linh Phương

 

Hành quân

 

Dăm thằng đánh trận. Dăm thằng chết
Chỉ sót mình ta cứ sống nhăn
Đù má nhiều khi buồn hết biết
Lo mãi sau này cụt mất chân

Mấy tháng hành quân chưa ngơi nghỉ
Tóc tai dài thượt giống người rừng
Kinh kha vác súng qua Dịch Thủy
Thề chẳng trở về với tay không

Chiến hữu ta toàn dân thứ dữ
Uống rượu say chửi đổng dài dài
Bồ bỏ. Tức mình xâm bốn chữ
“ Hận kẻ bạc tình “ trên cánh tay

Chiều qua sém chết vì viên đạn
Du kích bên sông bắn tỉa hù
Cũng may gặp phải thằng cà chớn
Thấy mặt ta ngầu bắn đéo

Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân

Mai mốt này đây nơi trận tuyến
Gặp ta em bắn chớ ngại ngùng
Cuộc chiến đâu dành cho nhân nghĩa
Đời nào đạo lý với bao dung