Trở lại Huế 1982

Truyện ngăn Lê văn Thiện trước 1975

Tô Thẩm Huy

10 bài viết của Tô Thẩm Huy trên tạp chí Thư Quán Bản Thảo
(kể từ số 71)

Rằm, Dặm thơ: món quà văn chương đầy ý nghĩa

Chúng tôi vừa nhận  được một món quà văn chương gởi đi từ Paris. Đó là Rằm và Dặm thơ của Thi Vũ.
Xúc động lắm. Cám ơn Trời đất đã cho chúng tôi đến tuổi này vẫn còn mang đến cho nhau niềm vui văn nghệ.
Thấy sách mới càng hiểu về sự trân trọng của người thơ.
Thi Vũ là một tên tuổi. Tôi yêu thơ anh từ những bài thơ tự do trên Văn cũ. Mỗi lần buồn tôi hay lặp lại câu thơ  của anh mà tôi nằm lòng.
ngày thì dài đêm thì dài. Ở đây tôi  hiu quạnh và cô đơn…

Tôi chỉ biết nói lên sự trân trọng của tôi về hai tập thơ mới của anh bằng cách tạo thành hai flip book nho nhỏ.

Quí bạn có thể  zoom hay fullscreen để đọc nếu chữ hiện mờ., không rõ

Một lần nữa xin được cám ơn anh Thi Vũ.

RẰM – thơ 14 chữ , thi phẩm của Thi Vũ khổ 8″x8″. Dày 124 trang, với  108 bài thơ 14 chữ. Nhà xb Quê Mẹ  xuất bản lần thứ nhất tại Paris mùa Thu năm 2018. Thi Vũ trình bày bìa và trang bài. Ỷ Lan lên trang. Võ Trần Nhật thực hiện kỹ thuật.

Địa chỉ nhà xuất bản:
48 rue Parmentier – 94450 Limeil – Brévannes (France)
Email:queme@free.fr

 

DẶM THƠ – Tuyển thơ Thi Vũ gồm 108 bài, do nhà xb Quê Mẹ xuất bản lần thứ nhất tại Paris mùa Thu năm 2018. Phạm Công Thiện đề tựa. Thi Vũ trình bày bìa và trang bài. Ỷ Lan lên trang. Võ Trần Nhật thực hiện kỹ thuật

Địa chỉ nhà xuất bản: (như trên)

Thi phẩm mới nhất của Tô Thùy Yên


Chúng tôi vừa nhận quà tặng văn chương của nhà thơ Tô Thùy Yên: Thi phẩm Tô Thùy Yên – Tuyển Tập Thơ, Kẻ Sĩ xuát bản năm 2019. Sách được khâu chỉ, bìa cứng, bọc bìa láng. Dày 360 trang.
Cầm tập thơ, lòng quá xúc động. Không phải do từ tên tuổi mà từ một tấm lòng chung thủy với văn chương, nghĩa tình  với bạn bè, bằng hữu.
Để tôi phải chụp và thực hiện một flip book. Chúng tôi chỉ chụp những trang đầu và mục lục. Nội dung không chụp vì thời giờ không cho phép.
Xin click vào hình bìa trong dưới đây, để thấy “dung nhan” cuốn thơ đóng khâu in ấn từ Hồng Kông.

TRẦN HOÀI THƯ, NHÀ THƠ CẦM SÚNG

Người viết: NHƯ KHÔNG

cropped-03222741_the1bb9di-tre1babb-ce1bba7a-tht.jpgTHT (thời trẻ)chuanuy

 

 

Lời chũ Blog:  Tôi vừa nhận bài viết: “THT, nhà thơ cầm súng” từ một người bạn văn chuyển đến.  Tác giả   là Như Không. Bài viết, từ tháng 3-20017, có đề tặng tôi ở cuối bài, nhưng mãi đến bây giờ tôi mới được đọc. Tôi xin phép được đăng lại, và xin được bày tỏ lòng cám ơn chân thành  đến bạn thơ Như Không 
Ấm lòng lắm bạn ơi ! (THT).   
______

Biết và đọc anh từ khá lâu,trước 75.Mấy mươi năm trôi qua khi đầu đã bạc lại được biết thêm về anh qua các bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh.Lê Mai Lĩnh sư huynh thuộc loại người thẳng như ruột ngựa,thích và phục ai là nói thẳng mà đã không thích thì cũng…khó lòng mà yên thân được với anh.Trong bài viết của mình,Lê huynh không dấu diếm sự ngưỡng mộ với anh Trần Hoài Thư.( ” Trần Hoài Thư,tên cowboy hai súng ” – Bài viết của nhà thơ Lê Mai Lĩnh ) Ngưỡng mộ là phải, 75 tuổi trên đất Mỹ,anh cặm cụi cùng với vợ đến một thư viện cách nhà 5 giờ lái xe để sao chép lại mỗi ngày một cách rất thủ công những đầu sách thực sự giá trị in tại miền nam VN trước 75. Đem về lại hì hục in ấn rồi đóng thành sách để…tặng không cho những người yêu văn chương miền Nam và những người thực sự có nhu cầu.

Đối với tôi,những tác giả trong thời chiến là thiệt thòi nhất.Họ phải ra trận,vừa đánh giặc vừa viết,không có cơ hội để xuất bản.Sau năm 75 không ai đếm xỉa đến văn chương của họ.Tôi muốn lấy lại danh dự cho họ “. Anh bảo thế.Thư Quán Bản Thảo và cơ sở in ấn của anh,Thư Ấn Quán đã ra đời như vậy. Có lần một sĩ quan Dù gửi thư cho anh nhờ tìm tác giả bài thơ Biên Cương Hành ( của Phạm Ngọc Lư ) để cảm ơn vì trong khi anh sĩ quan này bị thương chờ trực thăng tới bốc,anh đã đọc bài thơ BCH trên báo Văn,rất trùng hợp với những suy nghĩ của anh. Vào năm 2010 lại có người hỏi thăm anh về nhà thơ Lê văn Trung vì khi bị tù đày trong trại tù CS,anh đọc được những bài thơ của tác giả Lê Văn Trung và còn nhớ đến bây giờ. Trần Hoài Thư như đã trở thành một chiếc cầu nối cho những độc giả và những người làm văn nghệ nổi tiếng một thời mà sau 75 họ không còn tác phẩm nào được tái bản hoặc xuất bản vì nhiều lý do,trong đó lớn nhất là vẫn lý do chính trị.
Trần Hoài Thư muốn dành thời gian còn lại của anh để bù đắp cho những tác giả miền Nam trong thời chiến nhưng có lẽ anh còn quên một điều,với chúng tôi – dĩ nhiên có cả anh trong đó – những người lính đi đánh trận thì “ tiền lính tính liền “ Lấy đâu ra tiền để dành dụm mà xuất bản ? Biết ngày mai đi hành quân là “ xả láng “mọi thứ,làm sao biết được mình còn sống không để mà trở về ?

…Trần Hoài Thư cũng là một người lính tác chiến.Nguy hiểm hơn nữa,anh thuộc Đại Đội Thám Kích của Sư Đoàn 22 Bộ Binh.Một Sư Đoàn chỉ có một đại đội Thám Kích, (1)  nhiệm vụ của họ là nhảy trực thăng – còn gọi là nhảy Diều Hâu – hay bằng các phương tiện khác vào vùng địch,tìm cách tiếp cận để nắm được quân số,vị trí và các trang bị chiến đấu của họ để báo về Bộ Tư lệnh của sư đoàn. Vì thế từ quan cho đến lính đều là những người ưu tú và cực kỳ gan dạ vì khi đã vào đất địch bằng các đơn vị nhỏ như vậy thì chết dễ như bỡn vì thiếu sự yểm trợ từ chính đơn vị của mình. Dân Thám Kích “ chê “ mấy thằng du kích vớ vẩn. Bọn này chỉ rình rình núp đâu đó,cắc cù một hai phát là ôm súng co giò chạy biến. Thám Kích “ làm ăn “ lớn hơn nhiều. Phải là cỡ chính quy cấp sư đoàn,” đồ chơi “ toàn thứ dữ như cỡ thượng liên 12.8, vuốt nhẹ cò súng một chút như vuốt má con gái là đạn bay hàng tràng , như cối 82 ly, cối 120 oạch đùng vang dội,miễng bay rào rào rát mặt cháy tóc, như DKZ bắn thẳng nổ dữ dội những ngày ra trận. Những ngày chiến trận đó Trần Hoài Thư đã hai lần bị thương, có một lần đạn “ chê “ anh,viên đạn xoi một lỗ bên một ống tay áo,đục thêm một lỗ khác trên ngực áo,cày một đường văng mất một đầu vú rồi lại chui ra ở ống tay áo bên kia. Dân tác chiến là như vậy,có lúc đạn bắn tơi bời hoa lá,kêu chút chít như chuột kêu chung quanh mà chẳng hề hấn gì. Có lúc một trái pháo trời ơi đất hỡi bắn hú họa mà lại trúng miễng chết lãng nhách. Những ngày đó tỉnh Bình Định thuộc Liên Khu 5 của Bắc Quân là căn cứ địa của sư đoàn Sao Vàng Bắc Việt khét tiếng, có thung lũng An Lão bốn bề núi dựng nằm ở phía Bắc.Nhiều khi ranh giới mong manh giữa hai bên chỉ là 1 dòng sông nhỏ, chiều ngang chưa bằng nửa tầm đạn bắn. .

Dòng sông phân tranh hai vùng thù nghịch
Đêm xuống đồi gặp con nước nổi
Súng đưa khỏi đầu
Từng con * một vượt sông
…………………………………
Rồi trước khi trèo ngọn Kỳ Sơn
Anh lạc trên cánh đồng trăng mênh mông
Không biết nơi nào là cõi dữ

( Đêm vượt sông )
Chú thích : * “ Con “,tiếng lóng nhà binh chỉ người lính

Ngay từ khi nhảy ra khỏi trực thăng có nơi nào không là cõi dữ ?Dân Thám Kích trang bị nhẹ, chỉ mang dao găm,súng M16 với cấp số đạn gấp hai lần,loại súng khi bị ” dính ” đạn vào người thì đầu vào chỉ bằng mút đũa mà đầu ra phá một lỗ toang hoác. Và rất nhiều lựu đạn,cả M26 hoặc M87. Họ không xài M72 chống tăng vì họ gần như chỉ cận chiến nếu gặp địch.

