Phạm văn Nhàn : Một Tấm Hình. Làm Ta Nhớ.

                                                      Bài viết của Phạm Văn Nhàn 

my portrait

Buồn, lang thang trên blog của bạn bè. Thấy bạn ta có một tấm hình mới chụp. Ta cười vui rất vui. Nhìn lại ta và bạn ta. Những người vượt thoát ra ngoài “thất thấp cổ lai hy “, ngoảnh lại thấy đời qua mau quá nhỉ ?

Phải không, bạn hiền một thời vất vả. Nhiều người, có lẽ nhìn bạn qua tấm hình “tóc bạc trắng phao” mà buồn cho một Trần Hoài Thư ngày nào xa lắm. Nhưng, với tôi thì không. Nhìn bạn tôi thấy vui. Vui như có những con chim sẻ nâu đang vờn xuống sân nhà của ngôi nhà cổ 100 năm, ngày nào tôi lớn. Vui như ngày nào gần 50 mươi năm có lẽ, trong ngôi nhà thuê ẩm hơi mốc vì thiếu bàn tay chăm sóc của con người. Thế mà vẫn vui, vẫn cười. Dù trước mặt chúng ta là một vùng sinh tử đang chờ. Bạn từ chiến trường về. Ta mượn câu thơ trong bài ” Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan: Đôi giấy đinh bết bùn dất hành quân. Bạn trở về nơi ngôi nhà trong khu sáu. Tiền lính tính liền, tình yêu cũng không, nghèo chết xác thế mà vẫn vui trên mái tóc của hai người bạn còn xanh.

Cũng may, đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân quân ấy vẫn còn cho mãi đến hôm nay, Nhìn lại, tôi với bạn, đã vượt ra ngoài khuôn mẫu : thất thập cổ lai hy thì phải vui là phải chứ?

Tôi khoái mái tóc bạc này. Đâu còn một Trần Hoài Thư : ốm o gầy mòn. Lính gì mà ốm quá, chữ của Nguyễn Lệ Uyên dùng để chỉ tôi với bạn. cái tạng người nó là vậy mà. Mập ú na ú nầng làm sao mà lội. Mấy ông ú na ú nầng thì ngồi văn phòng núp bóng. Còn mấy thằng gầy, ăn gạo sấy, uống nước sông nước suối, ba lô súng đạn, nằm bờ nằm bụi thế mới có ngày hôm nay. Không thảnh thơi vui thú rượu bầu, nhưng cũng nghĩ lại ta đã làm tròn xong bổn phận.

Cái tuổi trên ngoài bảy mươi, tôi nghĩ về bạn thôi, không dám nghĩ về ai cả. Bạn đã vượt thoát đến một trình độ : hoàn hảo. Về cái gì? Xử sự và xử thế. Đúng không? Tự nhiên nhìn mái tóc bạc phơ trên đầu bạn. Tôi nghĩ như thế.

Mà đúng vậy, trãi nghiệm qua cuộc đời bạn đã không làm thì thôi. Làm thì đến nơi đến chốn đúng với tâm nguyện của chính mình, ngay thẳng. Không vượt ra ngoài khuôn khổ của đạo.

Không như những cậu thơ quá buồn mà bạn đã làm:……

“Hãy nhìn đầu ta một vùng trắng phủ
Hãy nhìn tóc ta, sợi ngắn sợi dài
Đã gần hai năm bỏ phế tóc tai
Đời thảm quá  lấy ai mà  “trang  điểm ?”
 

Còn chị đấy chứ. Ở cái tuổi ngoài bảy mươi. Bạn cười. Chị vui. Và, tôi đang nhìn thấy bạn cười kia mà. Mặc dù, tôi biết bạn còn trăm cái lo, ngàn cái lo. Lo cho vợ. Từ cái ăn, cái mặc, cái tắm, cái rữa, cái đi đứng, và cách nói chuyện cho chị Yến vui. Cho nên, nhìn bạn mĩm cười. Nhìn mái tóc bạc như ông tiên, đâu cần trang điểm ( một hình thức bề ngoài ) là tôi biết chị Yến sẽ vui và bạn sẽ vui biết mấy. Phải không?  Từ cái vui đó như có bướm hoa xúm xít vờn chơi.

Nhất là ở cái tuổi ngoài bảy mươi. Đỗ Phủ có làm bài thơ : Khúc Giang Nhị Thủ, trong đó có hai câu thơ: ” Nhân sinh thất thập  cổ lai hy. Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến”  Theo bản dịch của Vũ Quốc Huệ : Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi. Bướm hoa xúm xít vờn chơi….

Do đó, nhìn hình bạn, phải nghĩ bạn hôm qua  và ngày nay thì mới biết được hết dược một người bạn. Ngày xưa, mượn mấy câu thơ của Đỗ Nghê :Súng dòn/ Ánh sánh lóe lên/ Đạn đan trên nền trời…Thế mà tụi mình vẫn cười, vẫn vui và vẫn tếu thì hôm nay, tóc trên đầu dù có bạc trắng thì bướm vẫn vờn chơi ở cái tuổi: nhân sinh thất thập cổ lai hy này.

Tôi vẫn thích tấm hình này của bạn , cho nên tôi vui ở cái tuổi như bạn hôm này, mà tức cảnh ( hình) nên lời vậy.

 

Lữ Quỳnh, bạn tôi

 

 

Lữ Quỳnh là bút hiệu của Phan Ngô, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên-Huế. Thân phụ mất sớm, lúc một  tuổi. Tuổi nhỏ phần lớn sống tự lập. Học sinh Quốc Học – Huế, 1959-1962. Dạy học, trường Bán công Vinh Lộc 1962-1963.  Cựu Sĩ Quan VNCH (Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngành HC Quân Y). Đơn vị phục vụ : *Tổng Y Viện Duy Tân – Đà Nẵng năm 1965-66. *Tiểu đoàn 22 Quân Y (SĐ22BB) – Bình Định, năm 1967-70, *Quân Y Viện Quy Nhơn, năm 1971-75. (tài liệu trên Internet)

Tôi và Lữ Quỳnh có nhiều điểm chung. Cùng năm sinh. Cùng cảnh hẩm hiu của một đứa bé không thấy mặt cha từ khi còn quá nhỏ, cùng học Quốc Học – Huế, cùng gốc lính sư đoàn 22 BB, cùng viết cho Bách Khoa, Ý Thức và bây giờ, cùng ở Mỹ, tiếp tục cùng văn chương chữ nghĩa.

Biết anh từ những bài thơ đầu tiên trên Bách Khoa. Thơ anh đăng khá sớm trên một tạp chí bề thế, lúc anh  còn là cậu học sinh trung học. Nhưng thật sự cái giao tình bắt đầu từ năm 1967, khi tôi rời Thủ Đức về sư đoàn 22 BB tại Bà Gi để bắt đầu lao vào trận mạc. Đơn vị tôi là đại đội 405 thám kích, doanh trại nằm trên đồi, nép mình dưới ba ngọn tháp Chàm mà Chế Lan Viên đã xem như là biểu tượng của Điêu tàn qua tập thơ của ông thời tiền chiến. Còn đơn vị anh là một đơn vị quân y, doanh trại thì nằm ngay dưới đồi, về hướng Đông. Hai đơn vị dù khác nhiệm vụ nhưng hai đứa chúng tôi có cùng một mẫu số chung. Cùng viết văn làm thơ. Cùng viết cho Bách Khoa. Cùng đến từ xứ Huế. Dù thời gian này tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 22 BB có những cây viết cho Bách Khoa như Doãn Dân, Nguyễn Kim Phượng (tức là Hoàng Thị Bích Ni), nhưng tôi  thân với Lữ Quỳnh nhiều hơn. Thứ nhất là tánh tình anh cởi mở. Thứ hai những ý nghĩ về văn chương xem như giống tôi. Chúng tôi không xem văn chương là đồ trang sức, mà ngược lại dùng văn chương để nói lên những tiếng kêu trầm thống của một thế hệ bị thua thiệt, bị ném vào lò lửa của chiến tranh.

Lúc bấy giờ, Lữ Quỳnh là một sĩ quan cấp úy. Nếu tôi nhớ không lầm, anh là Sĩ quan Phụ tá Hành chánh Quân y của tiểu đoàn. Với chức vụ ấy, anh  được cấp một xe Jeep và tài xế. Còn tôi thì chỉ có “xe chân”. Cũng nhờ xe anh mà tôi được  “quá giang” theo anh về Quy Nhơn sau khi đơn vị hết hành quân, hay được dưỡng quân. Thỉnh thoảng chúng tôi gọi nhau, và anh lái xe lên đồi hậu cứ của tôi, bốc tôi xuống một quán cà phê  thị trấn ở An Nhơn, Đập Đá…

Anh là một mẫu người nghiêm túc, chững chạc. Anh không có một đam mê nào ngoài đam mê viết. Không phải như tôi, viết cẩu thả, viết thả dàn, viết có khi chẳng cần coi lại, trái lại anh viết rất chững chạc. Anh thai nghén một bài văn khá kỹ trước khi đặt ngòi viết xuống giấy. Một ví dụ là khi anh viết một truyện kể về những người đập đá, (trong truyện Bụi Đá), anh đã lái xe đến tận nơi, cố tìm hiểu, nhận xét về cảnh tượng… Hay truyện Bóng Tối Dưới Hầm, anh đã dùng những chất liệu có thật trong cuộc đời quân ngũ của mình để xây dựng.

Những ngày tháng ấy, chúng tôi cùng nhau viết, cùng nhau gởi bản thảo về Saigon.Chúng tôi viết trong không gian gào rú tiếng máy bay phản lực hay ì ầm tiếng nổ của bom hay cà nông vọng về. Chúng tôi viết dưới mái tôn tiền chế lạnh lẽo, âm thầm, bên cạnh những hàng dây kẽm gai, hay giao thông hào… Chúng tôi đã chuyển không khí chiến tranh, những vấn tra của người nhập cuộc, những tiếng nổ đầy bất trắc về Saigon. Chúng tôi đã thét gào đòi lại quyền của tuổi trẻ.  Chúng tôi được các ngài ở Saigon phong cho là “những cây bút trẻ miền Trung”.

Trong những điều kiện khắc nghiệt, và trong những hoàn cảnh đầy đe dọa lên số phận, vậy mà Lữ Quỳnh vẫn viết. Viết đối với anh, theo tôi, là một đam mê, chứ không phải là trách nhiệm, hay “một cây bút là một sư đoàn” gì ráo… Tôi bỗng nghĩ đến một nhận định của Mai Thảo khi ông giới thiệu bài Bệnh Xá Cuối Năm của tôi trên Văn. Ông cho là tôi đã : “đặt sống thành suy nghĩ. Tự thành trong cô đơn”. Nhận định này rất đúng cho Lữ Quỳnh. Riêng tôi thì 60%. Còn LQ có lẽ là 100%.

Bởi vì mỗi bài viết của anh, dù là văn hay thơ đều bắt độc giả suy nghĩ. Bởi chúng là kết quả của những suy nghĩ của anh và anh muốn gởi lên trang giấy. Không những anh sống để viết. Mà sống để suy nghĩ và viết.

Tôi xin dẫn chứng một đoạn ngắn trong Những Cơn Mưa Mùa Đông mà tôi mở tình cờ một trang sách, để nhận rõ sự suy nghĩ này qua một nhân vật.

Đây là đoạn tả lại cảnh một ông lão rầy đứa cháu trai của ông vì tội dám  lấy ná bắn vào cái dĩa sứ đẹp đẽ:

Mới ngày nào đây thôi mà – Ông già nói lầu bầu trong miệng – mày ngỗ nghịch quá, ai đời với chiếc dĩa đẹp đẽ như thế này mà mày dám dùng làm bia để bắn ná. Tao nghe một tiếng “bốp”, chạy ra, nhìn lên chiếc dĩa, nó đã rạn nứt như thế này rồi. Còn mày thì biến lẹ như một con còng chui sâu dưới vườn… Nghịch ngợm như mày, tưởng không bao giờ thành người lớn được chứ. Lại cái tội háu ăn nữa. Thế mà rồi mày không còn ở với tao, mày lại chết trong tư thế của người lớn mà. Tham gia, tham dự, tham gì gì đi nữa, rồi cũng chỉ có khổ cái thân già của cha mày thôi con ạ. [1]

Đọc đoạn trên ta hiểu ngay về cái ẩn dụ mà LQ đã gởi qua lão già. Cái dĩa là cái bia. Và hành động nghịch ngợm của thằng bé còn mang theo một tư thế của người lớn. Phải trong chiến tranh, người ta sẽ dùng bia người để nhắm. Để rồi “lại chết trong tư thế người lớn”…

Xin trích một đoạn khác, trong một truyện trước 75 của anh, để chứng minh là văn chương đối với anh là văn chương đầy những suy nghĩ, tra vấn đầy ý thức:

Từ “Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu, phản trắc, lầm lẫn ấy khóc cả.”

….Trong bóng tối của chiếc hầm chật hẹp, người đàn ông cố nhìn bàn tay mình mà vẫn không thấy nổi. Gã vừa nghĩ tới những kỷ niệm thật xa. Lúc này gã nhớ lại hình ảnh người nhạc sĩ nằm chết trên bến sông, gã đã khóc thật nhiều trên quãng đường công tác còn lại. Con tim bật máu làm trào nước mắt. Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu phản trắc lầm lẫn ấy khóc cả.  [2]

đến: “Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa? “

….Trong bóng tối, thiếu nữ cảm thấy chới với khi nghe tiếng nói của người đối diện. Tiếng nói, chỉ có tiếng nói thôi. Ma quái quá sức. Tiếng nói. Trong căn hầm chỉ có tiếng nói và tiếng nói thôi. Thiếu nữ nghĩ mình cũng không còn nhận ra mình. Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa?  [2]

Ngay cả bây giờ, anh vẫn đặt sống thành suy nghĩ. Dù cái bóng tối dưới hầm của ngày xưa chỉ còn là hoài niệm, nhưng cái bóng tối bây giờ vẫn còn vây phủ anh, đầy hiu quạnh và cô đơn:

thường có những giấc mơ
gặp gỡ bạn bè
những người bạn ra đi đã nhiều năm
nay kéo về
nói cười ấm áp

tôi rất vui
rất vui trong từng đêm như thế
để lúc tỉnh ra
ngồi một mình trong bóng tối 
quạnh hiu. [3]

 

Bài thơ mới sáng tác, nhưng bóng tối vẫn là bóng tối. Dù ngày xưa hay bây giờ.

Nhưng cũng nhờ bóng tối ấy mà anh vẫn tiếp tục viết, tiếp tục sáng tác.

Nếu không, chắc đời phải là buồn lắm.

Phải không, Lữ Quỳnh ?

_______

[1] Truyện viết năm 1974, do Thư Ấn Quán tìm lại tại Thư Viện Cornell và được tái bản trong Tủ Sách Di Sản Văn chương miền Nam.

