Hành trình thi ca của Bình Khê (6): Thơ hay…

Dạo này  phương thuốc mầu nhiệm  giúp tôi và nhà tôi  vượt khỏi những tra khảo bởi  định mệnh là  nghệ thuật.

Cám ơn nghệ thuật đã giúp nhà tôi dịu đi, hay quên đi nhựng cơn cuồng điên trí loạn, để  sau đó đôi  mắt lim dim. Và tôi cũng cần cám ơn nghệ thuật để không còn phải chạy trón, mà   được ra về  thong thả sau khi người bệnh ngủ chẳng khác một  đứa bé no nê sửa mẹ – ở đây là sữa nghệ thuật. Continue reading “Hành trình thi ca của Bình Khê (6): Thơ hay…”

Xin tha (tản mạn)

 1.

Một số nhà nhận định cho rằng Bich Khê bị ảnh hưởng  nặng của Beaudelaire.
Tôi rất dốt ngoại ngữ nên chẳng biết  cái bóng của Beaudelaire là lớn như thế nào mà sao mấy vị phê bình văn học cứ  một là Beaudelaire hai là  J P. Sartre….

Nghĩ mả tội cho nhà thơ Bích Khê. Hết bị chê là bắt chước  Xuân Diệu vì làm thơ toàn vần bằng, rồi khi  cố thoát khỏi  cái bóng  của Tàu thì bị đè thêm cái bóng Tây .

Tôi có  bằng chứng. Continue reading “Xin tha (tản mạn)”

Hành trình thi ca của Bích Khê (5): Bích Khê thời 16, 17, 18 với những bài thơ chưa hề xuất hiện

Qua kinh nghiệm làm việc ở AT&T và IBM, Kim Mao Sư vương tôi đã tận dụng khả năng để tìm thêm  những bài thơ của Bích Khê  chưa hề được xuất hiện trên NET, trên sách, như một đóng góp vào việc sưu tập Dòng Thơ Cũ

16 tuổi

(Phụ Nữ Tân Văn số 162 ngày 4-8-1932)

PNTV ngày 24-11-1932

 

 

 

17 tuổi

(Sài Gòn số 199 ngày 31-12-1933)

 

 

(Sài Gòn số 182  ngày 10-12-1933)

 

 

Phụ Nữ Tân Văn 6-4-1933

 

Sáng tác lúc   18 tuổi

 

(Sài Gòn ngày 1 tháng tư, 1934)

bài thơ họa “tiễn chị Ngọc Sương”  đăng trên  báo Saigon  số 227 ngày 4-2-1934.  Ngọc Sương là chị ruột của Bích Khê cũng là một thi sĩ

 

Trên đây là một  số ít bài thơ và văn  do Bích Khê viết lúc ông  ở vào cái tuổi 16, 17 , 18,,. (1932-1934)
Mục đích của việc post này là chứng minh về một con người sớm trưởng thành, có tấm lòng yêu nước, có khuynh hướng xã hội.
Nhưng sau 1937, lý tưởng ấy đã thay đổi 180 độ.
Không còn Đường luật cũng không còn kêu gọi chúng ta phải tranh đấu nữa.
Tôi tự hỏi nếu không có  cái mốc 1937- năm mà Bích Khê bị bệnh phổi phải được dưa ra Huế  để điều trị – không biết có Tinh Huyết hay không ?

Không biết   chúng ta có được đọc những  đoạn thơ như thế này không :

Buồn lưu cây đào tìm hơi xuân
Buồn sang cây tùng thăm đông quân
Ô hay! Buồn vương cây ngô đồng
Vàng rơi! Vàng rơi: Thu mênh mông

 

Chắc chăn là không. Mà ngược lại, ông có thể là một nhà cách mạng, và thi tài của ông dùng để sơn phết màu cờ hơn là dùng cho cái đẹp của thơ.