“ Nước nguồn đổ xuống ngày binh lửa
Những xác nào đã thúi hôm qua
Ai bạn ai thù sao quá thảm
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia

Con sông chia cắt đôi bờ hận
Cột khói còn lưu luyến chiến trường
Có ai chạy loạn bơi xuồng kể
Một thước đi,xác ngập thước đường “

( Trung đội )

Bài thơ gợi nhớ lại chiến trận núi Chu Pao ở rừng núi cao nguyên thuộc Vùng 2 Chiến Thuật với hai câu thơ nổi tiếng :
“ Chu Pao ai oán hờn trong gió
Mỗi tấc khăn tang một tấc đường “
Chiến trận núi Chu Pao ngày đó là đồi núi,đôi khi 2 bên chỉ cách nhau một tầm ném lựu đạn. Bên này ném thì bên kia chụp trái lựu đạn ném trả,chết… tính sau vì cứ nằm yên thì còn dễ chết hơn.
… Khi Thư nhảy vào vùng địch, những thây người chết trong chiến trận của cả hai bên bị bỏ lại đã sình thúi trong thung lũng An Lão bốn bề gió hú. Họ nằm đó, lặng lẽ nhìn trời hay úp mặt xuống đất, xác thân tan nát vì bom đạn, vì hỏa lực T.O.T ( times on target ) đang lặng lẽ phân hủy. Mùi xác chết xộc vào mũi Thư và các người lính của anh theo tiếng gió réo đang thổi lồng lộng lật tung chiếc nón sắt đang đội :

“ Địch cho Trung Đội qua eo chết
Hai bên sườn đại liên đan nhau
Nổ.Nổ dòn
Đất đá kêu đau
Sủi bọt 
Khói bốc lên
Bốn bề dội vào vách xám
………………………….
Một hai ba…Lộn.Nằm co quắp
Còn lại vẫn ào lên ào lên
Đừng bò ! Đừng bò !
Trung đội phó hét cuồng điên
Cỏ tranh bắt mồi cháy mạnh
Gió tạt khói mù
Bốn bề khói rợp
Khói cay cay cặp mắt nổ tròng
Khắp bốn bề gào thét xung phong
…………………………………
Cao điểm chiếm rồi
Vui mừng quá độ
Mà sao người lính Truyền Tin rơi lệ
Báo cáo trong tiếng mất tiếng còn
Về những thằng bị kiến cắn * ngủ yên

( Eo chết )
-Chú thích : * Bị “ kiến cắn “ : Tử trận

Bài thơ hào hùng đúng mùi chiến trận. Người viết bài này cũng từng ở trong những tình huống tương tự : Không được bò.Dỏng lưng lên lăn xả vào họng súng bên kia thì còn có cơ may sống sót. Xạ thủ đại liên M.60 cũng xách cây súng nặng chịch vừa chạy vừa tưới đạn về phía trước. Trong kinh hoàng khói lửa, những tiếng nổ của lựu đạn và những loại súng khác nhau từ cả hai phía làm hai tai điếc đặc,khói súng mù mịt trên chiến trường và tiếng thét xung phong dồn dập làm cho người lính trận như say, chỉ có một hướng lao về phía trước không còn nghĩ gì tới chết sống. Nhưng khi chiến trận tàn rồi,tiếng nổ đã im,rừng bỗng trở nên yên ắng kỳ lạ và lúc đó mới biết ai còn ai mất.Và rớt nước mắt thương đồng đội của mình,mới sáng nay còn chia đôi điếu thuốc giờ đã vĩnh viễn nằm xuống không kịp trối trăn một lời. Và cũng là khi thấy thấy máu của mình chảy ra từ đâu đó mới biết mình cũng bị thương:

“ Chỉ giữ lại trên thân ta,này vết sẹo
Để khi buồn,sờ lại nhớ thời xưa
Dấu vết hôm qua khói lửa mịt mù
Và kinh hãi
Trời ơi
Ta vẫn còn sống sót

( Tạ Từ )

Chỉ có những người trực tiếp cầm súng bắn nhau mới biết anh nói đúng. Nghĩ lại mà rợn người, chẳng biết làm sao mà mình còn sống được. Đạn tránh người chứ người làm sao tránh được đạn ? Vậy mà khi bị thương ra khỏi Quân Y Viện,vết thương vừa lên da non lại nhớ đồng đội,nhớ chiến trường. Nhớ mùi cỏ cây hăng hắc nồng nàn mỗi sáng đi mở đường trong rừng già,nhớ mùi những thân cây bị bom cháy đen vươn những cánh tay khẳng khiu trên trời những chiều đóng quân,nhớ những cánh rừng im lặng rợn người không một tiếng chim kêu vì muông thú đã bỏ đi hết do bom đạn Và chân lại muốn đi,đi về phía có ánh lửa chớp sáng trên đầu họng súng,nơi có những đồng đội chia nhau từng ca nước uống sặc sụa mùi bùn đỏ múc lên từ những vết xích xe tăng mà cơn mưa đêm qua còn để lại. Suối có khi rất gần nhưng không thể xuống được. Lọ mọ kéo nhau xuống lấy nước lũ “ mất dạy “ phục sẵn trong rừng bắn cho nát gáo. Nhớ những đêm nằm rừng,quần áo thấm nước mưa và mồ hôi vào ban ngày đã khô quắt lại,nằm trên võng treo bên dưới chiếc Poncho, cây súng dựng sẵn một bên. Nhớ những cánh rừng cỏ tranh cao lút đầu người,những ngày lội trong rừng cỏ tranh sắc như dao cứa đứt thịt da. Nhớ những con suối mùa khô xâm xấp nước,lá cây rừng rụng xuống hàng hàng lớp lớp,khi mang giày trận lội qua là chắc chắn những kẽ ngón chân sẽ lở loét,nhớ cả những vết muỗi rừng chích xuyên qua lớp poncho và bộ đồ trận đã dày cui vì mồ hôi và nhựa cây rừng.Và cứ thế, như có một sức hút kỳ lạ không giải thích được,người lính chiến miền Nam lại tiếp tục bước chân về phía chiến trường nơi rừng già,nơi tăm tối đến nổi không có lấy một chút ánh sáng hỏa châu màu đỏ quạch để soi sáng cho họ những cái chết đang rình rập trong bóng đêm mù mịt.

“ Những lần chuyển quân dù chẳng biết về đâu
Nhưng chúng tôi đều biết những gì đang chờ đợi sẵn
Như thể những viên đạn đồng trong lòng cơ bẩm
Xẹt ra khỏi nòng rồi kiến cắn tê mê
……………………………………..
Hãy mừng dùm anh dù bầm dập tả tơi
Anh vẫn được tăng phái xuống đồi
Tiếp tục những lần chuyển quân
Về những nơi mình không biết

( Người lính trở về với chiến trường )

Mà ngọn đồi nơi người lính Thám Kích Trần Hoài Thư “ được “ tăng phái thì có yên bình một chút nào đâu ! Vẫn là nơi chết chóc vang động tiếng pháo của Bắc quân đe dọa sự yên bình trên mảnh đất miền Nam nơi anh sinh ra,nơi có Mẹ Cha,có bầy em đang tung tăng đến trường mỗi sáng,nơi có những gia đình đoàn tụ mỗi ngày bên mâm cơm tối đạm bạc dưới ánh đèn.Và anh lại khoác áo trận để trở lại chiến trường cùng với đồng đội của mình dù biết rõ cái chết vẫn đang chờ anh qua cái họng đen ngòm của chiếc nòng súng,của chiếc lưỡi lê 3 khía nhọn hoắt trên nòng cây AK 47 sản xuất tại Liên Sô hay của Trung Cộng đang nhắm vào yết hầu của dân miền Nam.

“ Tôi qua đồi xám mây mờ núi
Thương về đâu một lũ sáo rừng
Hôm qua đồi ngập hàng trăm xác
Đạn pháo đào sâu bãi chiến trường
………………………………………
Có ai như thể người lính Thượng
Ngồi khom trên bờ đá thổi khèn
Hôm qua có những hồn ma lẻ
Lạc tìm về buôn bản cao nguyên

Có ai dưới lớp mồ hoang dã
Nằm xuôi chân mắt mở trợn trừng
Chiều nay sao mọc về phương Bắc
Sao ruột lòng vắt đỏ phương Nam

Cỏ tranh lớp lớp che đường dốc
Phòng tuyến buồn hiu nhuốm nắng chiều
Trận đánh cũng đi vào quên lãng
Sao còn rờn rợn những hồn xiêu “

( Đồi xưa )

Ra vậy ! Người lính Thám Kích Trần Hoài Thư,với tâm hồn của một người làm thơ đã nhìn thấy những con sáo bay về rừng trong chiều chuyển quân.Tâm hồn nhạy cảm dễ rung động trước cái đẹp của anh ghi nhận được những điều nhỏ nhoi tinh tế nhất và cả những hình ảnh dữ dội của cái chết khi nhìn thấy những người lính từ phương Bắc xa xôi nằm chết banh ruột trên đất miền Nam. Trên đất cao nguyên ngày đó có người lính làm thơ Trần Hoài Thư với những thị xã nhỏ bé “ đi dăm bước đã về chốn cũ “ như lời thơ trong một bài thơ của Vũ Hữu Định. Vùng đất đỏ quạch bụi bay mù trời dưới những vòng bánh xe GMC những chiều chuyển quân và ngập ngụa bùn đỏ vào những ngày mưa mù mịt của cao nguyên làm anh da diết nhớ nhà :

Anh ở trên rừng với Thượng với Kinh
Với những đại ngàn mặt trời mất tích
Những người chung quanh màu da đen nám
Nên cuộc đời anh cũng phải nám đen

Anh ở trên rừng mưa ngày mưa đêm
Không cần cùm chân mà chân khó bước
Bước một bước lên bùn già chân trước
Bước hai bước lên bùn non chân sau
……………………………………..
Anh ở trên rừng thương em nhớ con
Không biết làm sao để về dưới nớ
Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ
Cay cả cuộc đời lính thú cao nguyên “

( Anh ở trên rừng )

” Ăn trái ớt rừng cay nhung cay nhớ ” Ôi cha ! Câu thơ tuyệt vời !
Một ngày anh có khách đến thăm giữa núi rừng hiu quạnh,nơi chỉ có hầm hố súng đạn và những người lính trận dạn dày sương gió:

“ Em lên thăm anh mang mùi thiếu nữ
Nhà anh đây những hố hầm phòng ngự
Không có gì ngoài ít bài thơ
Không có gì ngoài những hoa mười giờ
Đỏ thắm cả một triền đồi heo hút

Em lên thăm anh áo màu hoa cúc
Mà hầm anh lâu quá không sửa sang
Em xem kìa,lựu đạn với dao găm
Không có cả một tấm hình để thêm tươi mát
Không có bức tranh dù là tĩnh vật
Để ấm cuộc đời trong tuổi thanh niên “

( Em lên thăm anh )

Và cứ vậy,hết cao nguyên lại xuống đồng bằng. Trên bốn vùng chiến thuật,những người lính trận miền Nam VN trải qua tuổi thanh xuân của mình trong lửa đạn. Họ tiếp tục có mặt nơi những tuyến đầu,nơi có những trò chơi chết người của súng đạn đang chờ đợi họ,không ngại ngần,không dè dặt để giữ vững sự bình yên cho đất nước.