[2] Trích từ truyện ngắn Bóng Tối Dưới Hầm.

[3] Trích từ “Giấc Mơ” trong thi tập “Những Giấc Mơ Tôi” của Lữ Quỳnh do nhà xuất bản Văn Mới ấn hành năm 2013

Thời sống và viết và đánh giặc

Trên thư mục của  Thư viện trường Đại học khoa học & Xã Hội Nhân văn t.p HCM (tức là Văn Khoa cũ), tôi đã tìm thấy một số sáng tác của mình, được liệt kê rất chi tiết.
Xin được đăng lên như là một hoài niệm đáng nhớ về một thời văn chương bên cạnh  màu áo thám kích mà đến bây giờ  nhớ lại không khỏi lạnh mình,  không thể nghĩ là mình vẫn còn sống, để tiếp tục Theo Em như hôm nay.  Đây chỉ là một số trong hàng trăm, hàng trăm bài được đăng trên khắp các tạp chí SG hay địa phương. Đối với tôi, viết có nghĩa là sống, và sống cũng có nghĩa là viết. ..

  1. Lệ mềm / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 188. – Tr. 71 – 80. – 10.
  2. Mùa xuân ly biệt / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1970 Số 151. – Tr. 85 – 94. – 10.
  3. Ga đêm quạnh quẽ / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 176. – Tr. 23 – 34. – 12.
  4. Quán đợi hoàng hôn / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1971. – Số 127. – Tr. 99 – 107. – 9.
  5. Con đường / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1974. – Số 189. – Tr. 54 – 69. – 16.
  6. Nước mắt cho kẻ trở về / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1971. – Số 129. – Tr. 72 – 79. – 8.
  7. Lời xin / Trần Hoài Thư// Văn. – 1967. – Số 92. – Tr. 101 – 101. – 1.
  8. Mùa sứ / Trần Hoài Thư// Văn. – 1972. – Số 207. – Tr. 65 – 83. – 19.
  9. Về thành / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 187. – Tr. 5 – 13. – 9.
  10. Trời mưa nhớ Huế / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1974. – Số 182. – Tr. 36 – 49. – 14.
  11. Khu chiến / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 181. – Tr. 65 – 76. – 12.
  12. Thư về miền Trung đau khổ / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1945. – Số 47. – Tr. 50 – 51. – 2.
  13. Thơ về Huế / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1969. – Số 94. – Tr. 98 – 100. – 3.
  14. Một ngày trở lại thành phố / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1971. – Số 119. – Tr. 60 – 71. – 12.
  15. Một loài chim thiên di / Trần Hoài Thư// Văn. – 1973 Số 219. – Tr. 64 – 70. – 7.
  16. Mùa xuân trên cao / Trần Hoài Thư// Văn. – 1972 Số 196. – Tr. 8 – 14. – 7.
  17. Câu chuyện một mùa xuân / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1968. – Số 85 – 86. – Tr. 195 – 200. – 6.
  18. Biển Đen : Tâm sự một thanh niên / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1968. – Số 82 – 83. – Tr. 75 – 77. – 3.
  19. Nhật ký hành quân / Trần Hoài Thư// Văn. – 1968. – Số 102. – Tr. 79 – 86. – 8.
  20. Mắt đêm / Trần Hoài Thư// Văn. – 1969 Số 121. – Tr. 39 – 50. – 12.
  1. Sao chổi ( tiếp NCVH 8 ) / Trần Hoài Thư// Nghiên cứu văn học. – 1971. – Số 9. – Tr. 79 – 98. – 20.
  2. Những cơn mơ cuối năm / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1974. – Số 197. – Tr. 78 – 90. – 13.
  3. Cõi sa mạc / Trần Hoài Thư// Văn. – 1968 Số 104. – Tr. 49 – 61. – 13.
  4. Vườn thánh / Trần Hoài Thư// Văn. – 1969 Số 127. – Tr. 53 – 58. – 6.
  5. Trường hợp một người / Trần Hoài Thư// Văn. – 1969 Số 140. – Tr. 49 – 57. – 9.
  6. Một lần trở lại / Trần Hoài Thư// Văn. – 1973 Số 192. – Tr. 54 – 61. – 8.
  7. Những Cánh chim tuyệt vời / Trần Hoài Thư// Văn. – 1971 Số 172. – Tr. 47 – 54. – 8.
  8. Khung cửa sổ bên giòng dông hương / Trần Hoài Thư// Văn. – 1970 Số 151. – Tr. 87 – 93. – 7.
  9. Sao chổi / Trần Hoài Thư// Nghiên cứu văn học. – 1971. – Số 8. – Tr. 104 – 112. – 9.
  10. Trên đỉnh trời mù / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1971. – Số 125. – Tr. 21 – 28. – 8.
  11. Nói chuyện với tác giả “Như cánh chim bay” / Trần Hoài Thư// Văn. – 1966 Số 135. – Tr. 81 – 89. – 9.
  12. Bệnh xá cuối năm / Trần Hoài Thư, Mai Thảo// Văn. – 1972 Số 197. – Tr. 9 – 16. – 8.
  13. Một vùng sương khói / Trần Hoài Thư// Văn. – 1969 Số 132. – Tr. 15 – 20. – 6.
  14. Thư gởi Năm Râu / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1973. – Số 164. – Tr. 38 – 45. – 20.
  15. Gọi người xa vắng / Trần Hoài Thư// Văn. – 1970 Số 151. – Tr. 84 – 93. – 10.
  16. Cuối bờ xa cách / Trần Hoài Thư// Văn học. – 1974. – Số 193. – Tr. 62 – 71. – 10.
  17. Chuyến phà đầu xuân / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1967 Số 245. – Tr. 68 – 68. – 1.
  18. Những giọt nước mắt của bé danh / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1967 Số 254. – Tr. 76 – 76. – 1.
  19. Cơn giông / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 288. – Tr. 45 – 49. – 5.
  20. Màu xanh lá hẹ / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1967 Số 250. – Tr. 79 – 79. – 1.
  1. Tháp cổ / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 273. – Tr. 79 – 79. – 1.
  2. Mai em có về / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 277. – Tr. 75 – 75. – 1.
  3. Một vi sao lạ / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 265. – Tr. 116 – 116. – 1.
  4. Về trời / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 276. – Tr. 58 – 58. – 1.
  5. Trưa địa ngục / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 276. – Tr. 55 – 58. – 4.
  6. Tháng giêng / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 272. – Tr. 47 – 47. – 1.
  7. Những người ở lại / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 281. – Tr. 59 – 62. – 4.
  8. Tháng bảy mưa nguồn / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1968 Số 282. – Tr. 55 – 55. – 1.

49. Ngày đầu làm lính / Trần Hoài Thư// Bách khoa. – 1967 Số 260. – Tr. 77 – 77. – 1.

Bóng ma (hồi ức văn chương)

 

Những ngày đầu ở Sài Gòn năm 1966, tôi lang thang lếch thếch trên các vỉa hè, đôi chân mang đôi dép Nhật, tóc tai để dài…Tôi đã làm đủ nghề để kiếm sống. Có chiếc áo Nil France đẹp nhất cũng phải cầm thế mấy lần. Đêm nằm trên mui xe đò, nhìn lên bầu trời đêm của Sài Gòn, trên những hàng lầu cao, để mà nhớ Huế, nhớ quay quắt. Và đôi lúc không cầm được nỗi chán chường, tôi vét hết tiền, chui vào động giang hồ rẻ tiền gần đấy. Con nhỏ thấy tôi ngượng ngập thì cười lớn: “Cưng ơi, về học bài đi, mai thi hỏng đi lính thì đời tàn đó cưng…” Nhiều đêm không có chỗ ngủ, tôi phải lội bộ về trụ sở Tổng Hội Sinh viên ở đường Duy Tân cạnh nhà thờ Đức Bà, để qua đêm. Lúc bây giờ, trụ sở mở cửa suốt ngày đêm, và tôi đã lợi dụng những chiếc bàn dài để trống, để làm giường tạm sau khi tất cả các sinh viên rời khỏi trụ sở. Và cuối cùng, cũng nhờ những lần ngủ lại đêm như thế tôi mới khám phá căn phòng bỏ hoang ngay hông của trụ sở tổng hội. Và như vậy, lần đầu tiên tôi có một mái nhà, dù mái nhà dột nát, dù không có điện nước, dù cửa sổ lúc nào cũng đóng kín mít. Tôi chẳng khác một bóng ma. Tôi nhảy ra cửa sổ. Nhảy vào cửa sổ. Bóng tôi biến mất rồi xuất hiện. Tôi nằm lắng nghe tiếng chuông nhà thờ, và tiếng ve sầu rộn ràng cả một bầu trời Duy Tân. Tôi nằm trong bóng tối nhìn những vì sao qua những mảng trời trống trơn trên mái.

Căn phòng thật thảm hại. Nó đã bị những người thân chính quyền giận dữ đốt phá sau những lần biểu tình của sinh viên. Những cột kèo bị cháy đen, vách tường ám khói, nền nhà đầy tro, và mái nhà dột nát nhiều mảng. Khi trời mưa lớn, thì nền gạch ngập nước. Khi trời nắng, nền đầy những tia nắng dọi vào, chiếu trên những chiếc ghế chiếc bàn xiêu đổ hay bị cháy xém. Cám ơn hai phe biểu tình. Cám ơn những con tim sôi sục phấn khích, những cặp mắt giận dữ điên cuồng. Cám ơn lựu đạn cay, những ngọn lửa cuồng mê, những chiếc xe bị đốt, những vòng dây kẽm chặn ở đầu đường, cuối đường, để tôi có một nơi tá túc, để tôi kéo dài cuộc sống của một thằng con xứ Huế giữa một Sài Gòn xa lạ và vô tâm. Phải, thưa ba. Con đang sống giữa Sài Gòn này, bình an lắm, giàu sang hoa lệ lắm, bạn bè nhiều lắm, học hành cũng tấn tới lắm. Tôi đã gởi lá thư về Huế để kể với ba tôi như thế. Phải, tôi chẳng còn bao lâu nữa thì tốt nghiệp kỹ sư, giáo sư, bác sĩ, để mạ ba em phải ân hận, để em phải chặc lưỡi tiếc thầm…Cám ơn đời. Cám ơn tất cả. Cám ơn Dostoievki. Cám ơn người thanh niên trong Tội Ác và Hình Phạt. Tôi nghe hồi chuông từ nhà thờ Đức Bà, mà mắt mờ lệ. Rõ ràng, tôi đã dỗ dành tôi, an ủi tôi, nhưng đôi lúc tôi không thể kiềm chế được nỗi mềm yếu trong cõi tận cùng cô độc này, tôi tự hành hạ tôi  bằng  cơn thủ dâm đến mệt lã.

Nhưng rõ ràng, càng đói rách, lầm than, văn chương càng thêm nương tựa. Sách vở thì cũng phải vất đi, khi cứ đọc những trang báo ngày đầy những tin chiến sự. Những giờ tại giảng đường khoa học dài và buồn đến muốn khóc, khi cứ nghĩ đến tương lai. Và những buổi chiều mưa giông, mưa dầm dề cả quần áo, tóc tai,  đi bộ từ trường về trụ sở Tổng hội. Đôi chân mỏi nhừ. Qua bao nhiêu trạm cảnh sát quân cảnh, chạm trán với bao nhiêu toán tuần tra. Rõ ràng, tuổi trẻ của chúng tôi bấy giờ như những con mồi. Những con mồi ngon của những tay thợ săn từ hậu phương ra tiền tuyến. Trong vòng đai, những chiếc xe GMC chở đám người bị thộp cổ về trại nhập ngũ. Bên ngoài vòng đai,  những  họng súng của kẻ thù chờ chực sẵn… Thế hệ của chúng tôi là vậy.

Cũng nhờ ở trụ sở tổng hội sinh viên mà tôi có cơ hội tìm được một chân dạy kèm trẻ tại tư gia. Số là ở đây có một bộ phận phụ trách kiếm việc làm cho sinh viên. Tôi được người phụ trách cho biết có một gia đình cần tìm một người dạy kèm trẻ, ăn ở luôn tại nhà, để kèm một bé trai 8 tuổi. Mừng quá, tôi tìm đến nơi, và càng mừng hơn nữa là bà chủ ngôi biệt thự lại là người Huế. Chị có cảm tình ngay với tôi khi tôi giới thiệu tôi là sinh viên đến từ Huế, vì hoàn cảnh phải vào Saigon học tiếp. Tôi đã dấu lai lịch của tôi. Tôi đã dấu những ngày tháng mà tôi nổi lọan, thề bỏ Huế mà đi. Tôi đã dấu trong đầu óc tôi, ngay giờ phút đầu tiên, vẽ ra một người đàn bà quyền quí đầy quyến rũ khiến tim tôi rung động lạ thường. Tôi nhớ đến những nụ hoa hồng thắm đỏ bên ngoài khung cửa phòng, khi chị hướng dẫn tôi chỉ căn phòng tôi sắp tạm trú. Những bông rực rở như niềm vui của tôi khi nghe chị chấp nhận tôi làm gia sư.

Trong thời gian này, tôi đã viết được một số  truyện ngắn kể lại thời gian tôi giữ chức gia sư. Nhan truyện là Đêm Sao Mùa Hạ. Truyện có nghĩa là bịa. Bởi vì tôi bất lực, nên tôi phải bịa. Bởi vì tôi thèm khát nên tôi phải mơ tưởng. Ít ra để ru tôi cùng nỗi cô đơn tận cùng này.

Xin được đăng lại ở phần phụ lục.

Tôi cũng xin được đăng lại một bài viết của tôi trên tạp chí Văn học vào năm 1966 khi tôi rời bỏ đại học Huế  trốn vào Saigon. Bài văn này do một bạn trẻ trong nước sưu tầm được, đã đánh máy lại, gởi qua tôi như một quà tăng văn nghệ.  Xin được cám ơn.

Thư về MIỀN TRUNG ĐAU KHỔ

Con viết thư  này về xứ Mẹ trong tâm trạng của một đứa con xa quê với sự đau buồn, thương cảm. Con không dám gợi lại những hình ảnh con đã mến thương trong bao năm trời. Bao năm con đã quen mùi sữa mẹ, lồng ngực con đã tràn đầy hơi thở ca dao. Con không dám gợi lại hình ảnh mơ mộng, êm đềm của một dòng Hương giang trong hoàng hôn, sáu vành cầu trắng, con đường mười- tám chan hòa nắng ấm cũng như bướm hoa, hay những hình ảnh quyến rũ của miền cát trắng thẫm Hưng An, xứ dừa xanh biền biệt của Bình, Phú cũng như những cuộc sống thác loạn cuồng điên ở Đà Nẵng, Nha Trang khi màn đêm buông về…

Từ xưa tới nay, con chỉ sống bằng những hình-ảnh ấy. Mắt con chỉ thấy vẻ hào nhoáng, nếp trán con chưa nhăn để suy tư với lòng cuộc đời. Bom đạn chưa đánh thức con khỏi giấc ngủ bình yên, máu cũng chưa chảy trước mắt con. Đời con sẽ dệt bằng một bài thơ trữ tình, yêu đời như một buổi chiều chủ-nhật trên hè phố Huế…

Lạy xứ Mẹ, lạy quê hương yêu dấu của con. Hôm nay con phải viết, viết để an ổn cả lòng con, để cho tha nhân hiểu mà thương dùm cơn đau nhức của Mẹ, để cho người ta dẹp bỏ những nỗi tham hận, kiêu căng và lòng mẹ có thể an ổn chút nào trong trận chiến ô-nhục này.