 

 

 

Hành trình thi ca của Bích Khê (5): Ảnh hưởng của thiên nhiên

Qua sự tìm tòi của chúng tôi cũng như qua  bài viết của người chị Bích Khê – nhà thơ Ngọc Sương – hầu như hai năm, không thấy thơ ông xuất hiện trên các báo.   Đó là năm 1937 và năm 1938.
THời gian trên Bích Khê được gia đình đưa lên núi, sau đó xuống biển để dưỡng bịnh và tịnh dưỡng theo yêu cầu của nhà thơ.  Và  chàng đã tìm ở ở núi và biển là nơi  chốn cực lạc để thơ có dịp tuôn trào. Người chị BK kể:
…Bích Khê chỉ vào núi Bút và nói đùa: Đó là ngọn bút của em đó. Rồi chàng lại bảo chị: Nơi đây là nơi cực lạc của em rồi. Em say mê với cảnh thiên nhiên và nguyện sống ở đây mãi mãi để tận hưởng… Nhưng một thời gian rồi Bích Khê cũng chán cảnh núi, lại ước mong được sống giữa cảnh trời nước bao la. Thế là một lần nữa, mẹ và chị Bích Khê phải chiều chàng, cho di chuyển tất cả vật dụng và cái chòi con về dựng ngay tại ven biển. Chốn cực lạc thứ hai này hiện ra, bao nhiêu vần thơ khác của thi sĩ lại tuôn ra..

Sự im lặng của Bích Khê trên văn đàn chính là  dấu hiệu cho một trận bão. Trận bão ấy, thật sự  trút xuống vào năm 1939, với một số bài thơ  được đăng trên Tiểu thuyết thứ năm. Đó là   5 bài thơ:

ngày đăng:
Trống  giao thừa  ( ngày 9 tháng 2, 1939)
Hoàng hoa  (11-5-1939)
Thu (25 -5- 1939)
Thu (29 -6-1939)
và  Gió lạnh  (6 -7- 1939)

(tài liệu từ Tiểu thuyết thứ năm, tác giả và tác phẩm biên soạn bởi Anh Chi )

Nhưng dữ đội nhất là sự ra đời của thi phẩm Tinh Huyết với tất cả 35  bài thơ  đều  mới !!!

Yếu tố gì đã giúp cho chàng sáng tác một cach khủng khiếp như vậy? Có phải là núi và biển? Có nghĩa là thiên nhiên.

Nếu chúng ta cám ơn BK đã  để lại cho đời  những bài thơ bất tử, thì cũng phải cám ơn 1937 cũng như núi và biển – hai chốn mà nhà thơ gọi là cực lạc – đã giúp nhà thơ có dịp tuôn trào  ào ạt  những đứa con tinh thần bất tử này.
Có phải vậy không ?

Hành trình của Bích Khê (4): mốc khởi đầu của một nhà thơ lớn

Bích Khê là  một thi tài. Ngay vào năm 14, 15 tuổi đã rành thơ đường luật. Năm 16 tuổi, khi còn là học sinh đã có thơ đăng trên báo Phụ nữ Tân Văn:

(NGUỒN: Phự nữ Tân văn  số 162 ngày 4-8-1932.)

Thi tài ấy được biểu lộ qua những bài thơ  phần lớn mang tính chất thời thế, nói lên  tấm lòng yêu nước của tác giả. Ví dụ  bài thơ Dạ Hoài được sáng tác vào năm 17 tuổi:

(Dạ Hoài, nguồn báo Sai gon số 182,  ngày 10-12-1933)

Hay qua những bài thơ Đường luật mà niêm luật rất nghiêm chỉnh chan chứa lòng yêu nước vô bờ .  Đơn cử một bài:

 

(nguồn: báo Sài Gòn số 182  ngày 10-12-1933)

Nhưng  thì tài không  có thể giúp để người thơ trở thành nhà thơ lớn.. Có biết  bao  người có tài làm thơ nhưng mấy ai được nổi tiếng,  được nhiều người nhắc nhở. Thi tài cỡ Bích Khê mấy ai có được, nhưng nếu Bích Khê chỉ quanh quẩn với những vần thơ  khích động lòng yêu nước hay  những, bài  thơ đường  luật  dù  xuất sắc  cách mấy  nhưng  bây giờ – thời đại digital- củng ít ai nhắc hay ngưỡng  mộ như họ đã  dành cho Tinh Huyết.