“ Diều hâu đã về như một lũ âm binh
Kẻ trước kẻ sau lao vào địa ngục
Đêm không thấy đường giữ dây khỏi lạc
Chúng tôi băng đồng nước ngập
Giải cứu quê em

( Đêm tiếp cứu chợ Huyện )

Nhưng khi anh và các đồng đội,những “ diều hâu “ lao tới nơi địch về thì có khi đã không còn kịp nữa: Ngôi trường nghèo nàn tả tơi ở một vùng quê xa xôi trong cơn binh lửa đã cướp mất mạng sống của cô giáo trẻ,để lại một bầy học trò cũng nghèo nàn không kém đang sợ hãi nháo nhác bên xác cô giáo như bầy gà con mất mẹ :

“ Lũ bé quỳ bên xác cô trẻ
Đặt chùm hoa mếu máo gọi cô về
Cô không về,cô bỏ dạy,cô đi
Cô bỏ chúng con cô về xứ khác
Ta cắn bầm môi…em ơi,ta khóc
Em không về em cũng bỏ thanh xuân
…………………………………
Em bé quê ơi cho ta nhành bông
Một nhành bông quỳ vàng như màu áo
Ta đặt lên em.Trống trường ảo não
Như những hồi mặc niệm em tôi.
………………………………….
Ta đã về,và đã trễ,em ơi…

Tôi tin chắc là anh khóc . Vì chính tôi, khi đọc những câu thơ này cũng đang cay cay trong lòng muốn rơi nước mắt. Sự bình yên cho quê hương,cho những ngôi trường nghèo nàn ở những nơi xa xôi đã làm đổ biết bao nhiêu máu. Nhưng những người lính miền Nam đã bị phản bội. Máu xương của các người lính miền Nam, của đồng bào miền Nam đã bị phản bội vào cái ngày mà Richard Nixon,Tổng thống Mỹ bắt tay với Mao Trạch Đông, tươi cười cụng ly rượu mời nhau ở Bắc Kinh vào năm 1972. Trên bàn cờ chính trị quốc tế, do ảnh hưởng của “thầy dùi “ Henry Kissinger là Ngoại trưởng Mỹ gốc Do Thái thời đó – một con ma đi đêm theo kiểu Đại Sứ Henry Cabot Lodge thời Đệ Nhất Cộng Hòa – và những áp lực khác nhau từ nhiều hướng, người Mỹ bỏ bán đảo Đông Dương để hướng về Trung Đông,nơi mà đồng minh Israel thân cận của họ cũng đang lao đao trong vòng vây thù địch của những quốc gia Ả Rập thuộc khối Hồi Giáo. Rồi Hoàng Sa bị Tàu Cộng chiếm. Người lính trận miền Nam vẫn tiếp tục dũng cảm chiến đấu trong vô vọng.
Năm 1973 hiệp định Paris được ký kết. Quân đội Mỹ bình an rút về nước. Cũng từ đó,các viện trợ quân sự cho miền Nam chỉ còn nhỏ giọt. Máy bay,xe tăng nằm ụ vì thiếu nhiên liệu hoặc phụ tùng thay thế. Pháo yểm trợ cho các trận đánh chỉ bắn cầm chừng vì không còn đạn dự trữ trong khi Bắc quân rải pháo như mưa xuống các vùng hành quân bị cô lập vì không còn gì để tiếp tế cho họ,cho những người lính cắn răng chiến đấu trong sự thiếu thốn đến tận cùng. Khí tài,súng đạn vào những ngày tháng 4/75 chỉ còn đủ dùng trong một tháng,trong khi các nước đồng minh thuộc khối Cộng Sản tiếp tục tăng viện với số lượng không giới hạn các phương tiện chiến tranh cho Bắc quân. Vào những ngày cuối tháng 4/ 75, do thông tin liên lạc hoàn toàn bị cắt đứt từ trước đó nên đã có một đơn vị thuộc Liên Đoàn 81 Biệt Cách Dù không hề biết tin tức gì về chiến sự. Họ đang hành quân trong rừng già nhưng hoàn toàn mất liên lạc với Bộ Chỉ Huy của mình. Khi lò mò ra khỏi rừng về đến Tân Uyên thượng nguồn sông Đồng Nai họ đã bị bắt sống và cả 28 người lính đều bị xử tử, xác bỏ trôi sông. Và cuối cùng, điều không thể nào tránh khỏi đã xảy ra : Dương Văn Minh kêu gọi quân đội buông súng đầu hàng vào cuối tháng 4/75.
… Lịch sử sẽ ghi lại những vị tướng VNCH, những quân nhân các cấp thuộc mọi binh chủng đã tự sát vào ngày miền Nam bị bức tử. Lịch sử đã chọn các anh để giao cho phần đen tối nhất, thê thảm nhất. Những người lính phải buông súng khi không hề thất trận và các anh đã không thể có được sự lựa chọn nào khác cho mình. Thế hệ của các anh,rủi thay, rơi đúng vào thời điểm thê lương nhất trong lịch sử VN.

“ Thế hệ chúng tôi mang đầy vết sẹo
Vết sẹo ngoài thân và vết sẹo trong hồn
Không phạm tội mà ra tòa chung thẩm
Treo án tử hình ở tuổi thanh xuân

Thế hệ chúng tôi loài ngựa thồ bị xích
Hai mắt buồn che bởi tấm da trâu
Quá khứ tương lai,tháng ngày mất tích
Đàn ngựa rũ bờm không biết về đâu
……………………………………..
Thế hệ chúng tôi già như quả đất
Râu tóc mỗi ngày mọc những hoang mang

( Thế hệ chiến tranh )

Người lính làm thơ Trần Hoài Thư, vào thời gian này là một phóng viên chiến trường nên chỉ bị tù ba năm nhưng những sĩ quan khác thì triền miên đói khổ trong tù chẳng biết ngày về. Lại một giai đoạn bi hùng khác của quân đội VNCH,rất nhiều người đã bị giết, gián tiếp hay trực tiếp khi trong tay không còn tấc sắt. Nhà cửa họ bị tịch thu. Vợ con họ sống lây lất trong các khu Kinh Tế Mới heo hút trong những vùng xa xôi rừng thiêng nước độc,đầy dẫy bom mìn còn sót lại. Chiến tranh đã đi qua nhưng những ký ức đau đớn vẫn còn nguyên vẹn trong lòng Trần Hoài Thư :

“ Da ông bạn màu đen
Tóc ông bạn màu trắng
Da của tôi màu vàng
Tóc của tôi màu trắng

Màu trắng của Daksuk
Màu trắng của Mang Giang *
Màu trắng của mù sương
Màu trắng của mây bạc
Thời chúng ta đánh giặc
Nhuộm mãi đến bây giờ

( Trắng )
* Chú thích: Các địa danh của Cao nguyên Trung phần

Những ngày sống trên đất Mỹ nhìn đất trời cô tịch – như rất nhiều những nhà thơ VN khác – lòng anh bùi ngùi nhớ quê hương.

“ Ở đâu cũng vẫn đất trời
Cũng rừng cô tịch cũng đồi tà dương
Cũng ngày nắng cũng đêm sương
Cũng qua cũng lại phố phường người dưng
Cũng trên trời một vầng trăng
Cũng sông vẫn chảy hai dòng ngược xuôi
Nhưng sao lòng lại không nguôi
Nghe như bìm bịp gọi chiều nước lên “

( Xa xứ )

A ! lại con chim bìm bịp ! Loài chim có nhiều nơi sông nước miền Tây có tiếng kêu rất buồn,rất đơn điệu kêu theo những con nước ròng lên xuống.Tiếng kêu mênh mang trên những dòng sông trôi lặng lẽ ra biển,chẳng ai nhìn thấy con chim ở đâu nhưng tiếng kêu cứ vang vang trên dòng nước chảy,tiếng kêu thấp xuống dần rồi tắt hẳn trong những bãi bờ xanh ngắt ven sông. Anh làm sao mà nguôi ngoai được những ngày binh lửa còn váng vất trong trí nhớ. Lòng anh giờ cũng buồn thảm như tiếng bìm bịp kêu một mình trên những dòng sông đỏ màu phù sa của một quê hương bây giờ xa thẳm ngàn trùng.

Bảy mươi lăm tuổi. Đời người không còn mấy nổi. Anh vẫn cặm cụi và tỉ mỉ làm cái công việc của riêng mình hàng ngày,vẫn chăm chút những tác phẩm văn học của miền Nam nhưng sẵn sàng tặng không cho những người còn quan tâm đến văn chương miền Nam một thời chìm trong lửa đạn.
Riêng với tôi, anh vẫn cứ là người lính Thám Kích của gần 50 năm trước. Anh vẫn là người đi đầu, chấp nhận gian khổ và hy sinh như ngày xưa nhưng trên một mặt trận hoàn toàn khác : Mặt trận Văn Học.Văn Học miền Nam.