Kính lạy xứ Mẹ,

Có một lần, cách đây không lâu, con xuôi về Nam. Mắt ngoái lại đằng sau, biết rằng con đã giã từ quê hương lần chót. Tim con bỗng nhói lên. Con nghĩ đến mái trường đại học sự căm hờn vô-vọng khi những sinh viên ngó mặt người Mẹ học đường. Người ta đã biến đổi hết rồi, người ta đã lấy hết niềm thông cảm ngàn đời của một ngôi trường. Những phòng dơ bẩn, những đứa con trai, con gái ở hỗn độn. Giờ phút quý báu, yêu  thương của học đường không còn nữa. Con chỉ biết kêu lên: Hãy trả những gì yêu quý về cho chúng tôi…

Nhưng bóng đen chúng nó đã phủ cả rồi. Bóng đen đã ngập tràn viện đại học..

Vì thế, con phải ra đi…

Lạy xứ Mẹ,

Xứ mẹ nghèo, nghèo lắm. Nghèo như vùng đất trắng bao la của xứ Quảng Tín, những rặng Thùy dương ngơ ngác với mặt trời. Nghèo như những đoàn người tỵ nạn Cộng sản lang thang trên vỉa hè Tam Kỳ, với hai bàn tay trắng. Nghèo như những cánh đồng, lúa mạ khô héo rồi, làm sao mà nẩy nở lên được. Mắt con còn gặp phải hình ảnh của một cụ già kiệt sức kéo chiếc cày thay trâu đằng sau, thằng bé lên mười giữ cán. Mắt con còn gặp những thây người chiến binh mệnh bạc ở Ba lòng, ở  Phước Châu…

Cả miền Trung ấy, mặt trời lúc nào cũng mọc, đồng cỏ đã úa tàn, cũng như những cơn mưa dầm dề rét buốt nhưng ruộng vườn đã chìm đắm trong bể nước mông mênh. Cả miền Trung lúc nào cũng thiên tai, cũng hạn hán hoành hành.

Tai con còn nghe tiếng mìn nổ kinh hồn ở Sa Huỳnh. Đầu xe G.M.C bị văng tung. Anh lính tài xế bị vỡ sọ, chết lập tức. Chất trắng chảy ra nhão nhẹt. Anh mới 20 tuổi. Lứa tuổi của bọn chúng con… Con không thể nào quên được ba phát súng trung liên do người lính già uất nghẹn chĩa mũi súng về phương Bắc  bấm cò.

Kính lạy xứ Mẹ đau khổ,

Con không biết nói làm sao để nói lên sự đau khổ hết được. Sự đau khổ ấy là nơi những em bé đói sữa, đói cơm, bị giam trên đèo Cù Mông cả ngày. Sự đau khổ ấy ở đôi mắt bà lão bảy mươi tuổi nằm gục trên đèo Nhông. Quá khứ, hiện tại, tương lai là đôi mắt sâu hóm, má nhăn nheo sạm đen và mái tóc màu bông tủi hờn đau khổ. Bà rên: Tôi khát nước quá, cho tôi miếng nước. Cụ đã bị VC bắt đi về Qui Nhơn để biểu tình ủng hộ H.Đ Nhân dân Cứu Quốc…

Một người con gái bị trúng gió, cả đoàn nhốn nháo: ai biết đánh gió? Ai biết đánh gió? Chẳng ai biết cả. Họ đi hai ngày đường bộ. VC bắt họ đi. Vc đã chiếm các thôn ấp dọc theo miền Trung, chẳng biết đâu quân đội chiếm lại chưa?

Những thảm cảnh xảy ra trên đường phố, đến tận học đường, từ thôn làng, đến tận thành thị. Những vụ đâm chém, xử tử, giết người không gớm tay. Những tòa án nhân dân. Rồi tai con luôn nghe tiếng Nam Mô, tiếng Lạy Chúa…Đến nước này Chúa, Phật cũng phải khóc cho một dân tộc nhỏ bé đau khổ này.

Hình ảnh của vị giáo sư, ngực xẹp lép, hai mươi năm hít toàn phấn bụi và trong phổi có lẽ chứa toàn vi trùng Kock, để đào tạo bao đứa con nên người, được dắt đi riễu trên đường phố.

Máu cứ chảy, máu cứ chảy. Máu thấm cả lòng đất Mẹ trong 80 năm Pháp đô hộ, trong bao nhiêu năm với bọn người cuồng tín chưa đủ sao, chúng cứ muốn cho máu chảy hoài vậy…

TRẦN HOÀI THƯ

( sinh viên Huế)

Cảm tạ Ban Mê Thuột (Hồi ức văn chương)

Cuối cùng tôi nhận tờ sứ vụ lệnh. Đơn vị mới: Sư đoàn 23 BB ở Ban Mê Thuột  cùng với câu ghi chú: Đương sự phải phục vụ ở đơn vị tác chiến xa thành phố, xa những trục lộ giao thông.

Còn nữa. Ngày trình diện phải trước  ngày Tết âm lịch.  Rõ ràng, đây là một hình thức trừng phạt.

Nhân đã tặng tôi chiếc jacket. Hắn bảo mùa này ở Ban Mê Thuột trời lạnh lắm. Mày phải giữ gìn sức khỏe. Tôi nhận áo, như nhận từ tâm. Chính hắn đã bảo bọc tôi trong mấy tháng trời. Bây giờ hắn lại phải nhìn tôi ra đi. Từ biệt nhé, những ngày trong hỏa lò ở Tháp Chàm. Từ biệt nhé, những ngày phơi nắng ở bờ sông Dinh, hai thằng lột da lưng cho nhau. Ít ra trên đời này tôi vẫn còn có những thằng bạn như hắn. Nhưng hắn cũng phải bất lực để tôi ra đi. Còn tôi, cần gì. Mẹ thì xem như hạt bụi. Em thì xem như như hơi rượu cay… Đọc lại những câu thơ của người xưa mà cay nước mắt. Thi sĩ dù sao cũng còn mẹ còn em. Còn tôi.?

***

Như một phép lạ, tôi được gặp lại người anh hàng xóm ấy. Thíêu tá Dương Đức Sơ, trưởng phòng Một của Bộ Tư Lệnh Sư đoàn  23 BB. Tôi nói là phép lạ, bởi vì, anh là người đầu tiên  tôi gặp ở thị trấn quá đổi lạ lẩm này. Để từ đó, như một sợi dây định mệnh dẫn đát tôi đi, mà tôi nghĩ là không bao giờ mình có thể tự vạch lối.

Gặp trong trường hợp nào. Tôi không thể nhớ. Có lẽ là trong câu lạc bộ sĩ quan chăng. Phải. Tôi nhớ. Trong câu lạc bộ, một người bạn mới quen thầm thì bên tai: Ông ấy là thiếu tá Dương Đức Sơ, trưởng phòng 1 đây. Nghe tên quen quen. Phải rồi, làm sao tôi quên được, ngôi nhà của anh nằm bên cạnh nhà dượng dưới Rộc, và anh đã xem tôi như đứa em thân thiết. Tôi cũng vậy, xem gia đình anh như chỗ rất thân quen. Tôi có thể nhớ từng chiếc bàn, chiếc ghế, bàn thờ đặt trong nhà trên nhà dưới. Tôi cũng đã trải qua bao nhiêu ngày chơi đùa trên sân đất thịt nhà anh cùng  Sỏ em,  Sâm, hai đứa em của anh. Ở nhà, chúng tôi gọi anh là anh Sỏ anh.

Tôi đã đến bên người sĩ quan cao ráo ấy để hỏi thăm. Và anh đã nhận ra tôi ngay. Chúng tôi cùng mừng mừng tủi tủi, Anh hỏi tôi tại sao có mặt ở nơi này. Tôi đưa tờ sứ vụ lệnh cho anh xem. Anh trầm ngâm, sau đó nói để anh sẽ nói với phòng Tổng Quản trị, có thể giúp em được gì không.

Rồi anh cho địa chỉ nhà. Ngay chiều mồng hai, tôi đến nhà anh chị để ăn Tết. Chị Sơ rất vui tính. Hình như anh Sơ đã kể hết về hoàn cảnh của tôi nên chị xem tôi như một người trong nhà, một cậu em của anh chị.

Có nghĩa là, không phải Ban Mê Thuộc là vùng đất lưu dày của tôi, mà là một nơi, mở ra lòng bao dung, mà ngôi nhà của anh chị Sơ là một trạm đầu đón mời tôi trên chặng đường lưu lạc.

(xin xem truyện Người Anh Hàng xóm ở Phụ Lục)

oOo

Vài ngày sau,  thiếu tá Nguyễn Xuân Thắng, trưởng phòng Tổng Quản Trị, gọi tôi vào trình diện. Ông cho biết là Phòng Tổng Quản Trị chấp nhận tôi là nhân viên của phòng. Phòng đang thiếu một sĩ quan, và tôi đã có mặt đúng lúc. Thiếu tá Thắng còn cho biết, hiện tại điều kiện mới của Bộ Tổng Tham Mưu  về việc bổ nhiệm và thăng cấp cho các sĩ quan cấp thiếu tá lên trung tá  rất khó khăn. Ứng viên cần phải có bằng Tú Tài II. Thiếu tá bảo với sức học và bằng cấp của tôi, tôi có thể giúp cho những vị này, nếu họ cần. đến.. Tôi nghĩ là thíếu tá Thắng đã không muốn để tôi có mặc cảm về việc thọ ơn. Trái lại chính sức học và bằng cấp của tôi mới  là yếu tố chính giúp tôi trở thành nhân viên của ông.

Không, không đâu. Tôi hiểu. Thiếu tá Sơ, thiếu tá Thắng là hai vị ân nhân của tôi. Tôi muốn rưng rưng trên đường trở lại chỗ tạm trú.. Tôi hiểu hai vị ấy đã cứu tôi. Nhất là thiếu tá Thắng. Ông đã đọc những ghi chú trên tờ sứ vụ lệnh khắc nghiệt của một người thuộc cấp. Tôi đâu có quen gì ông. Tôi chỉ quen biết thiếu tá Sơ, trong những tháng năm tuổi thơ. Tuy nhiên đó chỉ là tình lân láng. Vậy mà họ đã cứu tôi.

Rõ ràng, Ban Mê Thuột không phải là một cõi lưu đày nhưng là một cõi bao dung. Nó mở cửa lòng đón một thằng con luân lạc, để cho tôi càng hiểu, có  những chuyện không thể ngờ lại xãy ra. Như tôi, một tên bị án treo vì tội đào ngũ, nằm trong quân lao, bị giáng cấp bây giờ lại trở thanh một sĩ quan phục vụ tại Bộ Tư Lệnh phụ trách về hồ sơ thăng thưởng…

Như Y., nếu không có những đêm mất ngủ tại Nursing home, thì giờ này, vẫn tiếp tục có mặt tại đấy, để rồi, không biết đến bao giờ có dịp chống chiếc gậy 4 chấu để tập bước, để tôi mỗi ngày còn gõ những nốt chữ như nốt dương cầm ?.

Vâng, đời thật kỳ lạ và đôi khi cánh cửa mở ra đầy những chuyện thật không thể tin nỗi.

                  

Con mồi (hồi ức văn chương)

Thành phố Nha Trang. Cuối con dốc dẫn xuống từ ngôi trường nào đó, là ngôi nhà mà mẹ tôi đã và đang kéo dài thân tôi đòi. Tôi là con của bà, nhưng tôi không cứu bà nổi. Như vậy thì tôi về đấy làm gì ? Và trong cả hàng hàng lớp lớp con gái của thành phố này, người nào nhỏ dùm giọt lệ thừa cho một tên tuổi trẻ. Ai mở cánh cửa để chứa tôi? Ai nhìn vết thương của tôi mà oà vỡ lòng từ tâm từ độ. Ðừng nhắc gì đến cái câu bạn làm gì cho tổ quốc. Tổ quốc. Vâng tôi biết. Tôi biết Tổ Quốc lắm. Tiếng đó chỉ được nhắc nhở ở trên cửa miệng đầu môi của lảnh tụ chứ chưa bao giờ từ những hạng thấp hèn như binh nhì binh nhất chuẩn úy thiếu úy chúng tôi. Bởi vì yêu tổ quốc nên chúng tôi phải sống lên chết xuống, ngất ngư đêm ngày trong những đồng nước lụt, trong khi họ làm tình, chở gái, chở đồ lậu, mua quan bán chức, đưa con cháu ra ngoại quốc trốn lính… Ðừng nhân danh yêu nước, yêu tổ quốc khi các người chưa một lần bị dao đâm, bị lựu đạn, bị mãnh đạn pháo kích, đêm đêm nằm trên những mồ huyệt mới cũ…Tôi là tôi. Tôi có quyền định đoạt lấy số phận của đời tôi. Vâng, tôi nói với lòng, nhất quá tam, tôi không thể để tôi chết. Dù ăn mày, ăn xin, dù đầu cúi, mắt láo liên, dù chui, dù rúc, tôi phải sống… Sống để nói lên những người Bắc Nam thi nhau mổ mật mổ tim, chặt đầu nhau. Sống để chờ đợi hoà bình ngưng bắn. Sống để khỏi giận dữ muốn lấy súng nả vào một đoàn xe chở Thẩm Thúy Hằng từ Qui Nhơn lên Bà Di để mấy tay ôm nhau nhảy đầm, ôm gái trong đêm giao thừa. Sống để khỏi điên khùng mỗi lần trở về thành phố. Sống. Hôm qua ở nhà này. Hôm nay ở nhà khác. Ðêm thỉnh thoảng động kinh vì những hồi bố ráp… Chị Lê ơi, chị làm tôi khốn khổ, khi chị mặc chiếc áo lụa vàng, không mang nịt vú. Chị làm tôi mê lịm cùng tuổi thanh niên khi chị cúi xuống dọn từng chiếc chén chiếc đủa cho tôi một bữa ăn gia đình. Ngực chị trắng lấp lửng. Mùi thơm từ da thịt. Và cái vẽ man dại từ đôi mắt như ngào ngạt ẩn chứa cả dục tình…Chị Lê, xin lỗi chị, tôi không thể phụ lòng tốt của anh Lê. Và vì thế tôi rời Nha Trang. Không. Tôi trốn Nha Trang cũng nên.

