Category Archives: Hồi ức văn chương

Phạm văn Nhàn : Một Tấm Hình. Làm Ta Nhớ.

                                                      Bài viết của Phạm Văn Nhàn 

my portrait

Buồn, lang thang trên blog của bạn bè. Thấy bạn ta có một tấm hình mới chụp. Ta cười vui rất vui. Nhìn lại ta và bạn ta. Những người vượt thoát ra ngoài “thất thấp cổ lai hy “, ngoảnh lại thấy đời qua mau quá nhỉ ?

Phải không, bạn hiền một thời vất vả. Nhiều người, có lẽ nhìn bạn qua tấm hình “tóc bạc trắng phao” mà buồn cho một Trần Hoài Thư ngày nào xa lắm. Nhưng, với tôi thì không. Nhìn bạn tôi thấy vui. Vui như có những con chim sẻ nâu đang vờn xuống sân nhà của ngôi nhà cổ 100 năm, ngày nào tôi lớn. Vui như ngày nào gần 50 mươi năm có lẽ, trong ngôi nhà thuê ẩm hơi mốc vì thiếu bàn tay chăm sóc của con người. Thế mà vẫn vui, vẫn cười. Dù trước mặt chúng ta là một vùng sinh tử đang chờ. Bạn từ chiến trường về. Ta mượn câu thơ trong bài ” Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan: Đôi giấy đinh bết bùn dất hành quân. Bạn trở về nơi ngôi nhà trong khu sáu. Tiền lính tính liền, tình yêu cũng không, nghèo chết xác thế mà vẫn vui trên mái tóc của hai người bạn còn xanh.

Cũng may, đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân quân ấy vẫn còn cho mãi đến hôm nay, Nhìn lại, tôi với bạn, đã vượt ra ngoài khuôn mẫu : thất thập cổ lai hy thì phải vui là phải chứ?

Tôi khoái mái tóc bạc này. Đâu còn một Trần Hoài Thư : ốm o gầy mòn. Lính gì mà ốm quá, chữ của Nguyễn Lệ Uyên dùng để chỉ tôi với bạn. cái tạng người nó là vậy mà. Mập ú na ú nầng làm sao mà lội. Mấy ông ú na ú nầng thì ngồi văn phòng núp bóng. Còn mấy thằng gầy, ăn gạo sấy, uống nước sông nước suối, ba lô súng đạn, nằm bờ nằm bụi thế mới có ngày hôm nay. Không thảnh thơi vui thú rượu bầu, nhưng cũng nghĩ lại ta đã làm tròn xong bổn phận.

Cái tuổi trên ngoài bảy mươi, tôi nghĩ về bạn thôi, không dám nghĩ về ai cả. Bạn đã vượt thoát đến một trình độ : hoàn hảo. Về cái gì? Xử sự và xử thế. Đúng không? Tự nhiên nhìn mái tóc bạc phơ trên đầu bạn. Tôi nghĩ như thế.

Mà đúng vậy, trãi nghiệm qua cuộc đời bạn đã không làm thì thôi. Làm thì đến nơi đến chốn đúng với tâm nguyện của chính mình, ngay thẳng. Không vượt ra ngoài khuôn khổ của đạo.

Không như những cậu thơ quá buồn mà bạn đã làm:……

“Hãy nhìn đầu ta một vùng trắng phủ
Hãy nhìn tóc ta, sợi ngắn sợi dài
Đã gần hai năm bỏ phế tóc tai
Đời thảm quá  lấy ai mà  “trang  điểm ?”
 

Còn chị đấy chứ. Ở cái tuổi ngoài bảy mươi. Bạn cười. Chị vui. Và, tôi đang nhìn thấy bạn cười kia mà. Mặc dù, tôi biết bạn còn trăm cái lo, ngàn cái lo. Lo cho vợ. Từ cái ăn, cái mặc, cái tắm, cái rữa, cái đi đứng, và cách nói chuyện cho chị Yến vui. Cho nên, nhìn bạn mĩm cười. Nhìn mái tóc bạc như ông tiên, đâu cần trang điểm ( một hình thức bề ngoài ) là tôi biết chị Yến sẽ vui và bạn sẽ vui biết mấy. Phải không?  Từ cái vui đó như có bướm hoa xúm xít vờn chơi.