Viết để quý tặng anh Trần Hoài Thư
Như Không
3/2017

_____

(1) Thật sự Sư Đoàn 22 BB có 4 đại đội thám kích biệt lập. (ghi chú của THT)

Vùng đồi

Trần Hoài Thư

18 năm trước đây, tập truyện Vùng Đồi của Phạm văn Nhàn đã được Thư Ấn Quán xuất bản.

vungdoi

Trong phần ghi nhận cảm nghĩ về tác phẩm này, tôi đã viết như sau:

Xin cám ơn anh chị PVN đã cho tôi được cơ hội tô điểm thêm màu xanh trên Vùng Đồi, một màu xanh kỳ diệu, mà khi tôi đọc xong, tôi lại càng cảm nhận hơn về ý nghĩa của nhân sinh, về màu áo trận, về những con người rất vô danh mà tâm hồn vô cùng lớn lao. Vùng Đồi đã cho tôi thiết tha hơn với cuộc sống, giúp tôi ngẩng mặt với chiếc áo trận xanh bạc màu từ lâu đã bị bỏ quên. ?
Hầm Thư An Quán
Ngày 15/7/2000

18 năm sau, kể từ khi tác phẩm ra đời, tôi nhận món quà mang tên Vùng Đồi cũng của Phạm văn Nhàn. Đó là CD gồm hai truyện đọc trên đài phát thanh tại Houston. Truyện thứ nhất là Vùng Đồi và truyện thứ hai là “Buổi chiều trong thành phố”.

Tôi say mê  biết bao giọng dọc của hai người nam nữ trong audio.  Một lần nữa, xin được cám ơn bạn ta về món quà văn nghệ đặc biệt này. Xin được chia sẻ cùng quí bạn trên cõi Ảo:

VÙNG ĐỒI

BUỔI CHIỀU TRONG THÀNH PHỐ

Tác phẩm đầu lòng

 

Trong ” NHÌN TRỞ LẠI MỘT    ĐỌAN ĐƯỜNG”, nhà văn Mai Thảo  viện dẫn  nhà danh họa Rouault để  nói  về ý nghĩ của ông về những tác phẩm của mình mười năm trước, đặc  biệt là tác phẩm đầu đời:

 Rouault trước phút lâm chung, đốt cháy tất cả họa phẩm là công trình sáng tạo vô song của một khả năng thiên tài sáng tạo. Sau những chiến dịch cải tạo tư tưởng, định lại lập trường của người làm văn học nghệ thuật mác xít là những tuyên bố đầy ăn năn khai tử những tác phẩm cũ như những đứa con đẻ hoang, những vấp ngã lạc đường. Nhiều nhà văn Pháp, trước đây từng đã lên tiếng về tác phẩm thiếu thời, thơ văn đầu tay của mình. Để chúng đó. Như những cái đã có, đã thành của một trở thành liên tục. Nhìn lại một đoạn đường : chỉ là những cái hỏng, những cái yếu, những cái non. Ta đó. Nhận là ta đó. Cố mà khá hơn.

(nguồn: Thư quan bản thảo số 68)

Có nghĩa là, với Mai Thảo, tác phẩm đầu đời  “chỉ là những cái hỏng, những cái yếu, những cái non.”…

Có thật vậy không ?

 

oOo

Mới đây, Ông bạn già của tôi – bác sĩ Đỗ Hồng Ngọc (tức nhà thơ Đỗ Nghê) có nhận xét về  những bài thơ dăng trên nguyệt san Tình Thương – nguyệt san của Sinh viên Y Khoa SG (1964-1967):

Tuổi 18-20 thuở đó, thơ mình còn cái giọng… ngây thơ hết sức! Mình vốn thủ cựu, nhà quê thứ thiệt, thơ tình chẳng có gì đáng nói. Nhưng nay bạn đã hỏi thì cũng chìa ra cho vui!

Nhưng phải nói thiệt, khi mình in tập thơ Tình Người (1967), mình cũng đã có một bài khá dễ thương, có thể coi như là một “tuyên ngôn” nho nhỏ cho riêng mình:DN-img-nu-cuoi-hai-muoi-101-678x1024

 

Bạn thấy đó. Ngây thơ và thiệt thà hết sức! Và quả thật, không biết sao, mình vẫn mến cái nụ cười hai mươi đó, vẫn cảm động khi đọc lại hôm nay. nụ cười đó không  tàn theo năm tháng/ mãi mãi là nụ cười hai mươi/ của những người gái người trai/ suốt đời thương số kiếp/ nhưng chỉ của những người/ mang một niềm tin biển khơi/ TÌNH NGƯỜI ngày mai.

(Đỗ Hòng Ngọc: Thơ tình… Đỗ Nghê (*) trên Nguyệt san Tình Thương (63-67)) , http://www.dohongngoc.com/web/lom-bom-hoc-phat/nghi-tu-trai-tim-lom-bom-hoc-phat/thu-goi-ban-xa-xoi-5-2017/

Với Rouault: đốt. Với Mai Thảo: chỉ là những cái hỏng, những cái yếu.  Với Đỗ Hồng Ngọc: không biết sao, mình vẫn mến cái nụ cười hai mươi đó, vẫn cảm động khi đọc lại hôm nay. Mỗi người một quan niệm.  


Ngây thơ, dễ thương hết sức, chưa đủ ông bạn bác sỹ nhà thơ của ta ơi. Còn có tự hào, có độc giả, có bằng hũu, có tình thân… Ông Mai Thảo chỉ là thợ, bởi vì ông sống bằng nghề viết văn.Mà viết văn đòi hỏi kỹ thuật hành văn, kỹ thuật xấy dựng nhân vật…  Còn người thơ thì khác. Thơ họ dựa vào nhịp đập của trái tim. Những bài thơ 18, 20 ấy, chắc chắn là ngây ngô, dại khờ, nhưng khó tìm được những bài thơ ấy trong cuộc đời mình. Bởi vì tim chỉ đập một lần chứ không thể hai lần cho một bài thơ. 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh: VẼ TRÊN XƯƠNG LÁ

Lời chũ blog: Những ân cần  và thương mến mấy hôm nay mà bạn bè thân thiết đã dành cho  ngày sinh của  “con ngựa chứng”  thật vô cùng kỳ diệu. Mà truyện ngắn này của  Cam Li Nguyễn thị Mỹ Thanh đã nói lên điều đó.
Xin phép Cam Li cho tôi được gởi đến những bạn đọc blog tôi một bài văn còn nóng hổi của một nhà văn rất quen thuộc ở hải ngoại . Xin được cám ơn Cam Li(THT)

“Bởi chữ nghĩa không đủ lớn để tả đời người
Tôi xin một lần vẽ trên xương lá.”
Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

 (Thay món quà sinh nhật, kính tặng Nhà Văn Trần Hoài Thư)

Cuối năm, trời thật lạnh, chỉ có mấy độ F mà thôi. Miền Đông.

Tôi chợt nhớ những ngày còn bé. Trời lạnh, tôi hay hà hơi lên cửa kính, rồi vẽ chữ trên đó. Chữ sẽ mau tan vì hơi nước sớm bay đi. Lúc tôi quen nàng, cũng hay vẽ chữ kiểu đó. Viết lên kính coi bộ dễ hơn nói. Bản tính nàng vốn rụt rè. Mà con gái ngày xưa ai cũng rụt rè như vậy. Tôi thì hùng hổ hơn, nhưng cũng rất ngại ngùng sợ nàng e thẹn, mất lòng. Đành vẽ chữ vậy! “Anh yêu em.”

Tôi muốn trở lại. Vâng, tôi rất muốn trở lại, khoảng thời gian đẹp như mơ đó. Nàng vẫn ở bên tôi. Tôi rủ rê:

“Đi, em!”

“Đi đâu?” Nàng hỏi trong khi mở to đôi mắt.

“Về nơi khi xưa mình hẹn nhau lần đầu.”

“Nơi nào?”

Nàng hỏi rồi tự trả lời:

“Nhớ rồi… Không đi được.”

“Tại sao?”

“Chân tôi… đã không thể đi được.”

Tôi như vụt thoát ra khỏi giấc mơ. Trong đôi mắt của nàng, lệ đã cạn từ lúc nào.

“Mình nè, “đi” không có nghĩa là phải dùng đôi chân. Tôi giúp mình, tôi đẩy xe lăn cho mình. Mình vẫn có thể lên xe, lên tàu, lên máy bay, mình hiểu không?”

Nàng lắc đầu, thở dài:

“Không dễ đâu mình à! Mình cũng đau yếu, tôi không nỡ…”

Chúng tôi cùng im lặng. Tôi len lén thở dài, sợ nàng nghe thấy. Mới hồi đêm, tôi trải qua một cơn đau thấu trời. Tôi tưởng mình không đi được nữa. Ban đầu còn ráng vịn tường mà đi, sau thì quỵ xuống, lê lết trên nền nhà. Tôi tưởng mình sẽ nằm luôn trên đất. Nhưng có một tiếng vọng từ đâu thúc giục, nhắc tôi ngày mai đem thức ăn vào cho nàng. Nàng trông ngóng tôi lắm đấy! Tôi lầm bầm nguyền rủa chứng bệnh gout quái ác. Mày không đánh gục được tao đâu! Không bao giờ đâu!

 


“Ngon không?”

“Cái gì ngon?”

“Trời!.. Thì thức ăn có ngon không? Tôi nấu đó!”

“Biết rồi! Mình nấu. Nhưng tôi nấu mới ngon.”

Hôm nay thấy nàng biết trêu đùa, tôi lấy làm mừng. Tôi sợ những lúc nét mặt nàng lạnh tanh không lộ cảm xúc, trông không giống người yêu của tôi khi xưa chút nào. Khi xưa chúng tôi đâu có mấy khi được gần nhau. Và những khi có nhau, nàng vui vẻ, nhiệt thành. Tôi là lính, một thứ lính rất dữ – nói “dữ” là vì chúng tôi chịu quá nhiều nguy hiểm – ở rừng nhiều hơn ở thành phố. Ngay cả ngày đám cưới chúng tôi cũng vội vàng, chú rể mặc bộ quân phục, cô dâu mặc áo dài giản dị, trang điểm đơn sơ. Đám cưới xong, tôi lại đi. Rồi từ đó về sau, nàng cứ phải nói hai chữ “Lại đi!” Như một điệp khúc, không chán.

Tôi lấy chiếc khăn giấy lau cho nàng miếng cơm dính ở phía trên môi. Nàng nhìn tôi, tia mắt lạ lùng. Rồi như chợt hiểu ra – lúc này nàng hiểu khá chậm – nàng lộ vẻ cám ơn. Khi nàng ăn, tôi phải đút. Nếu không thì tôi phải giữ chén cho chắc để nàng múc cơm bằng một tay. Có rất nhiều lúc nàng không muốn ăn. Tôi phải năn nỉ, thậm chí dọa nạt để khiến nàng ăn. Tôi hiểu rằng trong tâm trí của nàng, cuộc sống đã trở nên nặng nề quá đỗi.