May mà có Nhân, thằng bạn trung úy. Nó hiểu tôi. Nó muốn tôi lấy lại thăng bằng. Nó muốn tôi quên đi cái ám ảnh. Nó kè kè bên tôi, dùng thế quân đội để che chở và bảo bọc tôi. Những ngày rãnh nó và tôi ra ngoài sông Dinh, cùng nhau tắm và phơi nắng, rồi sau đó, hai đứa cùng lột da lưng bị bỏng nắng cho nhau. Nó tha thiết giữ gìn tôi. Nó muốn tôi viết. Và, trong căn nhà tôn nóng sốt ấy, cùng những cơn nóng sốt của bệnh hoạn- hậu quả của những cơn trác táng cuồng loạn- tôi đã viết. Viết như chưa bao giờ được viết đến như thế. Viết đến trắng mắt, đến như thể ho lao, như thể ngất xỉu. Thỉnh thoảng, bên kia phòng, con ả giang hồ làm tình với khách, cười rú lên. Thỉnh thoảng, những lần bố ráp trong đêm, tôi mang áo có bông mai, cầm sự vụ lệnh ma. Ðó, tôi hèn nhát như vậy. Tôi cúi đầu như vậy. Tôi nhục nhả như vậy. Nhân. Tại sao mày lại thương tao, muốn tao sống để viết. Có ích gì ở ba cái chữ nghĩa này không?  Ðộc giả theo dõi từng hơi thở theo từng bài văn, nhưng họ không muốn tôi sống. Ngay cả đài Hà Nội, Giãi Phóng đọc văn tôi, ca ngợi sự bỏ ngũ của tôi, kêu tôi trở về với hàng ngũ nhân dân. Ðừng mua chuộc, lợi dụng tôi nữa…Hãy buông thả tôi. Những kẻ mà người ta bảo là cứu tinh dân tộc, những lãnh tụ, những anh hùng, họ đang sống phè phỡn, đang được tiền hô hậu ủng, họ không bao giờ hiểu thế nào là cái cảnh đám đàn bà hung dữ đòi mạng chồng hay con hay những thanh niên bị đạn công phá, toát loác trơ những sợi gân đỏ lòm tua tủa, chẳng khác một con chó bị xe cán. Tôi viết. Tôi muốn cho mọi người biết rõ những tay đồ tể. Về sự thù hận ngút trời. Về một cuộc chiến mà chỉ có tuổi trẻ cùng một màu da, tiếng nói điên cuồng chém giết. Một cuộc chiến mà tội ác lại được vinh danh. Những mảnh thịt xẻo lóc được tuyên dương. Những lần xử tử sát nhân lại được đề cao từ những tên mặt xám môi chì.

Tôi sẽ mang thông điệp để cho mọi người biết rõ về cuộc chiến tranh kỳ lạ, dằng dai này. Tôi sẽ cho người ta biết đối với một số người, chiến tranh càng dằng dai, càng giúp họ được lên lon, lên cấp, để đập lính, đánh lính và giúp cho một số người được thêm nhiều quyền thế, nhiều kẻ hầu người hạ, nhiều gái, nhiều đặc quyền đặc lợi, để vợ thao túng, hối lộ, mua quan bán chức. Chỉ có chăng là đám lính, đi thì đi trước, chết thì chết trước, suốt đời chỉ lên bậc thượng sĩ già mà thôi.

Thì cứ cho tôi là tên bất mãn đi. Nếu vậy, các người cứ ra mặt trận một ngày. Nhắc lại, ra mà đánh, mà thử nằm gò mả một đêm, để hiểu thế nào là giọt mưa hay giọt nước mắt, để muốn ỉa đái mà không dám ra ngoài bờ ruộng mà ỉa đái, mà nghe súng nổ, mà chịu pháo kích, mà hô xung phong, mà vuốt mắt bạn bè…. Hãy trả lại hết cho đơn vị những lính ma lính kiểng lính tài xế thợ mộc, thì tôi sẽ một mình đứng thẳng làm người Từ Hải ở chốn trận tiền. Hãy ngưng lại lời ca phản chiến, cho tôi nhìn rõ bản chất của cuộc chiến tranh, tôi sẽ không tha thứ những tù binh tôi bắt, sẽ thẳng tay liệng lựu đạn xuống hầm, sẽ cuồng điên như đám mãnh hổ Ðại Hàn…Hãy đóng cửa hết những tờ báo như Trình Bày, Ðối Diện, hãy tịch thu Khi Cây Rừng Còn Xanh Lá để tôi không còn nhìn cuộc chiến bằng một màu đen. Hãy ngưng lại lời ca giọt mưa trên lá nước mắt mẹ già, kẻ thù ta đâu có phải là người giết người đi thì ta ở với ai. Hãy đổi con tim tôi thành khối thép. Hãy giúp tôi quên đi những đôi mắt. Chao ơi, những đôi mắt. Nhân ơi, mày chưa thấy, khi tao giơ hai bàn tay lên, máu chảy ròng ròng, tao đã nếm, mút những giọt máu, trong một tâm trạng ngây ngây…Nhưng tao chỉ sợ những đôi mắt. Những bà già đáng tuổi mẹ tao, lạy tao, kêu tao là quan. Dù, tao biết, khi tao bỏ đi, họ sẽ trở thành kẻ thù. Người đàn ông già trong ruộng mía, câm lặng chấp vá lại thân cây, cố trồng lại trên mảnh đất của họ, khi những chiếc thiết vận xa nghiến bánh xích trên những thửa ruộng mía, rồi nhìn tao hận oán tột cùng..

Chưa bao giờ trong đời tôi lại bị xâu xé bởi những ý tưởng xung đột nhau như lúc này. Cái mặc cảm của một tên phạm tội, bỏ hàng ngũ, bạn bè, đồng đội và những ý nghĩ về cuộc chiến tranh đã hành hạ tôi đến mệt ngất. Từ một tên thiếu úy tác chiến ngang tàng, bất cần, nay tôi lại trở thành một tên thiền sư cô độc, ẩn trốn xã hội loài người. Cũng thèm một lần, như ngày nào, nghênh ngang, rượu chè, gái, rồi lăn xả vào trận mạc, coi mọi sự như một cuộc phù vân. Cũng thèm, cửa gió mở ra thay cửa tôn đóng kín thảm hại. Cũng thèm những thứ tình thân mà chỉ có trong cõi hoạn nạn, con người mới cảm nhận. Ðó là tình đồng đội, chiến hữu. Tôi thương những người lính của tôi quá. Họ chắc phải kinh ngạc khi tôi sắp lên trung úy, mà phải đào ngũ. Phải. Tôi hèn nhát. Họ vẫn còn ở lại, trong khi cấp chỉ huy của họ lại bỏ mà đi. Nếu ai bất mãn thì chính là họ hơn ai hết. Họ ở tận cùng của vực. Còn tôi, dù sao, vẫn ở trên họ. Tôi vẫn có một người lính để mang ba lô, giặt quần áo, nấu ăn khi đi hành quân. Tôi cũng vẫn có một trung đội bảo bọc giữ gìn. Mày là kẻ hèn. Hèn. Tôi tự rủa tôi. Tôi đã nghe Nhân kể về đại đội tôi, sau ngày tôi bỏ đi, đã làm  náo loạn, phá hết bar trong lần đơn vị về thụ huấn tại trung tâm huấn luyện. Nhân kể lại, trong thời gian huấn luyện, những người lính nghe tin ở đâu là họ sẽ bị bốc nửa chừng để về giải cứu Bồng Sơn và họ đã không còn bình tĩnh nữa. Họ biết là họ sẽ bị đưa vào cõi chết. Bởi Bồng Sơn vẫn được xem là một điểm khó nhổ từ trước đến nay. Bao nhiêu đơn vị địa phương quân, bộ binh đã bị nướng. Bao nhiêu người đã bị bắt chôn sống. Sự nổi loạn của họ, tôi nghĩ, chỉ là một thái độ phản kháng về một hậu phương vô tâm ăn chơi, đĩ điếm. Nhưng có một điều là họ không đào ngũ. Chỉ có tôi mới hèn. Lương tâm của tôi cắn rứt. Như một kẻ phạm tội. Như một tên sống vị kỷ, bỏ rơi bạn bè, anh em, không gánh chung cái lận đận lao đao của đồng đội. Nhưng mặt khác, tôi lại tự an ủi tôi. Tôi đã hy sinh quá đủ. Tôi xin nhường sự yêu nước này cho những người khác.

Trong thời gian này, tôi gặp Thế Vũ. Thế Vũ nguyên là trung sĩ thông dịch viên của Sư Ðoàn 22 BB, được đổi vào tiểu khu KH. Người nhỏ con, nước da ngăm đen, đầu tóc hớt ngắn, ít nói. Hắn thường xuyên viết cho Trình Bày, Ðối Diện. Hắn cho tôi biết là đài Hà Nội hay đọc văn tôi, ca ngợi tôi lên tận mây xanh qua những ước mơ mà tôi gởi gắm như một ngày con tàu thả khói than hầm, băng băng trên con đường xuyên Việt, và Bắc Nam trùng phùng, hay nỗi buồn của một người lính nhìn một con bé lưu lạc làm đĩ Mỹ dưới mái lều bên đường số Một…Hắn còn cho tôi biết ngày giờ phát thanh chương trình đọc truyện của đài Giải Phóng hay Hà Nội. Và tôi đã nghe họ nói về văn tôi. Họ dùng những kinh nghiệm về chiến tranh, về sự nổi loạn của tuổi trẻ, về nỗi buồn của một thế hệ bị lao vào một cuộc chiến mà chúng tôi phải nghi ngờ. Rồi một ngày hắn hỏi tôi nghĩ thế nào về cuộc chiến. Tôi nói tôi phỉ nhổ. Cả hai bên. Tôi không cần biết những mỹ từ, những nhân danh này nọ. Bởi những mỹ từ kia chỉ phát xuất từ những tay lãnh tụ, hay từ ban tuyên huấn, hay phòng tâm lý chiến. Hắn hỏi tôi, nhưng miền Nam này, bạn thấy không, từ ngày Mỹ vào, xã hội băng rã, cây không còn màu xanh…Bạn là người viết văn, ngoài việc viết, bạn phải có thái độ, lập trường tích cực. Tôi nói tôi ghét những danh từ chính trị, đừng nhắc với tôi nữa. Rõ ràng hắn đã cố làm thay đổi những ý tưởng mà tôi đã có trong cuộc chiến này. Có nghĩa là hắn muốn tôi phải làm một kẻ phản nghịch lại hàng ngũ. Tôi linh cảm ở con người của hắn. Tôi không thể hiểu tại sao hắn lại thong dong mang màu áo lính, với một lập trường thiên tả như vậy được. Ðôi khi tôi yếu mềm. Miền Nam này càng lúc càng bi đát. Con gái 13, 14 tuổi làm đĩ dưới những túp lều che bằng poncho, hay những tấm bìa carton bên quốc lộ 1. Cái tháp chàm trên đỉnh đồi Bà Gi, nơi đặt đài ra đa của Mỹ, vẫn được bọn lính Mỹ chở gái điếm về… Lý tưởng thì ảm đạm buồn thảm trong tiếng hát nức nở của Khánh Ly trong các quán cà phê, quán nhạc, trong nhà, ngoài cổng, khắp nơi khắp chốn. Nếu không có Nhân, có bạn bè của tôi, có những người lính rất tầm thường mà tôi đã chia xẻ từng ngọt bùi gian khổ, từng hạt muối, hạt tiêu, từng giọt máu và giọt lệ, thì tôi đã phải ngã theo phía bên kia rồi. Lúc này, chính là đồng đội của tôi, chứ không phải đài Hà Nội hay Cục Tâm Lý Chiến. Họ giúp tôi nhận ra con đường tôi đi. Tôi sẽ không bao giờ quay mặt, phản bội lại họ đâu.

oOo

Những ngày đầu đào thoát,  tôi đã chịu đựng không nổi cùng ngọn lửa cô đơn. Ðó là cơn hồng thuỷ dẫn tôi đến một bến bờ tuyệt vọng. Tôi thèm những viên thuốc ngủ. Tôi thèm một sự nhắm mắt thật dịu dàng. Tôi ràn rụa cùng những ý nghĩ bi quan đen tối. Tôi chưa ý thức được hạnh phúc là nỗi đau khổ như một bài thơ nào đó trong The Prophet của Gilbran. Tôi chẳng khác một đứa bé, bỗng nhiên bị giam cầm trong buồng tối, thèm được thấy biển, mặt trời, những ngọn sóng bạc đầu và những chú còng tinh nghịch trên cát. Vẫn căn gác trên lầu chuông của nhà thờ Ðức Tin,  xung quanh là vách đá, và chiếc nền xi măng ẩm ướt, cùng với tượng Chúa khổ nhục trên cây thánh giá, lẫn những song cửa sắt nhìn xuống biển, để tôi muốn thét gào cho vỡ cả cõi thinh không u uất ghê rợn, mà những giọt lệ đã làm chứng cho nỗi nhớ nhung chất ngất. Tôi chẳng khác là con hổ rừng sa vào bẫy, để đưa đôi mắt nhớ lại núi rừng. Ngọn lửa cô đơn thiêu đốt tôi bừng bừng trong những đêm tối, những ngày dài hiu quạnh, trong khi mùa đông xám và lạnh rét run ngoài hàng hoa giấy và hoa tigôn dưới nhà thờ.

Ngày đầu, người bạn xách xe mua cho tôi vài ký gạo, vài bó rau muống, một chai xì dầu, một lọ chao, và dăm trái ớt. Hắn hấp tấp để dưới nền, chưa kịp chào hỏi, rồi lại ra đi. Tôi phải cặm cụi nhen lửa, vo gạo, luộc rau. Tôi tự làm thui thủi. Tôi dọn chén ăn một mình. Tôi nấu cơm dành cho suốt ngày ăn. Ðến ngày thứ hai, vô ý tôi làm nồi gạo văng tung tóe trên nền, và tôi đã chán nản đến cực độ. Tôi đập vỡ chén, bẻ đũa. Sau đó, tôi liên tưởng đến cái chết.