Nhất là ở cái tuổi ngoài bảy mươi. Đỗ Phủ có làm bài thơ : Khúc Giang Nhị Thủ, trong đó có hai câu thơ: ” Nhân sinh thất thập  cổ lai hy. Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến”  Theo bản dịch của Vũ Quốc Huệ : Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi. Bướm hoa xúm xít vờn chơi….

Do đó, nhìn hình bạn, phải nghĩ bạn hôm qua  và ngày nay thì mới biết được hết dược một người bạn. Ngày xưa, mượn mấy câu thơ của Đỗ Nghê :Súng dòn/ Ánh sánh lóe lên/ Đạn đan trên nền trời…Thế mà tụi mình vẫn cười, vẫn vui và vẫn tếu thì hôm nay, tóc trên đầu dù có bạc trắng thì bướm vẫn vờn chơi ở cái tuổi: nhân sinh thất thập cổ lai hy này.

Tôi vẫn thích tấm hình này của bạn , cho nên tôi vui ở cái tuổi như bạn hôm này, mà tức cảnh ( hình) nên lời vậy.

 

Lữ Quỳnh, bạn tôi

 

 

Lữ Quỳnh là bút hiệu của Phan Ngô, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên-Huế. Thân phụ mất sớm, lúc một  tuổi. Tuổi nhỏ phần lớn sống tự lập. Học sinh Quốc Học – Huế, 1959-1962. Dạy học, trường Bán công Vinh Lộc 1962-1963.  Cựu Sĩ Quan VNCH (Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngành HC Quân Y). Đơn vị phục vụ : *Tổng Y Viện Duy Tân – Đà Nẵng năm 1965-66. *Tiểu đoàn 22 Quân Y (SĐ22BB) – Bình Định, năm 1967-70, *Quân Y Viện Quy Nhơn, năm 1971-75. (tài liệu trên Internet)

Tôi và Lữ Quỳnh có nhiều điểm chung. Cùng năm sinh. Cùng cảnh hẩm hiu của một đứa bé không thấy mặt cha từ khi còn quá nhỏ, cùng học Quốc Học – Huế, cùng gốc lính sư đoàn 22 BB, cùng viết cho Bách Khoa, Ý Thức và bây giờ, cùng ở Mỹ, tiếp tục cùng văn chương chữ nghĩa.

Biết anh từ những bài thơ đầu tiên trên Bách Khoa. Thơ anh đăng khá sớm trên một tạp chí bề thế, lúc anh  còn là cậu học sinh trung học. Nhưng thật sự cái giao tình bắt đầu từ năm 1967, khi tôi rời Thủ Đức về sư đoàn 22 BB tại Bà Gi để bắt đầu lao vào trận mạc. Đơn vị tôi là đại đội 405 thám kích, doanh trại nằm trên đồi, nép mình dưới ba ngọn tháp Chàm mà Chế Lan Viên đã xem như là biểu tượng của Điêu tàn qua tập thơ của ông thời tiền chiến. Còn đơn vị anh là một đơn vị quân y, doanh trại thì nằm ngay dưới đồi, về hướng Đông. Hai đơn vị dù khác nhiệm vụ nhưng hai đứa chúng tôi có cùng một mẫu số chung. Cùng viết văn làm thơ. Cùng viết cho Bách Khoa. Cùng đến từ xứ Huế. Dù thời gian này tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 22 BB có những cây viết cho Bách Khoa như Doãn Dân, Nguyễn Kim Phượng (tức là Hoàng Thị Bích Ni), nhưng tôi  thân với Lữ Quỳnh nhiều hơn. Thứ nhất là tánh tình anh cởi mở. Thứ hai những ý nghĩ về văn chương xem như giống tôi. Chúng tôi không xem văn chương là đồ trang sức, mà ngược lại dùng văn chương để nói lên những tiếng kêu trầm thống của một thế hệ bị thua thiệt, bị ném vào lò lửa của chiến tranh.

Lúc bấy giờ, Lữ Quỳnh là một sĩ quan cấp úy. Nếu tôi nhớ không lầm, anh là Sĩ quan Phụ tá Hành chánh Quân y của tiểu đoàn. Với chức vụ ấy, anh  được cấp một xe Jeep và tài xế. Còn tôi thì chỉ có “xe chân”. Cũng nhờ xe anh mà tôi được  “quá giang” theo anh về Quy Nhơn sau khi đơn vị hết hành quân, hay được dưỡng quân. Thỉnh thoảng chúng tôi gọi nhau, và anh lái xe lên đồi hậu cứ của tôi, bốc tôi xuống một quán cà phê  thị trấn ở An Nhơn, Đập Đá…