Ăn xong tôi đẩy xe cho nàng ra hưởng chút không khí ngoài sân. Có nhiều người đã ở đó. Họ là “hàng xóm” của nàng. Có cả “bà cụ share phòng” với nàng nữa. Khi hơi khỏe trong người, bà cụ tỏ vẻ dễ chịu. Nhưng khi cơn bệnh trở lại, bà cụ sẵn sàng la lối, khóc lóc, nói bậy. Và nàng thì im lặng chịu đựng.

Mọi người chào nhau trong hành lang. Rồi thì hai chúng tôi tìm một chỗ vắng cho mình. Nàng nhìn thấy trời xanh, cây lá, nét mặt sáng lên. Tôi kéo một chiếc ghế, ngồi bên nàng. Nàng nói:

“Mình mệt đó!”

“Sao mình biết?”

“Mình đau chân, mất ngủ, còn lo nấu ăn cho tôi.”

“Thì tại mình chê thức ăn kiểu Mỹ trong này, tôi nấu món Việt cho mình. Cũng đâu có mất công bao nhiêu. Miễn mình vui là được.”

“Tôi chỉ vui khi được ở trong căn nhà của mình.”

Giọng của nàng như chùng xuống. Tôi nói nhỏ:

“Tôi sẽ xin cho mình về.”

“Đừng, mình! Tôi sẽ không về. Chính tôi muốn ở đây. Mình không săn sóc tôi nổi đâu. Trong đây có bác sĩ, có người tập tành.”

“Nhưng…”

“Xin mình đừng nói gì hết. Mình hãy để mọi việc như bây giờ, đừng thay đổi gì nữa.”

Nghe câu “Đừng thay đổi gì nữa” như một lời cam phận. Từ lúc nàng té xuống, chúng tôi đã mong có sự thay đổi, mong ở phép lạ. Mấy năm qua rồi, phép lạ không đến với chúng tôi. Giải thích sao đây? Tôi bây giờ chỉ còn lại hai chữ “khổ nạn.” Nàng đang gánh khổ nạn. Không ai có thể gánh thay nàng.


Tôi đi xuống tầng hầm. “Xưởng in” của tôi là đây! Rón rén, rón rén… cứ như là đi hành quân. “Chiến trận” của tôi cũng ngổn ngang tệ! Máy in, máy cắt, toàn là do tôi tự chế, giấy má, bì thư… khắp nơi. Những khi ngủ không được, tôi đều đi xuống giang sơn riêng của mình. Lúc nàng còn khỏe, còn ở nhà, cũng đã là như vậy.

Tôi ngồi vào máy computer. Phải “layout” cho xong số tới. Bạn bè, em út gửi bài, sửa bài xong rồi, công việc này là của mình. Ngày mai, ngày mốt cho báo “lên khuôn”, rồi mình tự tay cắt xén, khâu gáy. Trời ơi, những từ ngữ này nghe sao mà thân thương, sao mà hấp dẫn quá vậy? Tôi thừ người, nhớ ra một điều. Bài của mình đâu? Mình là nhân vật chủ chốt, phải có bài chứ! Ngày xưa băng rừng lội suối mà viết lách cũng dễ dàng làm sao! Bạn bè viết văn, làm thơ, có người bài chưa kịp gửi đăng báo đã ngã xuống mãi mãi. Có bạn gửi thịt da vào bớt trong đất. Chính vì vậy mà tôi đã không mệt mỏi làm cho bạn văn bạn thơ sống lại, trả vinh dự cho những người lính cầm bút, là bởi vì họ xứng đáng được như thế. Và còn nhiều, nhiều nữa, những tạp chí vang bóng một thời mà ngày nay bị quên lãng, tôi đã tìm tòi, làm hồi sinh. Tôi sẽ không làm được chuyện này dễ dàng nếu không có nàng cùng gánh vác. Hai vợ chồng đã đến Thư viện Cornell cách nhà năm, sáu tiếng đồng hồ lái xe, tìm đọc những bài xưa cũ, copy đem về. Sau này thì sắm máy “scan”, công việc nhanh hơn và đỡ tốn tiền hơn một chút. Khâu vá di sản văn chương miền Nam! Nghe mà cảm động.

Bài của mình đâu? Không cần cầm bút, tôi gõ bằng máy computer. “Theo em.” Ngày xưa theo em trên con đường hoa, nhặt những chiếc lá vàng đẹp mang về ép, ép khô xong chúng tôi vẽ thơ lên đó. Có khoảng đời theo em vào thư viện, thư viện Cornell. Bây giờ theo em vào nursing home, em ngồi trên xe lăn với nửa thân tê dại. Tự nhiên nước mắt tôi chảy tuôn, dào dạt. Sao tôi thương em, thương thân quá đi!


Tôi giật mình thức dậy sau giấc ngủ mê thiếp. Hai chân tôi đau nhừ. Bệnh gout lại hành hạ. Nhưng kìa, chồng sách mình hoàn thành đêm qua! Tôi đã ngủ vùi sau đó, ngay trong tầng hầm này. Tôi nâng niu từng cuốn. “Lão gàn!” Tôi tự mắng yêu mình như vậy. Sách chỉ in tặng, không bán. Mà không phải bạ ai cũng tặng. Ai quý, ai yêu cầu thì mới in, mới tặng. Nghe gàn thật!

Như một quán tính, tôi nghĩ mình sẽ gọi vợ, khoe với nàng là đã xong xuôi, công việc còn lại là của nàng: cho vào bì thư, hoặc gói lại, ghi địa chỉ, đem đi bưu điện, dán tem hay đóng dấu… Nhưng tôi chưng hửng. Nàng không còn làm được cái việc này nữa. Nàng đang nằm trong nursing home, nhớ không? Tôi thở dài, lặng lẽ ôm từng chồng sách ra garage, chất vào thùng xe. Tôi lại phải tự mình làm thôi! Lặng lẽ và chăm chỉ. Như con ong, cái kiến.

Rồi cũng xong việc. Tôi cũng đã quen rồi!

Trong thùng xe chỉ còn lại hộp thức ăn cho nàng. Tôi lái xe chạy vào nursing home. Tôi tự khen mình giỏi, mỉm cười.
Nàng vẫn ngồi trên giường, chờ tôi. Đã quen với hình ảnh này rồi, không còn cách nào hơn. Nàng lên tiếng hỏi trước:

“Mình đã gửi sách đi xong?”

“Sao mình biết?”

“Việc này là của tôi mà! Mình làm tới đâu, tôi cũng đoán ra hết.”

“Mình giỏi lắm! Mình vui là được.”

“Tôi vui lắm chứ!”

“Tôi giúp mình ăn nhé!”

Nàng lắc đầu:

“Tôi chưa muốn ăn. Đêm qua tôi ngủ không được, sáng dậy hơi đau mình.”

“Tôi báo y tá, xin thuốc cho mình nhé!”

“Không cần uống thuốc đâu! Mình ơi, tôi chỉ muốn mình cạo gió cho tôi.”

“Được.”

Xem ra ở đất Mỹ mấy mươi năm mà nàng vẫn còn giữ thói quen của người Việt thời xưa, thích cạo gió, cũng như thích xông nồi lá giải cảm khi ở nhà. Dĩ nhiên tôi phải ra xin phép y tá. Bà ấy bảo không sao. Với một lọ dầu, một đồng tiền xu, tôi cạo gió cho nàng. Chẳng có ai khác trong phòng để mắc cỡ, “bà cụ share phòng” đã có con đến đẩy ra phòng ngoài chơi.

Tôi giúp nàng xắn lưng áo lên, rồi thoa dầu, dùng đồng xu cạo nhè nhẹ lên đường xương sống, từ đó cạo ra hai bên. Nàng tỏ vẻ dễ chịu. Hình ảnh một bộ gân lá dần dần hiện lên, cùng lúc tôi xót xa nhận ra nàng đã ốm đi nhiều quá! Tôi gượng tay, như sợ đồng xu cọ sát làm đau những vùng xương lộ rõ. Tôi không còn như người cạo gió nữa, mà tôi vẽ. Vẽ trên gánh đời. Vẽ trên cây thập giá mỗi người chúng tôi phải mang vác. Mình ơi, hãy cố gắng. Em ơi, hãy cố gắng. Cho dù ngày mai có ra sao, anh vẫn theo em. Theo em!

 

Cam Li Nguyễn Thị Mỹ Thanh

Tháng 12, 2016

Trần Vấn Lệ – Mừng Sinh Nhật Trần Hoài Thư

tvl
Bạn ta: Trần Vấn Lệ

Năm mươi năm mừng sinh nhật bạn mình. Tính từ ngày hai đứa cùng vào Thủ Đức (*). Mừng cả hai là vẫn còn chưa mất. Thương Luân Hoán mất một bàn chân. Thương Nguyễn Ngọc Hương vừa mới ra quân… để lại một bàn tay trên rừng Bình Định. Thương những thằng nửa đường gãy gánh, tuột ba-lô đi vào Thiên Thu!

Mới Thứ Bảy này, anh em nhắc Trần Hoài Thư, con gà trống bây giờ đúng là con gà trống, chị Yến thì đã vào Nursing Home tìm hy vọng… Cuối đời người ai cũng hắt hiu!

Mới Thứ Bảy này bè bạn không nhiều, nhưng còn được đứa nào còn mừng đứa nấy… Mừng bởi vì chúng ta còn Thứ Bảy, còn những tách cà phê còn những chai bia, còn những chia lìa Trời kêu ai nấy chịu! Cuộc họp bạn bè càng ngày càng thiếu, nhắc Nguyễn Xuân Hoàng, Đinh Cường, Trần Ngọc… lung tung. Nhắc đến chị Yến, đôi khi, ai cũng thấy đau lòng, tự hỏi Trần Hoài Thư có gì vui không trong cuộc sống? Sách ôi sách, sách từng chồng từng đống! Chàng còng lưng se chỉ luổn kim? Thỉnh thoảng chàng chắc có gọi “Em”… và chị Yến nghe gì đâu mà đáp!