Vậy thì  lý do gì để giúp Bích Khê trở  thành một nhà thơ lớn ?

Đó là  nhờ vào  cơn bệnh phổi được phát hiện vào năm 1937.

Bởi vì nếu  mà Bích Khê không bị  bệnh phổi thì chắc gì  Bích Khê có được một Tinh Huyết, mà ngược lại, có thể ông trở thành một nhà cách mạng không chừng. Những bài thơ cũ của ông đã  lộ rõ ràng tấm lòng thiết tha với đất nước, dân tộc, chống áp bức, chuộng lẽ phải. ngay từ lúc còn  là học sinh hay sự  đau buồn khôn xiết sau khi nghe Tạ Thu Thâu  bị giết khiến ông phải bật khóc nức nở như qua lời kể của  người chị  ruột.

Nhà thơ Ngọc Sương kể lại về sự chuyển đổi  kỳ diệu về quan niệm cái đẹp  của người em bà  như   sau:

... Một năm sau bệnh lành, chàng về Thu Xà với mẹ thêm một lần, rồi lại đòi lên núi ở. Cái đời của thi nhân cũng như cái đời của trẻ thơ: muốn phải được, muốn là được. Me và chị phải làm cho Bích Khê một cái chòi trên núi Thiên An, và gửi đến ở với chàng một “chú tiểu” để phục vụ con người ngày càng càng khó tính như một cậu con cưng con nhà trưởng giả. Lúc này Bích Khê vui lắm; chàng nói với người bạn đến thăm: “Thật là tuyệt diệu!” rồi chàng tả cái thoải mái của tâm hồn chàng bằng cách chuyển tâm tư qua thiên nhiên cỏ cây hoa lá: chàng giải thích thế nào là cái đẹp cho chị nghe… Chàng hăng say đưa cả cánh tay ra vẽ một vòng bao trùm cả những thắng cảnh đương bày ra trước mắt chúng tôi, đã từng làm tâm hồn thi nhân rung cảm. Mà phong cảnh đẹp thật! Duới chân chúng tôi, từ chỗ “Long Đầu hí thủy”, giải sông rà bọc lấy chân hòn Thiên An khăng khít như tình non nước ấp ủ lấy nhau, tức là thắng cảnh “Thien Ấn niêm hà”. Và xa xa ở phía bên kia hiện ra thắng cảnh “Bút lĩnh phê vân”. Bích Khê chỉ vào núi Bút và nói đùa: Đó là ngọn bút của em đó. Rồi chàng lại bảo chị: Nơi đây là nơi cực lạc của em rồi. Em say mê với cảnh thiên nhiên và nguyện sống ở đây mãi mãi để tận hưởng… Nhưng một thời gian rồi Bích Khê cũng chán cảnh núi, lại ước mong được sống giữa cảnh trời nước bao la. Thế là một lần nữa, mẹ và chị Bích Khê phải chiều chàng, cho di chuyển tất cả vật dụng và cái chòi con về dựng ngay tại ven biển. Chốn cực lạc thứ hai này hiện ra, bao nhiêu vần thơ khác của thi sĩ lại tuôn ra..
(Ngọc Sương – người em : Bích Khê , tạp chí Văn số 64,
nguồn: https://tranhoaithu42.com/van-so-64-nha-tho-bich-khe/)

Như vậy, qua lời kể của người chị, nhờ vào những tháng ngày tịnh dưỡng ở núi Thiên Ấn, quan niệm về thi ca của Bích  Khê thay  đổi hoàn toàn:

chàng tả cái thoải mái của tâm hồn chàng bằng cách chuyển tâm tư qua thiên nhiên cỏ cây hoa lá: chàng giải thích thế nào là cái đẹp cho chị nghe…