Vị mục sư đã đi họp xa, và ngôi nhà thờ này chỉ còn lại Hải. Hải đã sống ở đây hai năm, chuyên phụ quét dọn nhà thờ, sắp xếp bàn ghế, hoặc tiếp vị mục sư trong việc truyền giáo. Hắn bảo tôi ông mục sư thật khó tính. Cậu gắng ở đây một thời gian rồi mình sẽ tìm cách khác giúp cậu. Hắn nhìn vào mắt tôi: Sợ cậu không chịu nỗi cô đơn thôi. Tôi khinh mạn mỉm cười. Nhưng bây giờ tôi biết mình thất bại. Tôi đã chịu đựng không nỗi cùng cõi tha ma như ngôi nhà mồ của ngôi nhà thánh. Tôi không thể can đảm nhìn bóng tối chập chờn trên vách khi ngọn sáp hiu hắt bên quan tài tôi. Tôi đã nghe rõ tiếng thở dài của tôi và cắn răng áp hai bàn tay vào tai, để khỏi nhớ, khỏi nghe bước chuyển động của thời gian. Ánh đèn sáp mờ rọi vào bức tượng Chúa như hình ảnh khốn khổ tột cùng của thế gian. Cũng như tôi lúc này. Cái quan tài sống đang rên rỉ, gào thét, đang vùng lên trơ trọi giữa chốn thế gian.

Ngày chủ nhật.

Người yêu ơi chủ nhật buồn.
Nhìn qua song lá rụng rơi.
Mà nơi đây không một người.
Người yêu ơi sao chẳng tới

Ngày chủ nhật. Tiếng chuông nhà thờ đã bắt đầu ngân lên trong không gian lạnh. Tiếng chuông ngân thật dịu dàng. Như tiếng chuông gọi hồn trên nghĩa trang hay là hồi chuông cứu rỗi. Tôi áp mặt vào khung cửa kính. Buổi mai xám cả bầu trời. Những cánh tigôn li ti rụng phủ ngập sân. Và cánh cửa nhà thờ đã mở rộng từ lúc nào. Chắc Hải đã sửa soạn từ sớm. Hắn đã quét dọn nhà giảng, lau chùi các ô cửa kính. Lời hắn vẫn còn vang bên tai tôi. Tôi mong cậu mỗi ngày chủ nhật nên xuống xem lễ để lấy lòng ông mục sư. Biết đâu ông ta thương cho cậu trú ẩn. Tôi đã lặng thinh. Tôi muốn nói tôi là kẻ vô đạo. Tôi muốn nói thêm, Thượng Ðế sẽ khóc khi nhìn một đứa con của NgườI là tôi. Giọng Hải trầm trầm: Mình biết cậu phải khổ sở khi phải làm một việc mà cậu không ưa, nhưng cậu nên nhớ rằng, mình vẫn còn những năm dài chờ đợi trước mặt. Tôi nói tôi đã hai mươi lăm tuổi, mà tôi không mong làm tướng. Tôi đang thấy mình già. Tuy nhiên tôi sẽ nghe lời cậu. Hải cười: Số tín đồ ở thành phố này chỉ có vài chục. Ông ta sẽ vui mừng khi có thêm một tín đồ mới. Cậu hãy can đảm chịu đựng. Biết đâu cậu sẽ tìm một niềm an ủi trong Chúa. Vâng thì tôi chịu đựng, và đã chịu đựng từ bao năm nay rồi. Từ khi lọt lòng đã khóc thét trong bom đạn, và lớn lên đã tiếp tục chịu đựng cùng một số mệnh phi lý, không phải do mình tạo nên, mà do từ chủ nghĩa, từ đám lãnh tụ đâu đó… Và bây giờ, cũng vì muốn thoát khỏi định mệnh, tôi lại phải chịu đựng thêm một định mệnh khác…

Trời lại đổ một cơn mưa nhỏ. Một số người đã đến lễ. Những chiếc dù đen bên cạnh những chiếc dù màu, những bộ quần áo mới và thật sậm hòa lẫn những tà áo hoa cà. Tiếng gõ của chiếc giày trên nền xi măng, và và những tiếng xì xào thăm hỏi rộn ràng. Một ngày chủ nhật đối với họ quả êm đềm, và hạnh phúc. Họ sẽ hát ngợi dâng, và sẽ miên man cầu nguyện để bình an về với họ. Và sau đó, họ sẽ trở về nhà, thỏa mãn, hy vọng.

Chỉ có tôi thì còn lại những gì ? Mắt tôi vô tình dán chặc vào ô kính nhòa nhạt nước mưa. Một khoảnh sáng nhỏ cũng đủ cho tôi nhìn rõ một hành lang đầy hoa cúc vàng và những chiếc dù, áo mưa giăng mắc la liệt ngoài cửa chính. Tôi chợt nhận ra một người nữ thật xinh đẹp. Cả người nàng toát ra một vẻ đẹp buồn thảm. Từ mái tóc đen tuyền phủ cả bờ vai, và phủ một nửa mặt. Từ chiếc áo dài đen, chiếc quần lụa đen… Nàng bước trên sân tràn ngập những cánh hoa tigôn hồng, dáng nhẹ nhàng và uyển chuyển làm sao. Tôi bàng hoàng đến độ ngây ngất. Tôi tự biết tim tôi vẫn còn bén nhạy. Hay là tại cái màu đen rờn rợn như cõi chết mà nàng đã sắp ban cho tôi. Như một lời mời gọi từ mái tóc phủ cả con mắt phải của nàng. Như chiếc đầu cúi xuống và bờ vai mềm mại cùng cái dáng mong manh của nàng, nàng bước vào cửa thánh như một làn gió.

Tôi vẫn lặng thiếp trong nỗi hôn mê kỳ lạ. Rồi sau đó, tôi nhắm mắt lại. Tiếng phong hồ cầm chợt vẳng từ nhà giảng lên căn gác. Ðó là một bản thánh ca. Tôi còn nghe cả một giọng hát thật cao, cao và trong. Một vài chiếc lá muồng bay vèo xuống sân và yên nghỉ ở đó. Có gì lưu lại trong lòng tôi không? Có gì ngủ lại trong tâm hồn tôi không? Hay là một ngày chủ nhật trôi dần qua mà một người thanh niên đang nắm những song sắt để chờ đợi:

Người yêu ơi chủ nhật buồn

Lòng rưng rưng như lệ tuôn…

thời gian đi trong tủi hờn

người có hay sao chẳng tới ?

(nhạc Hoàng Thi Thơ)

Như thế tôi đã có một hình ảnh để tạm gọi là nhớ nhung. Như thế tôi đã có một dòng suối tóc đen huyền và một con mắt dấu trong bờ suối như bắt tôi phải cố tìm kiếm một cõi mê lộ. Như thế cái dáng người nữ, đôi bờ ngực phập phồng, để tôi phải mơ đến độ phải mộng tinh. Từ ngày thấy nàng tôi như chìm đắm trong nỗi mê muội tâm thần. Tôi muốn nàng là của riêng tôi, dù trong giấc mơ, trong nỗi tưởng tượng. Tôi đã bị giằng co giữa cái xấu và cái tốt, về con heo lòng và cánh hoa huệ lóng lánh hạt sương… Nhưng phần lớn tôi đã chịu thua. Tôi thủ dâm. Vâng, chính cô đơn là căn bệnh khủng nhiếp nhất.

Bạn tôi, thỉnh thoảng lại về rồi đi. Nhà thờ đạo đóng cửa suốt tuần và chỉ mở vào ngày chủ nhật. Bởi thế tôi ít khi bị làm rộn. Tôi tự giam mình trong nỗi khổ hạnh với xì dầu, rau muống, tương chao cả tháng. Rõ ràng muốn đổi lại cái sống, tôi phải trả lại cái giá quá đắt. Hải cười nói tôi còn hơn thầy tu nữa. Chừng nào sắp đắc đạo nhớ mang hắn theo. Tôi cười không trả lời. Hắn làm sao biết lúc này là tôi muốn sống, muốn sống mãi, muốn mỗI ngày là chủ nhật. TrờI ơi, sáu ngày đã làm tôi muốn điên khùng lên đây.

Tôi bắt đầu làm quen với vị mục sư trẻ. Vị mục sư này đang tập sự để thừa kế vị mục sư già khe khắc. Ông thật trẻ trung và có tư tưởng tiến bộ. Ông chấp nhận cho tôi được trú ẩn trên căn gác chuông với điều kiện luôn luôn ở trong nhà Thờ. Ông sợ nếu tôi ra ngoài, hàng xóm láng giềng sẽ nghi ngờ và tố giác. Ông không muốn nhà thờ ông mang tiếng chứa chấp tên đào thoát. Tôi hứa với ông, nhưng tôi phải khổ tâm để phải hứa với lòng, hãy cố lên, hãy đầy đủ nghị lực để khỏi sa vào sự cám dỗ mê muội.

Một ngày chủ nhật nữa lại đến. Cánh cổng nhà thờ đóng kín cửa suốt cả tuần bây giờ lại được mở ra. Tiếng chuông lại ngân vang hòa cùng nỗi náo nức của lòng tôi. Những tiếng chuông ngày nào khiến tôi cứ liên tưởng đến sự cứu rỗi, thì bây giờ như những tiếng gọi của mùa hạnh phúc. Bởi lát nữa, người nữ có mái tóc phủ hẳn con mắt phải, đẹp não nùng sẽ hiện ra, và cái dáng người mềm mại, uyển  chuyển kia sẽ bước vào trong cửa thánh như một làn gió… Bởi lát nữa, hai gót chân nàng sẽ dẫm trên những cánh hoa tigôn hồng nhạt. Và tôi đã chờ đợi trong nỗi nao nao vô cớ. Dưới sân, tiếng lao xao bắt đầu vang lên. Ðám tín đồ thưa thớt bưóc lên hành lang. Và nàng, người tín đồ cuối cùng hiện đến. Vẫn bộ quần áo màu đen huyền. Vẫn gương mặt bị mái tóc che phủ một phần. Vẫn những bước chân nhỏ và mềm. Vẫn dáng uyển chuyển. Tôi như nín thở khi áp mặt vào khung cửa trên lầu chuông. Tôi muốn lột trần nàng, phà hơi lên da thịt của nàng. Tôi muốn thỏa mãn nỗi cô đơn như cả một núi tảng đã hành hạ tôi từng đêm, từng ngày, từng giờ, từng phút.

Nàng bước lên bực thềm nhà giảng. Tiếng phong hồ cầm lại vang lên réo rắc. Tôi vội vàng mặc quần áo nhè nhẹ bước xuống thang lầu. Tôi đứng sát vào cửa hông. Nhạc thánh ca vẫn trổi. Những bài thánh kinh vang lên. Giọng hát cao và trong như cuốn lốc. Tôi quì gối xuống cố nhìn rõ nàng hát qua lỗ khóa. Dù cánh cửa gỗ trắc ngăn chia, nhưng tôi vẫn ngỡ nàng đang ngồi sát bên tôi, và chúng tôi cũng ca lên lời ngợi dâng cùng Chúa. Tôi ngây ngất nhìn gương mặt ngoan đạo của nàng, dưới ánh điện mờ ảo.

Có nên nói một điều này không. Vì khi nàng quay mặt vào cửa ngăn, nàng đã vén lên mái tóc phủ con mắt phải của nàng, một cách sợ sệt. Thì tôi đã nhận ra một con mắt sâu hoắt. Một con mắt mù thật tức tưởi, bên cạnh một vết sẹo dài láng bóng  như sáp ong. Gương mặt nàng bây giờ như một gương mặt xấu nhất thế gian.

oOo

Và cuối cùng, sau bốn tháng trốn tránh, ẩn dật trong trại tôn hầm giữa khu bãi xương rồng, tôi lại nhận lá thư của ba tôi. Ông nghe tin ai nói là tôi bỏ ngũ, và sợ tôi bị bắt đưa làm lao công chiến trường, nên khuyên tôi, trở lại hàng ngũ. Ba tôi, ngày xưa mỗi đêm cầu khẩn Phật Trời cho tôi được bình an ngoài trận mạc, nay lại thêm một lần lo âu nữa, cho cái ám ảnh lao công…Những dòng chữ run rẩy của ông, làm tôi muốn bật khóc. Sự hy sinh của ông không thể nào tả nổi, và đến khi tôi đã ở cái tuổi 26, tôi lại làm ông lo thêm một lần nữa. Vâng, thưa ba, con sẽ nghe ba. Bởi vì trước sau, con không thể chui rúc như con chuột này. Cuộc đời đâu có nghĩa gì. Cuối cùng, cũng vẫn là một lần nhắm mắt. Và với con, con đã hưởng tận cùng cuộc đời rồi. Bàn rượu của đời đã dọn sẵn, cứ việc ngồi vào. Và tôi, tôi nhờ Nhân chở xe Honda đi trình diện. Nhân biết trước ngày này. Hắn sợ tôi chịu không nổi cùng kiếp lao công chiến trường. Tôi nói không sao, con người đều có số. Biết đâu tao sẽ có thêm chất liệu mới.

Ngày tôi đến trình diện quân vụ thị trấn, Nhân đèo tôi bằng xe honda. Tôi bắt nó chờ ngoài cổng, không quên nói nếu chờ lâu thì mày coi tao đã bị nhốt, đi về đi. Tao sẽ liên lạc lại sau. Nhân nói không sao đâu, mày là sĩ quan mà.  Mong nó nghĩ vậy, để tao còn sống thêm vài tuần nữa. Tôi vào phòng quân vụ. Tên quân cảnh ngồi sau cái bàn ngay gần cửa ra vào ngước mắt nhìn tôi:

“Ông cần gì ?”

“Tôi muốn trình diện”.

“Thì ra ông đào ngũ. Bao lâu”.

“Năm tháng”.

Hình như hắn quá quen thuộc với những con người như tôi. Hắn tiếp tục hỏi:

“Cấp bậc, số quân, đơn vị…?”

Tôi nói cấp bậc thiếu úy, số quân, đơn vị…

“Thiếu úy chịu chơi dữ, không sợ bị lột lon sao ?”

“Không, tôi đâu có chịu chơi, nếu chịu chơi thì tôi chả ra đây trình diện”.

“Tôi nói vậy cho vui thiếu úy, nhà binh với nhau hết cả mà”.

Nhà binh. Hắn ở văn phòng còn tôi đánh giặc. Hắn đi đâu cũng đi xe còn tôi băng đồi băng suối, cùng mấy ngày gạo sấy… Cái chữ tiền tuyến hậu cần nghe muốn nôn. Muốn bắn hết cấp số đạn để khỏi nghe mấy cha nội ở hậu cứ mở nhạc nhảy đầm. Muốn bắn vào đoàn xe chở mấy nàng vũ nữ ở Sài gòn ra tiền đồn ủy lạo. Ủy lạo gì, chỉ biết mấy tay tướng tay tá, chưa bao giờ ôm một tay lính trơn, còn tao phải dẫn con cái đi nằm đường bảo vệ an ninh. Còn em nữa. Tại sao em lại không nhỏ dùm tôi ít giọt nước mắt thừa? Thôi bỏ qua đi dùm tôi ít giọt nước mắt thừa? Thôi bỏ qua đi Tám. Bây giờ người QC mới bảo:

“Bây giờ thiếu úy thuộc quân số Ðơn vị hai quản trị. Mỗi ngày thiếu úy có thể đến đấy trình diện chờ đợi ngày ra Tòa án quân sự”.