Năm mươi năm, làm bài thơ Sinh Nhật, gửi bạn mình đây, nhận nhé Trần Hoài Thư! Hãy mở ra nhìn rồi xếp làm tư như xếp lá thư tình ngày xưa để vào túi áo. Bốn mươi năm đi tìm cơm gạo, nhớ thương về… áo não Quê Hương! Bè bạn lạc bốn phương, chí lớn khi không đi vào ngõ nhỏ… Mẹ Cha già đâu còn nữa mà chờ. Mừng thấy bạn vẫn còn làm thơ. Tôi cũng mừng tôi còn làm thơ gửi bạn…

Năm mươi năm… hai đứa mình tóc trắng
Nhớ thương nhau nhìn mây trắng cuối trời!

Trần Vấn Lệ

(*) Khóa 24 SQTB Thủ Đức khai mạc vào tháng 11 năm 1966, kết thúc giữa tháng 8 năm 1967

(nguồn: Blog tranthinguyetmai http://tranthinguyetmai.wordpress.com)

Phạm văn Nhàn : Một Tấm Hình. Làm Ta Nhớ.

                                                      Bài viết của Phạm Văn Nhàn 

my portrait

Buồn, lang thang trên blog của bạn bè. Thấy bạn ta có một tấm hình mới chụp. Ta cười vui rất vui. Nhìn lại ta và bạn ta. Những người vượt thoát ra ngoài “thất thấp cổ lai hy “, ngoảnh lại thấy đời qua mau quá nhỉ ?

Phải không, bạn hiền một thời vất vả. Nhiều người, có lẽ nhìn bạn qua tấm hình “tóc bạc trắng phao” mà buồn cho một Trần Hoài Thư ngày nào xa lắm. Nhưng, với tôi thì không. Nhìn bạn tôi thấy vui. Vui như có những con chim sẻ nâu đang vờn xuống sân nhà của ngôi nhà cổ 100 năm, ngày nào tôi lớn. Vui như ngày nào gần 50 mươi năm có lẽ, trong ngôi nhà thuê ẩm hơi mốc vì thiếu bàn tay chăm sóc của con người. Thế mà vẫn vui, vẫn cười. Dù trước mặt chúng ta là một vùng sinh tử đang chờ. Bạn từ chiến trường về. Ta mượn câu thơ trong bài ” Màu Tím Hoa Sim” của Hữu Loan: Đôi giấy đinh bết bùn dất hành quân. Bạn trở về nơi ngôi nhà trong khu sáu. Tiền lính tính liền, tình yêu cũng không, nghèo chết xác thế mà vẫn vui trên mái tóc của hai người bạn còn xanh.

Cũng may, đôi giầy đinh bết bùn đất hành quân quân ấy vẫn còn cho mãi đến hôm nay, Nhìn lại, tôi với bạn, đã vượt ra ngoài khuôn mẫu : thất thập cổ lai hy thì phải vui là phải chứ?

Tôi khoái mái tóc bạc này. Đâu còn một Trần Hoài Thư : ốm o gầy mòn. Lính gì mà ốm quá, chữ của Nguyễn Lệ Uyên dùng để chỉ tôi với bạn. cái tạng người nó là vậy mà. Mập ú na ú nầng làm sao mà lội. Mấy ông ú na ú nầng thì ngồi văn phòng núp bóng. Còn mấy thằng gầy, ăn gạo sấy, uống nước sông nước suối, ba lô súng đạn, nằm bờ nằm bụi thế mới có ngày hôm nay. Không thảnh thơi vui thú rượu bầu, nhưng cũng nghĩ lại ta đã làm tròn xong bổn phận.

Cái tuổi trên ngoài bảy mươi, tôi nghĩ về bạn thôi, không dám nghĩ về ai cả. Bạn đã vượt thoát đến một trình độ : hoàn hảo. Về cái gì? Xử sự và xử thế. Đúng không? Tự nhiên nhìn mái tóc bạc phơ trên đầu bạn. Tôi nghĩ như thế.

Mà đúng vậy, trãi nghiệm qua cuộc đời bạn đã không làm thì thôi. Làm thì đến nơi đến chốn đúng với tâm nguyện của chính mình, ngay thẳng. Không vượt ra ngoài khuôn khổ của đạo.

Không như những cậu thơ quá buồn mà bạn đã làm:……

“Hãy nhìn đầu ta một vùng trắng phủ
Hãy nhìn tóc ta, sợi ngắn sợi dài
Đã gần hai năm bỏ phế tóc tai
Đời thảm quá  lấy ai mà  “trang  điểm ?”
 

Còn chị đấy chứ. Ở cái tuổi ngoài bảy mươi. Bạn cười. Chị vui. Và, tôi đang nhìn thấy bạn cười kia mà. Mặc dù, tôi biết bạn còn trăm cái lo, ngàn cái lo. Lo cho vợ. Từ cái ăn, cái mặc, cái tắm, cái rữa, cái đi đứng, và cách nói chuyện cho chị Yến vui. Cho nên, nhìn bạn mĩm cười. Nhìn mái tóc bạc như ông tiên, đâu cần trang điểm ( một hình thức bề ngoài ) là tôi biết chị Yến sẽ vui và bạn sẽ vui biết mấy. Phải không?  Từ cái vui đó như có bướm hoa xúm xít vờn chơi.

Nhất là ở cái tuổi ngoài bảy mươi. Đỗ Phủ có làm bài thơ : Khúc Giang Nhị Thủ, trong đó có hai câu thơ: ” Nhân sinh thất thập  cổ lai hy. Xuyên hoa giáp điệp thâm thâm kiến”  Theo bản dịch của Vũ Quốc Huệ : Xưa nay bảy chục tuổi đời hiếm hoi. Bướm hoa xúm xít vờn chơi….

Do đó, nhìn hình bạn, phải nghĩ bạn hôm qua  và ngày nay thì mới biết được hết dược một người bạn. Ngày xưa, mượn mấy câu thơ của Đỗ Nghê :Súng dòn/ Ánh sánh lóe lên/ Đạn đan trên nền trời…Thế mà tụi mình vẫn cười, vẫn vui và vẫn tếu thì hôm nay, tóc trên đầu dù có bạc trắng thì bướm vẫn vờn chơi ở cái tuổi: nhân sinh thất thập cổ lai hy này.

Tôi vẫn thích tấm hình này của bạn , cho nên tôi vui ở cái tuổi như bạn hôm này, mà tức cảnh ( hình) nên lời vậy.

 

rớt xuống lòng ta những mặt người…

Tôi mới nhận được tập thơ từ một thân hữu. Trần Thụ Ân.  Không thấy tên nhà xuất bản. Không thấy bạt, tựa. Không thấy tiểu sử. Không hình ảnh chân dung. Chỉ là những tờ giấy khoan lỗ, kết dính lại bằng những khoanh, như ta vẫn thường thấy ở những binding về hồ sơ…. Rõ ràng, người bạn mới quen, đã tận dụng computer để tạo nên một món quà văn chương dã chiến.

Vậy mà, tôi trân trọng để bên giường. Vậy mà, đêm đọc bài thơ, mà sáng thức giấc cứ bềnh bồng ý thơ Trần Thụ Ân. Để phải đến computer mà ghi vội.

Một ngày, một đời

buổi sáng mang hồn thơ lên núi
tới cổng chùa sóng sánh tràn ra
ngồi kiết già đọc kinh Bát Nhã
thơ chìm vào kinh mất cả ta

buổi trưa thiền hành nghe chim hót:
công án ngàn đời gửi nhân gian
bước chưa qua khỏi lời ai oán
đành thở dài thêm tiếng gió khàn

buổi chiều theo lá rơi xuống núi
bỏ ưu phiền ở lại cùng cây
mây bay thanh thản đưa tay vẫy
mặt trời chìm sâu đóng cửa ngày

buổi tối nở đầy sao trong mắt
quê quán đời xưa lóng lánh soi
nhón gót giữa trời đưa tay vói
rớt xuống lòng ta những mặt người

(Trần Thụ Ận)

 

Thành thật mà nói, ba đoạn đầu tiện, tôi  nghĩ chúng là những đoạn thơ hay. Cái hay không phải bắt nguồn từ cảm nhận, nhưng từ những ý từ lạ, từ thi tứ đẹp, từ một  thi tài biết vận công chữ nghĩa. “Rằng hay thì thật là hay/ Nhưng hay không phải  ngất ngây  thế này…”:

Vâng ngất ngây như khi đọc đoạn cuối:

buổi tối nở đầy sao trong mắt
quê quán đời xưa lóng lánh soi
nhón gót giữa trời đưa tay vói
rớt xuống lòng ta những mặt người

Tôi thấy lại tôi qua từng ý, từng lời. Tôi thây những đêm trời sao, khi làm người lính núi:  đêm trên cao, sao như càng thấp lại, và trăm, ngàn, vạn vì sao hiển hiện. Có sao mờ. có sao sáng. Có sao băng, cho một người đồng đội vừa ngả xuống. Có sao ràn rụa, như màu lệ long lanh, có sao hun hút cô đơn, như người đầu non, cuối bãi, làm lính thú nhớ nhà… Và thêm nữa. Những vì sao nở khi một trái sáng, bắn lên từ dưới dất, hay một trái hỏa châu được thả xuống từ chiếc C123 để soi chiến trường nguy ngập. Trái sáng thì tắt nhanh, còn hỏa châu thì vùng ánh sáng òa vở, chói lòa, và từ từ tất dần. Nhưng cả hai, đều giúp cho những người lính đang bị vây khổn,  thấy  được hiện trường, và thấy cả những mặt người…

 

Những mặt người ấy là ai?  là đồng đội của tôi. Là “Hảo, Chắn, Nai, Tài Xóc dĩa/ Là Sơn, Y Đao, Nay Lak, Ông Tướng, Bình Lò Heo, Nay Lat. Là Bầy diều hâu bỏ núi khóc òa…”

Bây giờ tôi mới hiểu sức truyền cảm của thơ quả là mạnh mẽ đến dường nào.

 

 

 

Chúc mừng nhà thơ Viêm Tịnh

Hôm nay, tập thơ đầu tay của một nhà thơ mà tên tuổi quá quen thuộc trước 1975, đã được cơ sở Thư Ấn Quán xuất bản và bắt đầu  gởi tặng biếu đến một số thân hữu lựa chọn.