Anh là một mẫu người nghiêm túc, chững chạc. Anh không có một đam mê nào ngoài đam mê viết. Không phải như tôi, viết cẩu thả, viết thả dàn, viết có khi chẳng cần coi lại, trái lại anh viết rất chững chạc. Anh thai nghén một bài văn khá kỹ trước khi đặt ngòi viết xuống giấy. Một ví dụ là khi anh viết một truyện kể về những người đập đá, (trong truyện Bụi Đá), anh đã lái xe đến tận nơi, cố tìm hiểu, nhận xét về cảnh tượng… Hay truyện Bóng Tối Dưới Hầm, anh đã dùng những chất liệu có thật trong cuộc đời quân ngũ của mình để xây dựng.

Những ngày tháng ấy, chúng tôi cùng nhau viết, cùng nhau gởi bản thảo về Saigon.Chúng tôi viết trong không gian gào rú tiếng máy bay phản lực hay ì ầm tiếng nổ của bom hay cà nông vọng về. Chúng tôi viết dưới mái tôn tiền chế lạnh lẽo, âm thầm, bên cạnh những hàng dây kẽm gai, hay giao thông hào… Chúng tôi đã chuyển không khí chiến tranh, những vấn tra của người nhập cuộc, những tiếng nổ đầy bất trắc về Saigon. Chúng tôi đã thét gào đòi lại quyền của tuổi trẻ.  Chúng tôi được các ngài ở Saigon phong cho là “những cây bút trẻ miền Trung”.

Trong những điều kiện khắc nghiệt, và trong những hoàn cảnh đầy đe dọa lên số phận, vậy mà Lữ Quỳnh vẫn viết. Viết đối với anh, theo tôi, là một đam mê, chứ không phải là trách nhiệm, hay “một cây bút là một sư đoàn” gì ráo… Tôi bỗng nghĩ đến một nhận định của Mai Thảo khi ông giới thiệu bài Bệnh Xá Cuối Năm của tôi trên Văn. Ông cho là tôi đã : “đặt sống thành suy nghĩ. Tự thành trong cô đơn”. Nhận định này rất đúng cho Lữ Quỳnh. Riêng tôi thì 60%. Còn LQ có lẽ là 100%.

Bởi vì mỗi bài viết của anh, dù là văn hay thơ đều bắt độc giả suy nghĩ. Bởi chúng là kết quả của những suy nghĩ của anh và anh muốn gởi lên trang giấy. Không những anh sống để viết. Mà sống để suy nghĩ và viết.

Tôi xin dẫn chứng một đoạn ngắn trong Những Cơn Mưa Mùa Đông mà tôi mở tình cờ một trang sách, để nhận rõ sự suy nghĩ này qua một nhân vật.

Đây là đoạn tả lại cảnh một ông lão rầy đứa cháu trai của ông vì tội dám  lấy ná bắn vào cái dĩa sứ đẹp đẽ:

Mới ngày nào đây thôi mà – Ông già nói lầu bầu trong miệng – mày ngỗ nghịch quá, ai đời với chiếc dĩa đẹp đẽ như thế này mà mày dám dùng làm bia để bắn ná. Tao nghe một tiếng “bốp”, chạy ra, nhìn lên chiếc dĩa, nó đã rạn nứt như thế này rồi. Còn mày thì biến lẹ như một con còng chui sâu dưới vườn… Nghịch ngợm như mày, tưởng không bao giờ thành người lớn được chứ. Lại cái tội háu ăn nữa. Thế mà rồi mày không còn ở với tao, mày lại chết trong tư thế của người lớn mà. Tham gia, tham dự, tham gì gì đi nữa, rồi cũng chỉ có khổ cái thân già của cha mày thôi con ạ. [1]

Đọc đoạn trên ta hiểu ngay về cái ẩn dụ mà LQ đã gởi qua lão già. Cái dĩa là cái bia. Và hành động nghịch ngợm của thằng bé còn mang theo một tư thế của người lớn. Phải trong chiến tranh, người ta sẽ dùng bia người để nhắm. Để rồi “lại chết trong tư thế người lớn”…

Xin trích một đoạn khác, trong một truyện trước 75 của anh, để chứng minh là văn chương đối với anh là văn chương đầy những suy nghĩ, tra vấn đầy ý thức:

Từ “Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu, phản trắc, lầm lẫn ấy khóc cả.”