Sống là một  chất xúc tác để làm thăng hoa thơ Bích Khê.   Sống gần gủi với thiên nhiên đã giúp ông có những bài thơ  như Hoàng Hoa. Sống trong cô đơn tột độ, để  thần trí của ông chạm đến những lời nhạc Tỳ Bà. Sống trong đau khổ, để ông có những bài thơ mang tên  hai người nữ là  Châu  và Ngọc Kiều…
Cho dù ông có thi tài biết chọn màu sắc, hội họa, hay ánh sáng cho thơ mình đi nữa , nhưng nếu không có năm 1937 thì  có lẽ chúng  chỉ được tô trên những lá cờ hơn là  cái đẹp của thi ca.

Có phải vậy không ?

 

Hành trình thi ca Bích Khê (3 bis):

Lưu ý:
Bài 3 (posted hôm qua)   chỉ là một bài tiểu luận  + tản mạn mà Bích Khê viết lúc 18 tuổi.  Chúng tôi  đã phạm nhiều lỗi chánh tả khi đánh máy. nên chưa phổ biến ra công cộng.
Mặt khác, Mắt dạo này quá yếu, nên đánh máy lõi nhiều.
Vui  thôi mà.

__________

Năm 1937….

Tiểu sử của Bích Khê   cho biết là vào năm 1937, ông bi  bệnh phổi:

“Năm 1937 Bích Khê bị bệnh phổi, sau khi điều trị trở về, lên sống trên núi Thiên Ấn thuộc Quảng Ngãi, tiếp tục sáng tác, rồi lại xuống biển, và lang thang trên một chiếc thuyền quanh các ngã Sa Kỳ – Trà Khúc. Năm 1938, lại cùng chị vào Phan Thiết mở trường dạy học, được vài năm bị thực dân Pháp đóng cửa.”
(nguồn: Internet)

Vậy thì năm 1937 là năm có một dấu ấn rất  đậm.  Ít ra nó cũng là năm mang vào tâm hôn nhà thơ một cú “xốc”,  do từ những con vi trùng Kock.
Nó cũng là năm khởi đầu cho một sự thay đổi  toàn diện của hành trình thi ca của Bích Khê.
Nó là cái mốc  ranh giới giữa cũ và mới..
Qua 4 tác phẩm  của ông để lại cho đời, một được xuất bản vào năm 1939 là Tinh Huyết, còn lại nằm trong dặng bản thảo, chúng ta thấy có một thi phẩm mang tên là  “Dòng thơ cũ” (1931-1936)”.

.Điêì này chứng tỏ  chính năm 1937 là một ải thi cho hai bờ cõi thi ca. Một là bên này và một là bên kia. Bên kia là đạo. Bên này là đời. Bên kia là mộng. Bên này là thực. Bên kia là phần trên, và bên này là phần dưới. Không liên hệ. Không gắn bó.

Tại sao lại là năm 1937 ? đó là năm ông  đóng của một mình trên núi Thiên Ấn. Có thể ông  “ngộ” ra về  những hạt trân châu long lanh của thi ca. Có thể ông là một người lính  trong một đội ngũ của giòng thơ mới gồm Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm… Hay có thể ông bị chìm ngập trong ảo ảnh của những đám mây lạ khi ông  ở  núi.
Vậng, núi thì cao. Mà cao  mây thì thấp, và sương thì dày. Mông mênh, nhẹ , mỏng. TRời hoàng hôn thì đẹp lắm. Có thể ở núi ông thấy một tấm thảm vàng bát ngát khi mặt trời hoàng hôn tắm cả một vùng bình nguyên dưới thấp mà  làm bài Hoàng Hoa chăng…

Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy;
Chim yên neo mình ôm xương cây.
Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:
Đông nam mây đùn nơi thành xa…

Tôi không biết  tôi nghĩ có đúng không . Nhưng tôi biết một điều là chính tôi đã từng trải qua những giây phút ngất ngây khi ở  trên những ngọn núi, ngọn đồi của Bình Định hay cao nguyên…