Đây là một món quà của một số anh em ở Mỹ gởi đến một nhà thơ ở quê nhà, bằng tất cả những tình thân thiết bằng hữu. Người đóng góp tranh bìa và phụ bản (Đinh Cường). Người trình bày bìa (Phạm Cao Hoàng). Người đánh máy, layout (Phạm văn Nhàn). Người sửa lỗi chánh tả, làm mục lục: TT Nguyệt Mai. . Người lựa giấy in,  in ấn, đóng cắt, và chăm sóc tổng quát (Trần Hoai Thư). Sách dày 130 trang, in bằng loại giấy rất hiếm ngoài thị trường. Và dĩ nhiên, Internet là nhịp cầu giúp cho tác phẩm được hoàn thành nhanh chóng. Một cái click là thơ từ Huế bay ra Houston. Một cái click là thơ từ Houston bay đến Ohio. Và từ Virgia, New Jersey, California.  Để rồi những tập sách lần lượt nằm yên trong những bao thư vàng, theo đường bay hạng nhất. Để  thăng hoa một thứ tình không bao giờ phai nhạt. Tình văn chương..

Xin được chia xẻ niềm vui .cùng với bạn thơ VT

THT

 

 

Mũi tên và luật nhân quả (1)

scan0003\

(Mũi Tên – Truyện ngắn, trích từ Cỏ daffodil thắt bím, tập truyện của Nguyễn Âu Hồng, do Thư Ấn Quán xuất bản vào tháng 4-2014. Truyên được đăng trên tạp chí TQBT số 59 tháng  3-2014)

_____

 

Tôi đã đọc truyện Mũi Tên , để càng thấy về thuyết nhân quả bàng bạc khắp truyện

Qua cuộc hành trình của nhân vật chính là một người đàn ông tên là Lou.

Qua cái mũi tên của tay bắn cung thiện xạ bắn vào con ngỗng trời.

Con vật dù trúng tên nhưng cũng thoát được con chó săn chuyên nghiệp của Lou. Nó sống hay chết không thể biết.

Có điều, mũi tên sẽ găm vào thân hình nó.

Mà thủ phạm là một tay thợ săn , mang trong người  giòng máu từ một tổ tiên Maya  hiếu chiến. Một “gene” cũng nên.

“Người Maya là một dân tộc vô cùng hiếu chiến.                     

“Cuộc sống của họ được đánh dấu bằng những nghi lễ tàn bạo và liên miên chìm trong chiến tranh đẫm máu.                                                 

“Nền văn minh Maya không tan rã đột ngột mà là một quá trình đau đớn và chậm chạp.                       

“Ngoài việc tàn sát lẫn nhau người Maya còn tàn phá rừng nhiệt đới dẫn đến sự cạn kiệt môi trường sống. Cuối thế kỷ 9, nước cạn khô trong các kênh rạch, nước ngầm rút sâu đến 150 m…

Cái chết từ từ của người Maya đã được giải thích.”2

 

Ông Lou – người thơ bắn cung thiện xa ấy, giống như hàng triệu triêu người thơ săn trên quả đất này, khi nheo mắt để cố làm sao cho con mồi  không còn cách thoát, chết ngay, chết không hấp hối, ông ta chẳng mang ý thức về việc “sát sanh hại vật”. Có lẽ ông xem việc bắn cung này như là một trò thể thao giải trí.  Ta không thể kết tội ông. Ông có quyền bởi vì luật pháp đã cho ông có quyền. Như cho phép săn nai, khi nai d0ược sản sinh quá nhiều, phá mùa màng, gây ô nhiểm ở tiểu bang tôi: New Jersey.

Chỉ có chăng đôi mắt nào đó âm thầm theo ông. Đôi mắt của một Quan Tòa vô hình vô dạng.  Đôi mắt ấy có thể trong một ngày đầy sương mù khi ông và con chó săn thân thiết của ông trong chiếc xe đi tuần tra sân Goft mà ông làm việc:

” … X.uống hết đèo, tầm nhìn càng bị thu hẹp vì sương mù từ núi xuống nhập với sương mù từ sông ùa vào thung lũng, nhưng Lou Calakmul vẫn nhác thấy một con ngỗng lớn loại Giant Canada Goose với một bên cánh bị một mũi tên còn ghim lủng lẳng, ngơ ngác đi qua đường. Ông kịp lách tránh không cán con vật rồi tắp xe dừng bên đường. Ông mở cửa bước xuống, mở cửa sau gọi Joker, thao tác thật nhanh. Joker còn nhanh hơn ông, cửa vừa mở nó liền phóng về hướng con ngỗng, Calakmul chỉ việc chạy theo. Con ngỗng bị Joker tóm bắt khi đang lững thững bước cách đường khoảng mươi mét. Nó không lôi mạnh hay tha con ngỗng hỏng chân mà ngoạm vào bên cánh không bị thương rồi dẫn ngỗng cùng bước lại xa lộ, y chang cái cách một sheriff còng và dẫn một nghi can. (Joker xứng đáng là nhân viên xuất sắc của Animal Sheriff Inc.). Thay vì cứ đứng đợi trên đường, để yên cho Joker làm nhiệm vụ, Lou nôn nóng bước xuống ôm chầm lấy con ngỗng, gặp bờ dốc nghiêng và lớp cỏ ướt sương trơn nhẫy, ông trợt ngã té nhào. Không rõ đầu ông va vào đâu hay vì lý do gì mà ông ngồi dậy được, nhưng không đứng lên nổi. Ông gọi 911  xong lại gọi cho Nancy.           

 Lou Calakmul được trực thăng đưa đi cấp cứu trong tình trạng hôn mê. Con ngỗng được đưa đến bệnh viện thú y trong tình trạng tỉnh táo, chỉ bị gãy một giẽ xương cánh. Mũi tên được cắt rút cách nhanh chóng. Phẫu thuật ghép xương được thực hiện thành công ngay trong đêm. Nó là ngỗng Branta Canadensis Maxima thường được gọi là Giant Canada Goose, trên đường thiên di từ Canada xuôi nam, đáp nghỉ cánh và bổ sung năng lượng thì bị trúng tên. Các bác sĩ thú y cho biết sẽ trả nó về với thiên nhiên một ngày gần đây. Nhưng chú chàng không theo kịp đàn đã đành mà cũng không còn đủ sức bay đường dài. Từ một con ngỗng thiên di vạn dặm xuôi nam ngược bắc, con Branta Maxima này đành thúc thủ với trời cao sông rộng của chỉ một vùng đất. Điều an ủi lớn nhất là nó được bệnh viện thú y địa phương cấp giấy chứng nhận để trở thành cư dân thường trú hợp pháp trên đất Hoa Kỳ….”

 

Tôi đã trích ra cả một đoạn dài về chuyện con ngỗng trời mang trên cổ mũi tên được ông Lou cứu, và cũng vì cứu mà ông Lou đã bị chấn thương phải hôn mê. Tôi muốn chứng tỏ về một  bản án vô hình. Con ngỗng mà trước đây bị mũi tên của tay thợ bắn cung thiện xạ gắm vào cô,  nay đã trở lại. No là cái bóng, là hiện thân của một cuộc đòi nợ, là câu trả lời cho một bản án chung thẩm, vô hình: Nhân quả. Gieo nhân nào thì gặt quả đó.

Và không ai biết  hình dạng của nó ra sao. Ông quan Tòa mặt mũi thế nào. Bản án được mở ra khi nào và kết thúc khi nào, hay là vẫn tiếp tục. Ngay cả người vợcủa ông Lou cũng không biết. Nàng  vẫn tin chắc là chồng sẽ vượt qua hôn mê giữa lúc các bác sĩ không biết tình trạng thế nào:

“…Các bác sĩ không cho biết bao giờ thì Lou Calakmul thoát khỏi tình trạng hôn mê. Nhưng vợ ông, cô Nancy thì tin chắc như đinh đóng cột rằng ông sẽ sớm  trở lại bình thường, rằng ngoài cái tài bắn cung bách phát bách trúng, ông còn có bản lãnh kiên cường và nghị lực phi thường của một chiến binh. Nancy tin chồng cô sẽ bình thường trở lại để vẫy tay chào con ngỗng Maxima mà ông đã cứu, ngày nó trở lại bầu trời. Nancy không hề biết rằng có một con ngỗng Maxima khác đang chết từ từ vì đang mang lủng lẳng một mũi tên bắn xuyên qua cổ. Đây là mũi tên vô duyên nhất, và có lẽ là mũi tên cuối cùng của cung thủ Lou Calakmul.”

Đây chính là lời giải thích. Mà Mũi Tên đã thay mặt giải dùm cho Nancy, cho bác sĩ, cho Lou, cho chúng ta.

 

.(Còn tiếp)

Lữ Quỳnh, bạn tôi

 

 

Lữ Quỳnh là bút hiệu của Phan Ngô, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên-Huế. Thân phụ mất sớm, lúc một  tuổi. Tuổi nhỏ phần lớn sống tự lập. Học sinh Quốc Học – Huế, 1959-1962. Dạy học, trường Bán công Vinh Lộc 1962-1963.  Cựu Sĩ Quan VNCH (Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngành HC Quân Y). Đơn vị phục vụ : *Tổng Y Viện Duy Tân – Đà Nẵng năm 1965-66. *Tiểu đoàn 22 Quân Y (SĐ22BB) – Bình Định, năm 1967-70, *Quân Y Viện Quy Nhơn, năm 1971-75. (tài liệu trên Internet)

Tôi và Lữ Quỳnh có nhiều điểm chung. Cùng năm sinh. Cùng cảnh hẩm hiu của một đứa bé không thấy mặt cha từ khi còn quá nhỏ, cùng học Quốc Học – Huế, cùng gốc lính sư đoàn 22 BB, cùng viết cho Bách Khoa, Ý Thức và bây giờ, cùng ở Mỹ, tiếp tục cùng văn chương chữ nghĩa.