Tôi cám ơn. Như vậy tôi có quyền ăn chơi bụi đời bù lại những ngày tôi tịnh khẩu. Tôi nhảy xuống bậc tam cấp vui mừng như một tên hạnh phúc, huýt sáo.

“Nhân ơi, chở tao đi suốt ngày suốt đêm nay đi”.

“Ði đâu, thằng du đảng ?”

“Ði uống rượu, đi uống cà phê, đi lêu lổng. Nhân, tao nói thật với mày, tao phục cụ Trần tế Xương sát ván. Cụ là tiền phong của nền thơ Mới. Cụ là một nhà cách mạng số một của nhân loại. Ở thế hệ cụ, ai dám nói: Một trà một rượu một đàn bà. Ba cái lăng nhăng nó quấy ta. Chừa được cái nào hay cái nấy. Có chăng chừa được rượu với trà”.

Nhân đồng ý:

“Ông là số một”.

“Nè Nhân, nếu tao mà dạy học, tao chỉ dạy Trần Tế Xương, Cao Bá Quát. Nội cái cách dùng chữ của mấy cụ thì hết có chỗ nói. Nhất là hai câu cao lâu thì ăn quịt, thổ đĩ lại chơi lường. Rõ ràng cụ là sư phụ. Cụ gạt phăng cái đạo đức giả. Cụ ôm riết lấy cuộc sống. Cụ can đảm, khí phách, hào hùng, ngang tàng… hà hà, Nhân ơi, hôm nay tao phải la phải hét tự do muôn năm… Suốt ngày loa Hà Nội Sài Gòn cứ lải nhải bài ca cải lương yêu nước, tuổi trẻ thành đồng, anh tiền tuyến em hậu phương. Thằng viết nó không bao giờ ra mặt trận, mới nghe pháo nổ là són đái…Tao với thằng lính Mỹ truyền tin, chạy cả năm sáu cây số, tao bảo hắn dừng lại, đến vùng an ninh rồi, mà hắn cứ bảo là còn Vi Xi, bắt tao phải nhắm mắt thở không ra hơi tiếp tục chạy nước rút…Như vậy thằng nào yêu nước? Thằng nào dám nói ái quốc ? Tay tướng nào dám gởi con ra ngoài mặt trận hay không? Con cháu của mấy tay lãnh tụ đều ôm cặp theo cha hay dzọt ra ngoại quốc”. Nhân gật đầu lia lịa: “Ðúng một trăm phần dầu”. Rồi hắn lên ga, sang số. Xe rú mạnh cùng tiếng cười tiếng rú của một tay trung úy và một tay thiếu úy. Xe chạy ngang qua đám quân cảnh ở ngã tư thành phố. Tôi đưa tay vẫy vẫy mấy trự, những hung thần của tôi trong ba tháng vừa qua. Tôi cảm thấy chưa bao giờ mình được tự do như thế, sung sướng như thế. Tự do hét, tư do la , tư do nhìn gái, nhìn quân cảnh, nhìn cảnh sát, tự do húyt sáo, tự do đi, tự do đứng… Để rồi tự do được chết.

Tôi đã viết thư cho ông Mai Thảo và Trần Phong Giao khi hai ông lo lắng cho tôi. Trên Vấn Đề, ông Mai Thảo đã đăng lại bức thơ này, và dấu tên tác giả:

thu goi maithao_1

Bởi vì ai cũng kể chuyện đánh giặc. Ai cũng nói về cái tôi anh hùng của họ. Nhưng ít ai nói về cái hèn của mình. Tôi sẽ nói về cái hèn của mình qua buổi án tại Tòa án quân sự Mặt Trận vùng 2 sau đây:

oOo

… Thế là bản án dành cho tôi đã xong. Năm tháng tù treo,  giáng lon và phải phục vụ ở đơn vị tác chiến. Người ta đã sắp đặt sẵn bản án cho chúng tôi, trước khi họ đến nhìn một đám quân phạm nheo nhóc. Hơn ba trăm người được kêu ra trước vành móng ngựa trong một ngày. Lên xuống, lên xuống chẳng khác những con người máy. Lên, quan tòa cũng chẳng buồn tháo mục kính để nhìn mấy tên lông lá, áo quần tơi tả. Lên, ông ta chỉ lật mấy chồng hồ sơ cao ngất. À, đào ngũ trong thời chiến, mặc cho cái gương mặt già khằng của ông lính già quá tuổi. Mặc cho chòm râu như ông ngoại của bị can. Bên cạnh ông chánh án là mấy ông sĩ quan mặt nghiêm, má đầy mỡ, áo quần vàng chói. Rồi đến ông trung úy trẻ tuổi công tố viện, sẵn sàng buộc tội đào ngũ là hèn nhát. Ông ta chồm lên, gào lớn như một vị tướng ngoài mặt trận trong khi đám quân phạm đứng nghiêm dưới sân khấu. Bị can đào ngũ trong thời chiến. Tại sao lại đào ngũ lần thứ nhất, thứ hai, thứ ba thứ tư? Bị can đã bị phạt ba năm tù treo lại tiếp tục đào ngũ. Tại sao ? Tại sao ? Nắng gắt trên sân trại. Phía bên kia đường là dãy lầu  có đám cố vấn Mỹ đứng trên hành lang nhìn sang. Có mấy tà áo màu nhởn nhơ, phất phới. Lên, lên, dễ chừng cứ  lên mãi. Bị can khai vì lý do gia đình. Cha già, mẹ yếu, vợ dại, con thơ. Bị can khai vì xa nhà quá lâu, nhớ làng nhớ xóm nhớ đất nhớ vườn. Bị can khai vì chiến trường làm thất điên bát đảo, sống lên chết xuống. Bị can khai thằng đơn vị trưởng coi lính hơn nô lệ, ăn cắp tiền ăn của lính,  đập lính đến trào bọt mép nhảy đành đạch. Bị can lạnh lùng nói:  Tôi chán ghét cuộc chiến. Rồi hồ sơ được xếp lại lần lần. Đám quân phạm trở lại đàng sau, ngồi xếp bằng, ngồi chồm hổm trên nền xi măng của hội trường. Quân cảnh gác đầy phòng. Súng M16 chĩa nòng về phía đám quân phạm. Càng về trưa, trời càng vắng gió. Tôi mệt mỏi. Tôi muốn ngủ. Bị can đào ngũ trong thời chiến. Bị can một nàng nữ quân nhân chửa hoang. Tên quân cảnh đàng sau. Hai bị can thiếu úy, cấp  bậc  cao nhất trong mấy trăm người ngồi đầu tiên như hai kẻ  nhập thiền.   Chúa trở thành Chúa bởi vì Chúa đã bị đóng đinh trên thập tự giá.. Còn Phật cũng vậy. Ngài chỉ giác ngộ khi tiếp cận với dân bất hạnh, thấy được bên ngoài  bờ thành cao của cung điện. Còn tôi là nhà văn thì phải làm gì ? Tôi đang nhìn. Nhìn tất cả. Tôi đang lắng nghe. Lắng nghe tất cả.

Tiếng loa thỉnh thoảng lại ré lên chát chúa. Thằng Bình thầm thì với tôi:

– Mong rằng họ cho mình thêm vài tháng nằm ấp nữa để dưỡng sức.

– Bộ họ ngu để cho cậu ăn và ngủ không sao?

Bình cười. (Không ngờ đó là nụ cười mà tôi giữ lần cuối. Hắn được thả sớm hơn dự định. Và hắn tử trận chỉ một tháng sau).

Càng về trưa, trời càng vắng gió. Phiên toà diễn ra như một khúc phim chiếu đi chiếu lại trăm lần. Có tay quân phạm ngồi ngủ ngon lành. Có tay đang ngồi đọc truyện chưởng. Có tay há hốc mồm nhìn lên trên bục có vẽ thích thú.

Tôi chán ghét chiến tranh. Cho tôi ở tù chung thân. Lời nói cuối cùng của một bị can trẻ tuổi phát lên làm sửng sờ cả một hội trường. Tiếng xôn xao nổi lên từ mấy trăm can phạm. Bị can đào ngũ lần thứ tư. Tội nặng lắm. Tôi nghe tai trở nên nhức nhối khi tiếng rít của máy khuếch đại nổi lên. Chưa bao giờ tôi thèm được một chỗ dựa lưng như bây giờ. Một chiếc xe GMC khác chở đầy nhóc quân phạm từ từ tiến vào sân tòa án. Mấy tên quân cảnh mở cửa, đứng hầm hừ ở hai bên. Một đám quân phạm nữa lại tiến vào hội trường tiếp tục ngồi đàng sau. Một bà già ở ngoài cửa xách gói đồ chạy ùa vào. Tên quân cảnh nhào đến chụp tay bà lão kéo lại. Bà già vùng vằng:

Con tôi ở đàng kia. Cho tôi gởi cho nó chút ít quà, tội nghiệp mà ông.

Nhưng người lính quân cảnh vẫn kéo bà ra khỏi phòng. Bà ta quay đầu nhìn con, nước mắt trào lăn trên má.

Bị can đào ngũ lần thứ tư. Tôi chán ghét cuộc chiến. Tôi nhân danh tuổi trẻ Việt Nam, kết án Cộng Sản, tư bản đã đưa đất nước tôi vào cuộc chiến tương tàn. Chúng tôi là nạn nhân từ những thế lực. Nếu kết tội là kết tội những ông lãnh tụ đã không biết thương dân tộc mình. Chúng tôi không gây nên cuộc chiến này. Chúng tôi không có tội. Nếu các ông không bắt tôi ở tù chung thân, tôi sẽ đào ngũ nữa. Tên lính lạnh lùng nói. Ông toà đập chiếc búa gỗ lên bàn, nói lớn:

Bị can trở về hàng.

Tên quân phạm trở về chỗ ngồi, nhìn ra ngoài cửa sổ.

Toà nghị án. Có tiếng xê dịch khô khan nặng nề trên hàng ghế chánh thẩm. Đám quân phạm được đẩy lên xe, chỉ còn lại lưa thưa những người thân nhân trên hàng ghế chờ đợi. Ông trung úy ủy viên chính phủ ra ngoài hành lang xem báo. Tên trung sĩ quân pháp phụ trách việc gọi tên bị can đã xách xe chạy rong ra phố. Đám lính dàn chào ngủ gục trên ghế.

Nhân danh quốc gia Việt Nam, tôi long trọng tuyên bố các bản án …

Ông quan tòa trở ra phòng lúc 12 g 30. Ông bắt đầu đọc bản án. Một con chim sẻ vụt bay vào hội trường. Tù ở. Tù treo. Tha bổng. Cái danh sách dài như vô tận khiến ông phải ngừng lại, uống nước lấy hơi rồi tiếp tục đọc tiếp. Chỉ có những chiếc bàn chiếc ghế trong hội trường vắng ngắt mới nghe những lời tuyên án của ông.

oOo

Như vậy xin đừng gọi tôi hèn nhát nữa, hỡi các ngài áo thụng, hay các ngài chưa bao giờ biết hô xung phong. Tôi đã trả nợ. Sòng phẳng. Cái nợ tuổi trẻ tôi không gây nên mà phải gánh. Tư ơi, tao cũng trả món nợ tinh thần còn thiếu cho mày rồi. Cám ơn cái bảng vải màu tím may trên ngực áo, biểu tượng của thành phần bất hảo của quân đội, để tôi có thì giờ mà viết. Mà cần ai biết bảng đỏ bảng vàng bảng tím. Mỗi tuần vào ngày thứ hai, chúng tôi phải có mặt để điểm danh sau đó mạnh ai nấy tan hàng. Mặc người ta đang chuẩn bị hồ sơ. Mặc cái tương lai là cái sứ vụ lệnh kèm theo lời dặn dò: đương sự phải phục vụ ở đơn vị tác chiến, xa thành phố, xa trục lộ giao thông. Bộ họ sợ chúng tôi lại bỏ trốn hay sao? Nếu trốn thì lúc này là thời cơ tốt nhất để trốn, cần gì phải đợi ra mặt trận mới trốn.

Vâng. Tôi đã nói, tôi sẽ trở lại mặt trận sau khi truyện dài của tôi được hoàn thành. Món nợ tinh thần tôi phải trả đã trả. Nhưng tôi không thể đem đến cho mọi người hiểu được lời trăn trối của người đồng đội. Tác phẩm bị kiểm duyệt bởi những kẻ đang ở trong tháp ngà ở SG  mà chúng tôi đang đổ máu để bảo vệ,  nhân danh chế độ để chém, cắt cổ đứa con tinh thần của đám trẻ một cách không thương tiếc.

Kẻ đào ngũ (hồi ức văn chương)

Từ quân y viện, tôi chống gậy trở về đồi với cả một con tim tan nát. Có lẽ từ trước đến giờ, tôi chưa bao giờ chạm trán cùng những điều quá sức tưởng tượng như thế này. Có lẽ tôi chưa bao giờ chuẩn bị để đối phó với cảnh huống của một đơn vị tan hàng. Bởi trước đến bây giờ đơn vị tôi chỉ biết thắng chứ chưa bao giờ biết thua.

Từ dưới cổng Sư đoàn tôi gọi điện thoại lên hậu cứ. Trung sĩ nhất Phú, hạ sĩ quan hậu cứ, lái xe dodge xuống đồi đón tôi. Anh ta mừng rỡ như bắt được vàng:

– Thân nhân lên đồi nhiều lắm. Họ làm tôi muốn khùng. Có ông đỡ gánh nặng cho tôi.

– Tại sao?

– Họ đòi mạng chồng con họ. Họ nằm vạ trên sân. Này ông, ông phải đề phòng. Coi chừng họ xé xác ông ra đấy.

– Còn thiếu úy Mận ?