….Trong bóng tối của chiếc hầm chật hẹp, người đàn ông cố nhìn bàn tay mình mà vẫn không thấy nổi. Gã vừa nghĩ tới những kỷ niệm thật xa. Lúc này gã nhớ lại hình ảnh người nhạc sĩ nằm chết trên bến sông, gã đã khóc thật nhiều trên quãng đường công tác còn lại. Con tim bật máu làm trào nước mắt. Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu phản trắc lầm lẫn ấy khóc cả.  [2]

đến: “Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa? “

….Trong bóng tối, thiếu nữ cảm thấy chới với khi nghe tiếng nói của người đối diện. Tiếng nói, chỉ có tiếng nói thôi. Ma quái quá sức. Tiếng nói. Trong căn hầm chỉ có tiếng nói và tiếng nói thôi. Thiếu nữ nghĩ mình cũng không còn nhận ra mình. Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa?  [2]

Ngay cả bây giờ, anh vẫn đặt sống thành suy nghĩ. Dù cái bóng tối dưới hầm của ngày xưa chỉ còn là hoài niệm, nhưng cái bóng tối bây giờ vẫn còn vây phủ anh, đầy hiu quạnh và cô đơn:

thường có những giấc mơ
gặp gỡ bạn bè
những người bạn ra đi đã nhiều năm
nay kéo về
nói cười ấm áp

tôi rất vui
rất vui trong từng đêm như thế
để lúc tỉnh ra
ngồi một mình trong bóng tối 
quạnh hiu. [3]

 

Bài thơ mới sáng tác, nhưng bóng tối vẫn là bóng tối. Dù ngày xưa hay bây giờ.

Nhưng cũng nhờ bóng tối ấy mà anh vẫn tiếp tục viết, tiếp tục sáng tác.

Nếu không, chắc đời phải là buồn lắm.

Phải không, Lữ Quỳnh ?

_______

[1] Truyện viết năm 1974, do Thư Ấn Quán tìm lại tại Thư Viện Cornell và được tái bản trong Tủ Sách Di Sản Văn chương miền Nam.

[2] Trích từ truyện ngắn Bóng Tối Dưới Hầm.

[3] Trích từ “Giấc Mơ” trong thi tập “Những Giấc Mơ Tôi” của Lữ Quỳnh do nhà xuất bản Văn Mới ấn hành năm 2013

Những nhà thơ nam dùng bút hiệu nữ trong thời chiến mà tôi được biết (1) : Nguyễn thị Thùy Mỵ

1, NGUYỄN THỊ THÙY MỴ

tên thật Đặng Hòa, nguyên là chủ nhiệm và chủ trương tạp chí  Nhìn Mặt ở Qui Nhơn vào khoảng năm 1968-1970. Tôi có  rất  nhiều kỷ niệm với anh, bởi lẽ chúng tôi cùng chủ trương tờ Nhìn Mặt. Anh là một người rất tài hoa . Dù mộtcánh tay bị phế tật, (tôi không nhớ cánh tay nào)  nhưng  anh vẫn chứng tỏ như một ngừoi rất năng động và tài giỏi. Chỉ một tay mà anh lái xe hơi, hay honda như phóng hết tốc độ. Không tốt nghiệp sư phạm hay một bằng cấp cao, nhưng anh lại là một giáo sư triết. Anh ra báo văn học, anh lại mở quán văn nghệ, tổ chức những đêm thơ nhạc trong lòng một thành phố giới nghiêm. Tôi và anh cùng chủ trương tờ Nhìn Mặt. Mấy số d0ầu khổ tabloid, sau đó là khổ giấy nhỏ như Bách Khoa. Mỗi lần dưỡng quân, tôi hay về căn gác của nhà anh nằm ngay hông chợ Qui Nhơn để qua đêm, cùng nhau đọc bài vở, hay cùng nhau đèo honda đi cà phê, thuốc lá hay nhậu nhẹt. Sau này, anh sa vào con đường nghiện ngập. Có lần, khi về phép thăm anh, nhìn anh gầy yếu đôi mắt trủng sâu, má hóp, tôi giận quá nhào đến, và đấm anh, đấm vào cả tôi,  năn nỉ anh nên bỏ. Nhưng tôi đã bất lực.
Anh có  hai  bài thơ  được ký dưới bút hiệu là Nguyễn thị THùy Mỵ, đăng trên tạp chí Văn:

1. Cho chồng đã chết , cho con  Văn số 94 năm 1967
2. Thơ cho Y Uyên số 129 năm 1972

Có lẽ ít ai biết được tác giả của bài thơ là phái nam.  Một số người xem việc dùng bút hiệu nữ như một trò chơi, muốn tạo một hiện tượng lạ trong văn chương. Nhưng nếu đọc bài này, tôi nghĩ, chính ở sự cần gởi gấm. Giả dụ, nếu mà anh dùng bút hiệu Đặng Hòa, thì sẽ không bao giờ có được mộtbài thơ tự do quá sức bi thiết như vậy. Bởi vì lời kêu của người nữ bao giờ cũng đau hơn người nam, nhất là người ấy là người tình, người vợ. Thời nào cũng vậy,  thành phần bất hạnh vẫn là thành phần ở phía sau. Tiếng khóc của người vợ lính thú trên đèo Cù Mông dù u oán cách mấy cũng ít ai nghe đến. Chúng ta chỉ nghe nhiều đến chiến trận, người tham dự, cái chết, sự hãi hùng do bom đạn gây nên.  Đôi chân trần tươm máu của người phụ nữ khi bồng con lặn lội thăm chồng ở tiền đồn heo hút, hay những vầng tang trắng, cũng ít khi được văn chương đứng về một phía, mà ngược lại chỉ trao những nhánh hoa giả như qua Chinh Phụ Ngâm. Chàng trong Chinh Phụ NGâm được khoác bằng áo chàng đỏ tựa ráng pha… Làm sao tìm được một hình ảnh “chàng” như qua bài thơ bi thiết tận cùng, đứt ruột xé lòng như   sau đây.

thơ cho y uyên

Thơ Nguyễn thị Thùy Mỵ

trong ý tưởng lạ về chàng
trong tim tôi có
một giọt máu tình cờ
chảy hoài trên thánh giá

giọt máu hình như đen
ứa qua chiều say khướt 

phải rồi có máu đen
phải rồi có máu đen
có chim sẻ hót lúc bình minh
có quạ đen đậu trên nóc nhà
có tình nhân hộc máu mồm
có quốc kỳ việt nam phủ trên quan tài
phải rồi có y uyên
phải rồi có y uyên

 chiều ngừng thổi bong bóng
địa cầu quanh chúng ta
trong vú tôi căng sữa
có dấu tay chàng
có một trẻ thơ.

(nguồn: Thơ Tự Do Miền Nam, Thư Ấn Quán sưu tập và xuất bản 2009)

@THT

Thời sống và viết và đánh giặc

Trên thư mục của  Thư viện trường Đại học khoa học & Xã Hội Nhân văn t.p HCM (tức là Văn Khoa cũ), tôi đã tìm thấy một số sáng tác của mình, được liệt kê rất chi tiết.
Xin được đăng lên như là một hoài niệm đáng nhớ về một thời văn chương bên cạnh  màu áo thám kích mà đến bây giờ  nhớ lại không khỏi lạnh mình,  không thể nghĩ là mình vẫn còn sống, để tiếp tục Theo Em như hôm nay.  Đây chỉ là một số trong hàng trăm, hàng trăm bài được đăng trên khắp các tạp chí SG hay địa phương. Đối với tôi, viết có nghĩa là sống, và sống cũng có nghĩa là viết. ..