 

 

 

 

 

Hành trình thi ca của Bích Khê (2)

 

Ngay sau khi  Lê Tràng Kiều  đăng bài giời thiệu về thơ Bích Khê (Lê Mộng Thu)  trên Tiểu Thuyết thứ Năm  số 30 (11-4-1939) :
…Mới đây, các bạn đã được say sưa nghe tiếng Tỳ bà thần ảo. Hãy im, nay tác giả Tỳ bà sẽ cho ta nghe hai khúc ca nữa. Khúc Hoàng hoa và khúc Nghê thường…”

thì Lê Ta (một bút hiệu của THế Lữ)   dùng những lời lẽ nặng nề, một mặt công kích Lê Tràng Kiều, một mặt hạ giá  những bài thơ mà Lê Tràng Kiều giới thiệu,   kết tôi là bắt chước thơ Xuân Diệu :

( Lê Ta, Tin văn vắn, Ngày nay số 162, 20 tháng 5, 1939)

Giận cá chém thớt ?

Xin nhớ là bài chửi của Lê Ta  chỉ xuất hiện vào ngày 20/5/1939, sau khi Tiểu Thuyết Thứ Năm có bài giới thiệu của Lê Tràng Kiều.  Lý do lLê Ta cho là thơ Lê Mông Thu bắt chước Xuân Diệu chỉ dùng vần Bằng.
Tuy nhiên, trước đó, Tiểu Thuyết Thứ Năm đăng bài Tỳ Bà cũng toan âm bằng, thì Lê Ta không hề   dả động !
Hay là ông  “giận cá chém thớt” ? vì không thích Lê Tràng Kiều nên những gì mà Lê Tràng Kiều cho là thơm, thì đối với Thế Lữ đều là hôi cả !

Ôi, thời nào cũng vậy.

 

 

 

Hành trình thi ca của Bích Khê (1)

Người viết:  Trần Hoài Thư

Nhà thơ Bích Khê sinh năm  1916 mất năm 1946, tên thật là Lê Quang Lương. Ngoài bút hiệu Bích Khê, ông còn ký bút hiệu Lê Mộng Thu.

Hầu hết những trang mạng khi  đề cập đến bút danh Lê Mộng Thu, đều viết bút hiệu này chỉ dành khi nhà thơ sáng tác thơ Đường Luật ( tiêu biểu là WIKIPEDIA).

Thật sự là không phải vậy. Bài  “Hoàng Hoa ” (đăng trên Tiểu thuyết thứ Năm, ký Lê Mộng Thu) là một  chứng dụ điển hình:

……

Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy;
Chim yên neo mình ôm xương cây.
Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:
Đông nam mây đùn nơi thành xa…

Trái lâi, bút hiêu Bích Khê  có khi được dùng cho thể thơ Đường Luật.

Xin đơn cử hai bài thơ Đường Luật ký Bích Khê, được  đăng trên báo Sài Gòn ngày 1 tháng tư, 1934, lúc ông 17 tuổi:

 

hay bài thơ họa “tiễn chị Ngọc Sương”  đăng trên  báo Saigon  số 227 ngày 4-2-1934.  Ngọc Sương là chị ruột của Bích Khê cũng là một thi sĩ:

 

Hay là loại thơ đường   vịnh công ơn của tổ tiên trong việc chống đuổi ngoại xâm, bảo vễ bờ cõi:


(bao`Sài Gòn số 199 ngày 31-12-1933)

Mục đíc h của việc trích dẫn một số bài thơ Đường luật (có chứng liệu đàng hoàng)  này là :

1/  nói rõ về sự sai lầm của những  blogger kể cả Wikepedia mà từ trước đến nay chưa có ai lên tiếng.
2/  Muốn chứng minh về  một thời kỳ mà thi tài Bích Khê  bừng rộ  chói sáng như hào quang.  Thời kỳ ấy là thời kỳ  sau khi  những con vi trùng lao bắt đầu tấn công.
Mà cái mốc là năm 1937.