– Ông sợ quá nên cũng chạy trốn luôn

Xe lên đồi. Người lính gác bắt súng chào. Tôi chào lại. Nắng lóa trên mái tôn doanh trại. Tôi nói với Phú anh dừng xe xa văn phòng đại đội một tí để tôi có thể lẻn vào phòng tôi. Mở cửa ra. Chiếc rương bằng ván của Trinh, người lính ô đô của tôi, nằm đấy. Nhưng chủ của nó đã đi mất, mất mà không bao giờ trở lại. Tôi thì thào một mình tôi nghe: Trinh ơi, vĩnh biệt em. Tôi đứng yên lặng. Căn phòng tối mờ. Mới hôm nào, cửa sổ lúc nào cũng mở ra, và nắng rọi vào phòng tươi thắm. Mới hôm nào tiếng nói chuyện hoặc cãi nhau ồn ào từ câu lạc bộ vọng về cũng như tiếng kẻng khua liên hồi cho một cuộc tập họp lên đường và Trinh vào phòng hỏi tôi ông thầy cần gì em mang theo. Và phòng cạnh là phòng của chuẩn úy Tư. Hết rồi những buổi hai thằng đèo honda xuống chợ quận. Hết rồi những lần ngồi nhậu, hắn cứ luôn luôn chối cụng ly với chúng tôi. Và cũng hết rồi cơn mơ của hắn về một người vợ hiền, một ngôi nhà dưới đồi, trong cư xá sĩ quan. Trời ơi, khi con người đang bước vào giây phút cuối cùng, tất cả cuộc đời hắn còn lại trong những câu trối trăn. Hắn trối trăn tôi phải nhớ lại cái cảnh cả một nửa đại đội nằm xếp hàng mà chết. Vâng, Tư ơi, tao nhớ lắm, nhớ không bao giờ quên, nhớ  mày nhờ tao nói với người vợ sắp cưới là hãy quên mày, nhớ lần mày mắng tao đồ hèn không dám bỏ chạy thoát thân. Nhớ cả cảnh thằng Tánh vất thằng Hường xuống đất rồi nói như khóc: Tao không thể cõng mày được nữa. Tao bị trúng đạn rồi. Mày hãy tha lỗi cho tao. Nhớ đến chiếc máy truyền tin vô chủ. Nhớ đến một mặt trời đổ xuống  cả khối nham thạch…Và tự nhiên hai lỗ tai tôi bỗng dưng đau nhức không thể tả. Hình như có cả muôn ngàn âm thanh nhức buốt như đóng nện vào màn nhỉ.

Có tiếng gõ cửa. Giọng của trung sĩ nhất Phú:

– Thiếu úy tôi có thể vào được không?

– Vào đi.

– Có vợ chưa cưới của chuẩn úy Tư cần gặp thiếu úy.

Trời ơi, có ở trong hoàn cảnh này, mới tha lỗi cho nỗi mềm yếu của tôi. Tôi cố gắng không để lộ đôi mắt ràn rụa nhưng cớ sao tôi lại ôm mặt. Không phải tôi hận. Cũng không phải tôi đau. Những trạng thái tình cảm đã lắng rồi. Nhưng tôi không can đảm để phải kể cho một người về một người. Mà phải nói gì? Nói về một cái chết anh hùng chăng? Nói về những lời trối trăn chăng? Nói về cảnh một người bị thương khắp tay chân, thân thể, quên cả mình để dục tôi phải nhớ mà viết. Để cho nàng phải hãnh diện có người chồng sắp cưới hy sinh vì tổ quốc. Tôi không phải là lãnh tụ, hay chuyên gia tâm lý chiến. Cái đau khổ này. Nỗi mất mát này là có thật. Còn những mỹ từ kia thì xa vời. Nói ra lúc này thì quá bất nhẫn.

Tôi bật đèn phòng. Người vợ chưa cưới của Tư, đôi mắt quầng thâm, mái tóc ôm cả bờ vai bất hạnh trong bộ đồ đen, đã đến bên giường rồi ôm lấy chiếc gối mà áp mặt vào. Bên cạnh đầu giường là chiếc bàn có tấm hình chụp Tư và nàng lộng trong khung. Nàng  khóc ấm ức. Khóc tức tưởi. Tôi và Phú đứng bất động. Trời ơi, tôi phải làm gì. Tôi không quen với cảnh đau khổ. Tôi sợ nước mắt của người khác. Tôi muốn biến khỏi nơi này lập tức:

Tiếng nói của nàng như kể lể, xoáy tận tim tôi:

“Anh hứa với em là anh sẽ xin phép để lo cho đám cưới, sao anh lại không xin phép? Anh ơi, hôm nay, em mang cho anh cuốn sách mà anh ưa thích”

Nàng nói như một người bị mộng du. Tôi chỉ biết cúi đầu. Phú nói thầm bên tai tôi: Tôi nói lính dọn mấy đồ đạc của chuẩn úy Tư nghe. Tôi gật đầu. Nhưng khi Phú vừa mới mở cửa ra ngoài, thì thêm một người đàn bà bồng con chạy vào phòng. Chị là vợ của Trinh. Chị vất con xuống đất, rồi níu lấy chân tôi. Thằng bé khóc ré lên cùng với tiếng kể lể của chị:

“Thiếu úy ơi, thiếu úy tại sao không giữ gìn chồng em để ảnh phải chết thảm như vầy hả thiếu úy. Anh ơi, sao anh lại bỏ mẹ con em. Anh chết gì mà thảm quá hở anh”

Chị rống lên. Thằng bé cũng khóc thét. Tôi mất hết bình tĩnh. Bây giờ tôi có ý nghĩ là làm loạn. Tôi điên khùng chụp súng chạy ra ngoài, nhắm phía ngọn đồi chó đẻ và bắn cuồng điên. Chiến tranh. Chiến tranh là gì. Sao mà lại quá bất công như thế này hả. Đ M, tại sao một lũ man di mọi rợ cứ nhằm đất nước này mà đầu thai để tiếp tục nướng tuổi  trẻ hai miền Nam Bắc.

oOo

Một tuần lễ sau, ông đại úy đại đội trưởng xuất viện trở về đơn vị. Ông kêu tôi gặp ông. Ông nói mày đi uống rượu với tao. Rồi ông lái xe chở tôi xuống đồi. Chúng tôi tìm một bar. Bà chủ thấy chúng tôi mừng rở ra mặt. Nhưng sau đó dường như nhận ra hai gương mặt lầm lỳ đau khổ của hai tay sĩ quan này nên bà ta không còn lăng xăng chào đón như trước nữa. Chúng tôi cùng kêu bia. Bây giờ ông mới vào đề. Không, ông khuyên tôi. Trước hết ông hỏi tôi: “Mày ở đơn vị này bao lâu rồi?” “Gần ba năm đại bàng” ” Ba năm  mà còn sống là ơn phước lắm. Này mày hãy nghe tao nói. Mày hãy tìm mọi cách rời khỏi đơn vị. Chỗ này không phải là nơi để mày dụng võ.”  Tôi nói: “Đại bàng hãy chỉ tôi cách rời khỏi đây. Đại bàng có biết là ông già của tôi  đã gởi hàng trăm lá thư cho những dân biểu, hay những quan chức để xin con ông về đơn vị không tác chiến không. Đại bàng không biết là các tạp chí luôn luôn viết về tôi, kêu gọi người ta rủ lòng thương hại không?”

Rõ ràng tôi nổi cơn tự ái rồi:

“Sở dĩ tôi phải kể vậy là vì tôi muốn nói sự thật. Nhưng tôi không phải hèn. Bộ đại bàng tưởng tôi sợ chết sao? Nếu sợ chết thì tôi đã không có mặt tại  đơn vị này suốt cả ba năm.”

“Không, tao không có ý như thế. Đây là tất cả những gì thành thật nhất từ trong lòng tao, một người đàn anh tao khuyên mày. Mày không thể cầm quân. Mày không thể làm kẻ chỉ huy ở đơn vị tác chiến.  Mày gan dạ, liều lĩnh, luôn luôn chạy đầu, đi đầu, tốt, nhưng người chỉ huy còn đòi hỏi những yếu tố khác. Không phải ai chỉ huy cũng được đâu. Đừng làm anh hùng rơm. Đừng tự ái hão. Không có mày cũng có hàng trăm người khác. Mày chỉ phục vụ ở văn phòng hơn là ở đây. Tao có mười mấy năm trong nghề đánh giặc, tao biết rõ.”

Rồi ông châm điếu thuốc. Ông nhìn lên trần nhà:

“Tao cũng đang làm đơn xin về Sài Gòn. Không lâu tao sẽ rời đơn vị này. Tao muốn trở lại trường Luật để lấy cho hết những tín chỉ còn lại. Rất tiếc là tao không thể kéo mày đi hoặc giúp mày rời khỏi đây.”

Ngừng một lát rồi ông nói tiếp:

– Điều mong ước của tao là làm sao cho đơn vị vô sự được chừng nào hay chừng nấy. Nhưng trận đánh vừa qua, một phần do phòng Nhì lấy tin bậy, một phần do thiếu sự điều hợp với lực lượng bạn để đơn vị phải trả một cái giá rất đắt. Hãy nghe lời tao: mày phải tìm mọi cách xin rời khỏi nơi này. Chiến trường càng ngày càng khốc liệt. Mỗi lần một người trong đơn vị ra đi là tao đau lòng lắm.  Mày thấy thằng Tư không. Chỉ còn một tuần nữa là đám cưới. Phải chi nó xin đi phép…

Rồi ông vỗ vai tôi:

-Mày vẫn còn chiến đấu mà. Khí giới là cây viết của mày đấy.

Vâng. Tôi xin nghe lời. Tôi sẽ tự ký phép, và sẽ viết. Tôi sẽ kể về những con hổ con hùm, tiếng hét gào Từ Hải đứt đoạn tức tối  trên ngọn đồi Trường Sơn vì những cuộc thí quân  ngu xuẩn. Tôi phải kêu gào để mạng người phải được dùng đúng chỗ, chứ đừng bị xữ dụng bừa bãi để cuối cùng cho kẻ chết một lá cờ. Nếu quả vậy, dưới lá cờ kia, người chết cũng phải tủi xót hơn là hãnh diện. Tôi phải viết về những đồng đội của tôi, nhường nhau để chết. Và trước khi nhắm mắt vẫn nghĩ đến người khác. Như Tư. Như Hường đã tháo sợi dây chuyền trao tôi nhờ trao lại cho vợ hắn. Tôi phải nghe lời  đại bàng, nghe lời Tư. Tôi phải nhân danh tuổi trẻ tôi để nói lên tiếng nói của mình.

Và tôi đã đi giữa lúc người ta đề cữ tôi xử lý đại đội phó. Ði đâu. Tiếng gọi ngày xưa của tuổi thơ về một kho tàng ngoài một hải đảo xa, hay là tiếng gọi của hư vô từ phía chân đồi người thi sĩ bạc mệnh. Ði đâu. Tôi cầm tấm giấy xuất viện với bảy ngày nghỉ phép, sau khi cay đắng đứng trước hội đồng giám định để nhận lấy lọai một tác chiến, sau khi giận dữ đến cuồng trí, cởi cả chiếc áo, trình cái vết sẹo sâu hoắm cho hội đồng, sau khi quân cảnh ụp vào khoá tay lôi tôi ra ngoài cửa. Ði. Ðất trời này quá rộng. Núi sông này quá vĩ đại. Những hải đảo xa xăm kia vẫn còn quá nhiều. Tiếng gọi nào cứ quyến rũ tôi đến mê mệt. Ði. Ðến một nơi nào không còn hệ lụy, không còn chiến tranh, thù hận. Ðến một nơi nào tóc râu không còn cạo, vai không gánh lấy cái nghiệp thanh niên. Ðến một nơi nào, không còn đứng trên ngọn đồi để nhìn xuống thành phố để nhủ thầm, đêm nay,  anh nhớ em, không biết em đang làm gì, lên giường ngủ hay vẫn còn ngồi bên khung cửa để học bài, hay mỗi lần trở về thành phố cùng những cơn say, những con mèo đêm thác lọan. Ði. Ðằng sau tôi, tôi sẽ xin trả lại, mấy năm làm một trung đội trưởng thám kích. Và đằng trước tôi là con đường không có mái nhà chờ đợi, không có mẹ già tóc bạc như sương mừng mừng tủi tủi thấy bóng thằng con luân lạc trở về, không có người yêu bé bỏng vòi vĩnh giận hờn chờ tôi dưới phố. Ði. Có phải mỗi đời người là một hành trình cô độc. Một ngày nào đó, nó sẽ tan biến cùng cõi vũ trụ không cùng, hằng hà tinh hệ, một con số cực không. Tôi đang là người lữ hành ấy. Trong chiếc xe hàng liên tỉnh, có một kẻ ra đi tiếp tục cuộc hành trình hun hút, vô định.

Và bây giờ  hơn bốn mươi hai năm sau, tôi vẫn tiếp tục cuộc hành trình của một người lữ hành cô độc. Những tiếng gọi dục dã của ngày xưa, những tiếng kêu trầm thống của tuổi trẻ, nay được nhường lại là những tiếng nói thầm thì do chính tôi tự nói với tôi. Tóc đã bạc phơ. Mắt đã mờ. Trí nhớ đã lú lẩn. Chuyến xe đời vẫn tiếp tục lăn bánh. Không biết đâu là trạm cuối cùng. May mà còn cuộc hành trình văn chương. Không có trạm đầu , không có trạm cuối.  Nó sống mãi trong tâm hồn tôi. Như bài văn này.

Bóng Tháp (hồi ức văn chương)

Không thể ngờ một ngày tôi lại có mặt giữa ba ngọn tháp buồn thiên cổ để cảm nhận thế nào là dấu vết của Điêu Tàn trong thơ Chế Lan Viên. Có lẽ tôi may mắn hơn nhà thơ họ Chế, bởi vì ông chỉ nhìn tháp mà làm thơ, còn tôi, tôi sống với tháp, tôi ngủ trong lòng tháp, tôi được tháp che chở bảo bọc mà chắc chắn trong thời bình, tôi khó có thể có được cơ hội.

Đó là đồi Bà Gi, còn gọi là Tháp Bánh Ích,  hậu cứ của đại đội 405 thám kích thuộc sư đoàn 22 BB, gồm một chùm ba ngọn.  Phía đông dưới triền đồi  là Tu Viện Nguyên Thiều, kế là Bộ Tư Lênh Sư đoàn 22 BB.  Phía Bắc là An Nhơn, Đập Đá. Phía Tây là cầu Bà Gi. Trên tháp có thể nhìn cả một vùng Tuy Phước, Gò Bồi, An Nhơn, và một giòng sông Côn uốn dưới chân đồi.  Theo như người địa phương cho biết, ngọn tháp cao nhất là tháp Vàng. Ngọn ở lưng chừng đồi là tháp Bạc. Và ngọn ở dưới thấp nhất là tháp Đồng. Tháp Vàng là nơi đặt đài rada của quân dội Mỹ. Tháp Đồng là kho chứa đạn dược của đơn vị tôi. Chỉ có tháp Bạc là trống trải, nằm ngay ở bên sân doanh trại, ngay ở cổng gát của đơn vị.