  1. Lệ mềm / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 188. – Tr. 71 – 80. – 10.
  2. Mùa xuân ly biệt / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1970 Số 151. – Tr. 85 – 94. – 10.
  3. Ga đêm quạnh quẽ / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 176. – Tr. 23 – 34. – 12.
  4. Quán đợi hoàng hôn / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1971. – Số 127. – Tr. 99 – 107. – 9.
  5. Con đường / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1974. – Số 189. – Tr. 54 – 69. – 16.
  6. Nước mắt cho kẻ trở về / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1971. – Số 129. – Tr. 72 – 79. – 8.
  7. Lời xin / Trần Hoài Thư// Văn. – 1967. – Số 92. – Tr. 101 – 101. – 1.
  8. Mùa sứ / Trần Hoài Thư// Văn. – 1972. – Số 207. – Tr. 65 – 83. – 19.
  9. Về thành / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 187. – Tr. 5 – 13. – 9.
  10. Trời mưa nhớ Huế / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1974. – Số 182. – Tr. 36 – 49. – 14.
  11. Khu chiến / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 181. – Tr. 65 – 76. – 12.
  12. Thư về miền Trung đau khổ / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1945. – Số 47. – Tr. 50 – 51. – 2.
  13. Thơ về Huế / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1969. – Số 94. – Tr. 98 – 100. – 3.
  14. Một ngày trở lại thành phố / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1971. – Số 119. – Tr. 60 – 71. – 12.
  15. Một loài chim thiên di / Trần Hoài Thư// Văn. – 1973 Số 219. – Tr. 64 – 70. – 7.
  16. Mùa xuân trên cao / Trần Hoài Thư// Văn. – 1972 Số 196. – Tr. 8 – 14. – 7.
  17. Câu chuyện một mùa xuân / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1968. – Số 85 – 86. – Tr. 195 – 200. – 6.
  18. Biển Đen : Tâm sự một thanh niên / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1968. – Số 82 – 83. – Tr. 75 – 77. – 3.
  19. Nhật ký hành quân / Trần Hoài Thư// Văn. – 1968. – Số 102. – Tr. 79 – 86. – 8.
  20. Mắt đêm / Trần Hoài Thư// Văn. – 1969 Số 121. – Tr. 39 – 50. – 12.
  1. Sao chổi ( tiếp NCVH 8 ) / Trần Hoài Thư// Nghiên cứu văn học. – 1971. – Số 9. – Tr. 79 – 98. – 20.
  2. Những cơn mơ cuối năm / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1974. – Số 197. – Tr. 78 – 90. – 13.
  3. Cõi sa mạc / Trần Hoài Thư// Văn. – 1968 Số 104. – Tr. 49 – 61. – 13.
  4. Vườn thánh / Trần Hoài Thư// Văn. – 1969 Số 127. – Tr. 53 – 58. – 6.
  5. Trường hợp một người / Trần Hoài Thư// Văn. – 1969 Số 140. – Tr. 49 – 57. – 9.
  6. Một lần trở lại / Trần Hoài Thư// Văn. – 1973 Số 192. – Tr. 54 – 61. – 8.
  7. Những Cánh chim tuyệt vời / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 172. – Tr. 47 – 54. – 8.
  8. Khung cửa sổ bên giòng dông hương / Trần Hoài Thư// Văn. – 1970 Số 151. – Tr. 87 – 93. – 7.
  9. Sao chổi / Trần Hoài Thư// Nghiên cứu văn học. – 1971. – Số 8. – Tr. 104 – 112. – 9.
  10. Trên đỉnh trời mù / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1971. – Số 125. – Tr. 21 – 28. – 8.
  11. Nói chuyện với tác giả “Như cánh chim bay” / Trần Hoài Thư// Văn. – 1966 Số 135. – Tr. 81 – 89. – 9.
  12. Bệnh xá cuối năm / Trần Hoài Thư, Mai Thảo// Văn. – 1972 Số 197. – Tr. 9 – 16. – 8.
  13. Một vùng sương khói / Trần Hoài Thư// Văn. – 1969 Số 132. – Tr. 15 – 20. – 6.
  14. Thư gởi Năm Râu / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1973. – Số 164. – Tr. 38 – 45. – 20.
  15. Gọi người xa vắng / Trần Hoài Thư// Văn. – 1970 Số 151. – Tr. 84 – 93. – 10.
  16. Cuối bờ xa cách / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1974. – Số 193. – Tr. 62 – 71. – 10.
  17. Chuyến phà đầu xuân / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1967 Số 245. – Tr. 68 – 68. – 1.
  18. Những giọt nước mắt của bé danh / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1967 Số 254. – Tr. 76 – 76. – 1.
  19. Cơn giông / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 288. – Tr. 45 – 49. – 5.
  20. Màu xanh lá hẹ / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1967 Số 250. – Tr. 79 – 79. – 1.
  1. Tháp cổ / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 273. – Tr. 79 – 79. – 1.
  2. Mai em có về / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 277. – Tr. 75 – 75. – 1.
  3. Một vi sao lạ / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 265. – Tr. 116 – 116. – 1.
  4. Về trời / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 276. – Tr. 58 – 58. – 1.
  5. Trưa địa ngục / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 276. – Tr. 55 – 58. – 4.
  6. Tháng giêng / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 272. – Tr. 47 – 47. – 1.
  7. Những người ở lại / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 281. – Tr. 59 – 62. – 4.
  8. Tháng bảy mưa nguồn / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 282. – Tr. 55 – 55. – 1.

49. Ngày đầu làm lính / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1967 Số 260. – Tr. 77 – 77. – 1.