Thật không thể ngờ có một ngày tôi lại nương nhờ dưới bóng ba ngọn tháp này. Có lẽ chúng là mái nhà của tôi cũng nên. Tôi đã nương dưới bóng tháp ấy suốt gần 4  năm (tháng 9-1966 – tháng 7 -1970) .Bốn năm phải là quá quen thuộc, quá gần gũi. Bốn  năm, tháp đã chứng kiến  những ngày chúng tôi xuống đồi, lên đồi, những lần hành quân xa, những buổi trở về, thấy bóng tháp ẩn hiện từ xa, để biết mình đã về lại mái nhà xưa. Tháp không còn là những tầng gạch cũ gắn chặt ngàn năm một cách vô tri nữa. Mà đối với tôi, chúng có linh hồn. Chúng thiêng liêng. Chúng không phải là là một dấu vết của sự hưng phế của một triều đại,  một cơ đồ, nhưng chúng là một cõi mồ của lịch sử. Mà có lẽ, đâu đó, trong đêm,  gió hú than là lời hú than ai oán của một dân tộc bị diệt vong…

Cái ý niệm về tôn giáo siêu hình càng mạnh, khi mắt tôi chứng kiến cảnh sét đánh ngay vào ngọn tháp Vàng. Nghe nói, có  người lính Mỹ bị thương hay chết.  Có lẽ họ mang ô uế vào tháp chăng. Ngoài ra, những người lính thâm niên trong đơn vị  vẫn hay kể là  trước đây, cứ mỗi lần ông dơn vị trưởng mang gái lên đồi qua đêm , thì thế nào, sau đó, đơn vị  cũng gặp rũi không ít thì nhiều.

Từ sự tin tưởng có tính cách tôn giáo ấy, cứ mỗi lần đơn vị xuống đồi để làm những chuyến tăng phái, hay đột kích, tiếp viện, hay thám sát, tôi vẫn đứng dưới tháp mà cầu nguyện. Như ngày nào tôi đã lên tháp Bà, ở Nha Trang để cầu khẩn cho mẹ tôi khỏi bị khổ nữa.,

Chính vì nỗi tin tưởng ấy, tôi không thể chấp nhận việc mang ô uế đến với tháp. Là người lính, tôi không thể làm gì hơn. Nhưng  là nhà văn, thì tôi có quyền. Tôi đã viết  truyện Bóng Tháp, lấy từ chất liệu sét đánh lên đài ra đa như là một sự trừng phạt của đấng quyền năng. Truyện đăng hai kỳ trên Bách Khoa. Sở kiểm duyệt đã kết tội bài viết có lợi cho địch là bêu xấu quân đội đồng minh. Chỉ tội nghiệp cho ông Lê Ngộ Châu, phải khổ lắm, mới mang được về tòa sọan vài trăm tập và bôi đen một phần của bài văn.

(Có điều hết sức ngạc nhiên là thư viện Cornell đã có hai số báo BK này, với toàn bài không bị cắt xén)

oOo

Tôi vẫn còn nhớ, hình như vào khoảng năm 1969 thì phải, Bắc quân  mang một lực lượng cấp tiểu đoàn tấn công vào thị trấn Đập Đá, cách đồi Bà Gi khoảng vài cây số về phía Bắc. Trong trận này, binh chủng thám kích được sự tiếp trợ của sư đoàn Mãnh hổ Đại Hàn đã tạo một chiến thắng lớn.

Lính phe Bắc chết nằm la liệt ở ruộng đồng gần Đập Đá. Đến nỗi sau trận đánh, xe ủi của quân đội Đại Hàn  đã phải đào nguyên cả cái hố lớn và sâu để lấp chôn xác họ. Tôi nghe nói trên cả trăm người chết.

Và hố này gần một tháp chàm gần khu vực giao tranh.

Có  hai người hạ sĩ quan mới ra trường đã tử trận. Một cái tang đau cho gia đình thám kích.

Chuyện đào hố chôn xác người đã làm trí óc tôi lóe lên một đề tài về một sự tái diễn của lịch sử. Và cái nhân quả trong triết lý nhà Phật.

Nhưng chưa có dịp để hoàn thành ý nghĩ này.

Đợi đến  một lần dừng quân chờ xe sư đoàn đến rước về hậu cứ, tôi mới thật sự kê giấy để viết dưới ánh đèn pin quân đội. Đêm ấy, chúng tôi nghỉ chân bên một ngọn tháp sau một cuộc hành quân gian khổ. Điêu Tàn của dân Hời bây giờ nhường lại Điêu tàn của dân tộc tôi.  Đây là truyện thứ hai tôi viết về tháp, với tựa đề Đêm Chiêm Thành.

Ðêm Chiêm Thành

 

Chúng tôi đã bắt đầu đốt lên những bếp lửa đầu tiên của một đêm về muộn.

Sau một ngày lội đến quỵ cả gối, tắm mình trong một dòng sông hẹp và sâu, vượt qua những xóm làng hoang vu không một bóng người, và thèm ghê gớm một chỗ nằm, một giếng nước mát, một ngọn đèn dầu, và một bữa cơm nóng sốt, bây giờ chúng tôi lại ngồi ở đây, trước ngọn cổ tháp. Lệnh cho biết, lát nữa, một đoàn xe của tiểu khu – đơn vị mà chúng tôi tăng phái – sẽ đến đón những đứa con của chiến trường trở về. Tin trên, được truyền từ một người lính truyền tin của bộ chỉ huy, đã như một tín hiệu rực rỡ nhất, vui mừng nhất. Không ai bảo ai, ngả lưng trên nền đất cỏ, tháo ba lô và súng đạn trên mình, và tụm năm, tụm ba, đốt thuốc, ngồi vây quanh những bếp lửa hồng.

Chiều đã tan biến từ lúc nào, bây giờ màn đêm đã dần buông, bằng một đôi cánh mỏng nhẹ. Hơi gió đã nghe thở xào xạc. Một vì sao đã hiện lên trên đỉnh tháp, xa vắng như con mắt tình nhân. Những gợn mây hồng ở cuối chân trời vẫn le lói chút đỉnh để kéo chút hơi ngày. Và đâu đây là tiếng vạc cầm canh đã vang lên từ cánh đồng ngập nước. Lạnh quá đi. Một người lính đã thốt lên và run rẩy. Nước bùn, nước sông, pha lẫn mồ hôi của một ngày đã còn dầm dề trên những bộ quần áo trận. Ðó là kết quả của một ngày mệt mỏi và đầy căng thẳng. Buổi sáng với tuyến xuất phát từ chiếc cầu Bình Khê, và đền thờ của vua Tây Sơn, và buổi tối là ngọn tháp Chàm này. Từ tuyến xuất phát, chúng tôi được lệnh cùng một đơn vị bạn, tiếp tục lục soát một chiều dài non hai chục cây số. Chúng tôi phải chiếm lần lượt những ngôi làng bỏ hoang, và có thể, di tản một số dân còn lại về vùng an ninh. Chúng tôi đã vô sự. Ðiều này, chắc làm mấy ông sĩ quan cao cấp không bằng lòng tí nào. Nhưng đối với chúng tôi, chúng tôi chỉ mong như thế. Vô sự, hai chữ ấy như một sức hấp dẫn mãnh liệt. Ðời chiến binh chỉ mong bao nhiêu. Nhưng mấy ai thoát được trên trăm ngàn cuộc ra quân. Vì thế, lần dừng quân chiều nay, có lẽ chúng tôi là những kẻ sung sướng nhất. Một người đã huýt sáo nho nhỏ. Một người cố lục dưới đáy ba lô, tìm gói lương khô cuối cùng để chống cơn đói. Một người đang cởi áo hơ trên ngọn lửa. Trong thinh không màu sậm tối, những cánh dơi từ trong lòng tháp vụt bay ra, lượn vờn trên đầu đám quân. Những tiếng reo dòn của lửa thật êm ái. Và chúng tôi mong vô cùng được nghe lại tiếng xe mười bánh bên đường. Người lính già thì mong chờ về gặp đàn cháu nội ngoại, hay hớp rượu thuốc. Người lính trẻ thì mong gặp người yêu trông đợi. Còn tôi, thú thật, thèm được chắp đôi cánh của một loài ó bay về thành phố. Rồi một góc tối trong một quán cà phê, đầy âm nhạc, đầy bạn hữu, đầy những sợi khói nồng nàn, lãng đãng của ngày thanh xuân. Rồi rượu, đàn bà… Tôi đang dệt những cơn mơ rực rỡ ấy trong một buổi tối đầy bình an này.

oOo

Một tiếng nói đã cất lên giữa những đứa con ăn sương nằm đất: “Ðây là thành Ðồ Bàn. Tháp trước mặt là tháp Cảnh Tiên hay còn gọi là Tháp Ðồng đấy”.

Một giọng nói khác phụ vào: “Thì ra bọn mình đang đóng đô trên kinh đô Chiêm Thành “. “Vâng, tháp này là nơi mà vua Chế bồng Nga đóng đô. Tôi nghe một ông già trong vùng kể lại, đây là nơi vua Trần đã một lần chiếm đóng và tàn phá khủng khiếp …”

Tôi vẫn nằm dựa lưng vào ba lô, lắng nghe những lời trao đổi. Giọng nói buồn buồn của người lính ngồi bên cạnh đã làm tôi xúc động. Thì ra, bãi cỏ xanh mướt này, từng là một bãi chiến trường. Tôi đã đọc trong sách vở mô tả lại trận đánh ghê khiếp trong lần vua Trần viễn chinh. Vua Trần Duệ Tông đã bị phơi xác khi tìm cách thúc đoàn quân chiếm thành Ðồ Bàn. Rồi những cuộc viễn chinh sau đó, sau khi vua Chế Bồng Nga qua đời, đã mỗi lúc mỗi xô đuổi người Chiêm Thành chạy về phía Nam. Thành Ðồ Bàn bị thất thủ. Kinh đô Chiêm bị thiêu hủy. Giờ đây là những phế tích đau buồn bằng mấy ngọn tháp cô quạnh trong dòng vô tình của lịch sử. Chúng như biểu tượng một thời của đền đài cung điện, của xe ngựa dập dìu. Chúng có mặt như là những hồn ma cô đơn nhất.

Một người bạn đã xin tôi một điếu thuốc lá đen. Tôi cười: bao thuốc xanh của tôi đã bị ướt nhão nhoẹt khi lội qua sông. Gió đã bắt đầu lạnh hơn. Những ngọn lửa đã bắt đầu yếu dần. Trăng đã lên cao, nằm lẻ loi trên một chòm cây khẳng khiu. Tiếng vạc lại nổi lên, đều đều từ phía đồng ruộng. Tôi vẫn nằm yên, lưng dựa vào balô, và tâm hồn tôi trải rộng như bóng đêm đang phủ. Có tiếng chửi thề: “Bộ xe để đưa rước ông bà lớn, các cô các cậu lớn hết sao bây giờ vẫn chưa thấy ló mặt đến”. Một giọng khác phụ họa: “Chắc mấy tay bán hết xăng rồi, giờ này xe nằm ụ”. Rồi tiếng ho khan nổi lên trong hàng quân, cùng tiếng cười la từ phía ban chỉ huy. Có lẽ, trong tâm trí của mỗi đứa con chiến trường đều hiển hiện những ngọn đèn thân yêu nhất của mình. Và vô tình giữa cõi trăng sáng trong vắt, tôi bỗng nhận ra một tấm bảng nổi lên trên một gò đất xanh um. Tôi đến nơi và đọc: “Mồ chôn tập thể địch quân”. Tôi hỏi người bạn, nguyên là dân địa phương. Anh ta trả lời: “Mồ chôn của cả tiểu đoàn V.C đấy. Cậu không nhớ lần bọn chúng về đánh Ðập Ðá, bị vây tứ phía, không còn để lọt một trự sao?” “Vâng, tôi nhớ ra rồi. Ðại Hàn nằm phía Bắc. Phía Ðông Nam là mình. Phía Tây là trung đoàn. Vòng vây càng lúc càng xiết chặt. Ðịch không một ai chạy thoát. Trận đánh suốt cả tuần. Nhưng tôi không thể ngờ, tại sao họ lại đào ngay tại đây để chôn xác người. Bi thiết quá” “Tại sao là bi thiết. Thì chôn ở đâu bây giờ? Cả trăm mạng” “Tôi muốn nói cái oan khiên của lịch sử. Mấy trăm năm trước, bao nhiêu người chắc đã chết tại nơi này. Và mấy trăm năm sau, lại thêm bao nhiêu xác người khác nữa nằm tiếp thêm… Họ đòi nợ nhau. Và cuối cùng Bắc Nam Chiêm Thành cùng nằm chung dưới một gò huyệt”.

Giữa lúc ấy, từ phía xa, mờ ẩn một ánh đèn bão. ánh đèn càng lúc càng tiến lại gần phía chúng tôi. Chừng như người mang đèn không hề biết sự có mặt của đám con chiến trường. Giọng quát của người lính canh: “Ai đó đứng lại !” Ngọn đèn đứng yên. Tiếng nói mất còn trong sợ hãi vọng lại: “Tôi đây, xin các ông tha cho tôi, bởi tôi không biết…” Dưới ánh trăng sáng vằng vặc, tôi thấy lờ mờ hình dáng của một bà lão. Tiếng cằn nhằn của người lính tiếp tục vang lên: “Bà già quả gan thật. Bà không biết giờ này giới nghiêm hay sao? Một mình bà lại đến khu vực này. Bà đi tiếp tế cho VC hay sao?” “Bẫm ông, tôi già rồi” “Bộ già không phải là VC sao?” Tôi đến bên bà lão. Bây giờ tôi mới thấy rõ hơn. Tóc bà bạc phơ. Gương mặt nhăn nhúm lại. Tôi bắt gặp bà mang một gói vải. Tôi nói lính lục soát. Kinh nghiệm cho chúng tôi biết đa số những người dân trong vùng đều có chồng con nhảy núi, và đêm đêm họ hay mang đồ tiếp tế. Có thể là thuốc tây, áo quần, hay lương khô. Người lính mở gói đồ. Một bó nhang, giấy vàng bạc, một nải chuối…Chỉ có bấy nhiêu. Tim tôi chợt nhói. Vâng, tôi đã hiểu. Hiểu hơn ai hết, vì chính mẹ tôi cũng từng làm như vậy trong những đêm xa xưa, sau khi anh tôi vượt sông cái. Bà đã dám lặn lội đến bãi chiến để thắp nén nhang, đốt vàng bạc, với niềm tin là hương hồn của người chết được siêu thoát, không còn phải kêu gào thảm thiết giữa đàn âm binh chết trận. Tôi hỏi bà lão: “Chắc ngoại có thân nhân chết và bị chôn dập dưới hố phải không?” Bà lão ú ớ. Tôi nói tiếp: “Cháu không làm khó dễ gì ngoại đâu. Bởi mẹ cháu cũng thế, hầu hết những người mẹ có con chết trận đều như thế.” Bà lão tự nhiên òa khóc: “Ðêm nay rằm tôi không thể để nó lạnh lẽo dưới đất. Tôi mong nó lên hưởng chút hương đèn…” “Dạ, ngoại nói đúng. Khi chết rồi ai cũng như ai, không còn là ngụy cũng không còn là VC, không còn Bắc không còn Nam. Thưa ngoại, xin ngoại cho con một cây nhang, để con cùng cầu cho anh ấy, nghe ngoại.” Tôi nói mà lòng tôi ràn rụa.

.