Biết anh từ những bài thơ đầu tiên trên Bách Khoa. Thơ anh đăng khá sớm trên một tạp chí bề thế, lúc anh  còn là cậu học sinh trung học. Nhưng thật sự cái giao tình bắt đầu từ năm 1967, khi tôi rời Thủ Đức về sư đoàn 22 BB tại Bà Gi để bắt đầu lao vào trận mạc. Đơn vị tôi là đại đội 405 thám kích, doanh trại nằm trên đồi, nép mình dưới ba ngọn tháp Chàm mà Chế Lan Viên đã xem như là biểu tượng của Điêu tàn qua tập thơ của ông thời tiền chiến. Còn đơn vị anh là một đơn vị quân y, doanh trại thì nằm ngay dưới đồi, về hướng Đông. Hai đơn vị dù khác nhiệm vụ nhưng hai đứa chúng tôi có cùng một mẫu số chung. Cùng viết văn làm thơ. Cùng viết cho Bách Khoa. Cùng đến từ xứ Huế. Dù thời gian này tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 22 BB có những cây viết cho Bách Khoa như Doãn Dân, Nguyễn Kim Phượng (tức là Hoàng Thị Bích Ni), nhưng tôi  thân với Lữ Quỳnh nhiều hơn. Thứ nhất là tánh tình anh cởi mở. Thứ hai những ý nghĩ về văn chương xem như giống tôi. Chúng tôi không xem văn chương là đồ trang sức, mà ngược lại dùng văn chương để nói lên những tiếng kêu trầm thống của một thế hệ bị thua thiệt, bị ném vào lò lửa của chiến tranh.

Lúc bấy giờ, Lữ Quỳnh là một sĩ quan cấp úy. Nếu tôi nhớ không lầm, anh là Sĩ quan Phụ tá Hành chánh Quân y của tiểu đoàn. Với chức vụ ấy, anh  được cấp một xe Jeep và tài xế. Còn tôi thì chỉ có “xe chân”. Cũng nhờ xe anh mà tôi được  “quá giang” theo anh về Quy Nhơn sau khi đơn vị hết hành quân, hay được dưỡng quân. Thỉnh thoảng chúng tôi gọi nhau, và anh lái xe lên đồi hậu cứ của tôi, bốc tôi xuống một quán cà phê  thị trấn ở An Nhơn, Đập Đá…

Anh là một mẫu người nghiêm túc, chững chạc. Anh không có một đam mê nào ngoài đam mê viết. Không phải như tôi, viết cẩu thả, viết thả dàn, viết có khi chẳng cần coi lại, trái lại anh viết rất chững chạc. Anh thai nghén một bài văn khá kỹ trước khi đặt ngòi viết xuống giấy. Một ví dụ là khi anh viết một truyện kể về những người đập đá, (trong truyện Bụi Đá), anh đã lái xe đến tận nơi, cố tìm hiểu, nhận xét về cảnh tượng… Hay truyện Bóng Tối Dưới Hầm, anh đã dùng những chất liệu có thật trong cuộc đời quân ngũ của mình để xây dựng.

Những ngày tháng ấy, chúng tôi cùng nhau viết, cùng nhau gởi bản thảo về Saigon.Chúng tôi viết trong không gian gào rú tiếng máy bay phản lực hay ì ầm tiếng nổ của bom hay cà nông vọng về. Chúng tôi viết dưới mái tôn tiền chế lạnh lẽo, âm thầm, bên cạnh những hàng dây kẽm gai, hay giao thông hào… Chúng tôi đã chuyển không khí chiến tranh, những vấn tra của người nhập cuộc, những tiếng nổ đầy bất trắc về Saigon. Chúng tôi đã thét gào đòi lại quyền của tuổi trẻ.  Chúng tôi được các ngài ở Saigon phong cho là “những cây bút trẻ miền Trung”.

Trong những điều kiện khắc nghiệt, và trong những hoàn cảnh đầy đe dọa lên số phận, vậy mà Lữ Quỳnh vẫn viết. Viết đối với anh, theo tôi, là một đam mê, chứ không phải là trách nhiệm, hay “một cây bút là một sư đoàn” gì ráo… Tôi bỗng nghĩ đến một nhận định của Mai Thảo khi ông giới thiệu bài Bệnh Xá Cuối Năm của tôi trên Văn. Ông cho là tôi đã : “đặt sống thành suy nghĩ. Tự thành trong cô đơn”. Nhận định này rất đúng cho Lữ Quỳnh. Riêng tôi thì 60%. Còn LQ có lẽ là 100%.

Bởi vì mỗi bài viết của anh, dù là văn hay thơ đều bắt độc giả suy nghĩ. Bởi chúng là kết quả của những suy nghĩ của anh và anh muốn gởi lên trang giấy. Không những anh sống để viết. Mà sống để suy nghĩ và viết.

Tôi xin dẫn chứng một đoạn ngắn trong Những Cơn Mưa Mùa Đông mà tôi mở tình cờ một trang sách, để nhận rõ sự suy nghĩ này qua một nhân vật.

Đây là đoạn tả lại cảnh một ông lão rầy đứa cháu trai của ông vì tội dám  lấy ná bắn vào cái dĩa sứ đẹp đẽ:

Mới ngày nào đây thôi mà – Ông già nói lầu bầu trong miệng – mày ngỗ nghịch quá, ai đời với chiếc dĩa đẹp đẽ như thế này mà mày dám dùng làm bia để bắn ná. Tao nghe một tiếng “bốp”, chạy ra, nhìn lên chiếc dĩa, nó đã rạn nứt như thế này rồi. Còn mày thì biến lẹ như một con còng chui sâu dưới vườn… Nghịch ngợm như mày, tưởng không bao giờ thành người lớn được chứ. Lại cái tội háu ăn nữa. Thế mà rồi mày không còn ở với tao, mày lại chết trong tư thế của người lớn mà. Tham gia, tham dự, tham gì gì đi nữa, rồi cũng chỉ có khổ cái thân già của cha mày thôi con ạ. [1]

Đọc đoạn trên ta hiểu ngay về cái ẩn dụ mà LQ đã gởi qua lão già. Cái dĩa là cái bia. Và hành động nghịch ngợm của thằng bé còn mang theo một tư thế của người lớn. Phải trong chiến tranh, người ta sẽ dùng bia người để nhắm. Để rồi “lại chết trong tư thế người lớn”…

Xin trích một đoạn khác, trong một truyện trước 75 của anh, để chứng minh là văn chương đối với anh là văn chương đầy những suy nghĩ, tra vấn đầy ý thức:

Từ “Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu, phản trắc, lầm lẫn ấy khóc cả.”

….Trong bóng tối của chiếc hầm chật hẹp, người đàn ông cố nhìn bàn tay mình mà vẫn không thấy nổi. Gã vừa nghĩ tới những kỷ niệm thật xa. Lúc này gã nhớ lại hình ảnh người nhạc sĩ nằm chết trên bến sông, gã đã khóc thật nhiều trên quãng đường công tác còn lại. Con tim bật máu làm trào nước mắt. Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu phản trắc lầm lẫn ấy khóc cả.  [2]

đến: “Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa? “

….Trong bóng tối, thiếu nữ cảm thấy chới với khi nghe tiếng nói của người đối diện. Tiếng nói, chỉ có tiếng nói thôi. Ma quái quá sức. Tiếng nói. Trong căn hầm chỉ có tiếng nói và tiếng nói thôi. Thiếu nữ nghĩ mình cũng không còn nhận ra mình. Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa?  [2]

Ngay cả bây giờ, anh vẫn đặt sống thành suy nghĩ. Dù cái bóng tối dưới hầm của ngày xưa chỉ còn là hoài niệm, nhưng cái bóng tối bây giờ vẫn còn vây phủ anh, đầy hiu quạnh và cô đơn:

thường có những giấc mơ
gặp gỡ bạn bè
những người bạn ra đi đã nhiều năm
nay kéo về
nói cười ấm áp

tôi rất vui
rất vui trong từng đêm như thế
để lúc tỉnh ra
ngồi một mình trong bóng tối 
quạnh hiu. [3]

 

Bài thơ mới sáng tác, nhưng bóng tối vẫn là bóng tối. Dù ngày xưa hay bây giờ.

Nhưng cũng nhờ bóng tối ấy mà anh vẫn tiếp tục viết, tiếp tục sáng tác.

Nếu không, chắc đời phải là buồn lắm.

Phải không, Lữ Quỳnh ?

_______

[1] Truyện viết năm 1974, do Thư Ấn Quán tìm lại tại Thư Viện Cornell và được tái bản trong Tủ Sách Di Sản Văn chương miền Nam.

[2] Trích từ truyện ngắn Bóng Tối Dưới Hầm.

[3] Trích từ “Giấc Mơ” trong thi tập “Những Giấc Mơ Tôi” của Lữ Quỳnh do nhà xuất bản Văn Mới ấn hành năm 2013

Lang thang… Quán với Trần Hoài Thư

Người viết: Nguyễn Lệ Uyên

bo bon

Một thời lang thang với quán cùng bạn bè.
(từ trái qua phải) Phạm Ngọc Lư – Trần Hoài Thư –  Nguyễn Lệ Uyên – Phạm văn Nhàn (hình chụp vào khỏang 1969) tại Tuy Hòa ?

Đôi khi, ta bất chợt nghe một câu hát, lòng bỗng dậy lên chút bùi ngùi, nhớ nhung về chốn cũ xa xôi. Đôi khi, ta bất chợt đọc một câu thơ, đầu óc mụ mị bỗng nhòe nhoẹt vết lăn trên đường. Và dường như thấp thoáng đâu đó, có những phút giây ta hối hả cùng bạn trong khói sóng mông lung và, những xao xác cô đơn đến vô cùng tận, một mình bên quán nhỏ dọc đường…

Thời trai trẻ, những tình cờ đến đi như chút gió cuối mùa hiu nhẹ buổi xế trưa, thì đâu có chi lạ lùng? Nay, đã qua tuổi “tri thiên mệnh” khá xa, lại vô cớ bồi hồi vì hình ảnh ẩn dụ trong một câu thơ; những lướt thướt âm thanh trong một bài hát, đã cảm thấy chạnh lòng, huống chi lòng đang chùng xuống, mắt mênh mông một vùng khói trắng?

Có phải vậy không?

Tôi không biết. Có điều “chiều nay sương khói lên khơi” khiến lòng quặn thắt, cồn cào một chút thương nhớ vu vơ, không hiện ra hình hài rõ nét. Rồi nữa:

Mưa
Đưa ta về ngồi lại
Trong quán nghèo năm cũ,
Trống không
(…)
Thưa chị có gì sao chị khóc
Ngoài trời mưa vẫn nhỏ rưng rưng.

Nhạc điệu hiu hắt trong Thuyền Viễn Xứ ngày nào của Phạm Duy cùng mấy câu xa vời lay lắt âm thanh những giọt mưa không rơi xuống đất Khi Qua Chương Thiện của Trần Hoài Thư nghe đến nao lòng, đến hiu hắt như nửa khuya nghe khúc Dạ Cổ Hoài Lang.

Tôi đọc Quán của Trần Hoài Thư với tâm trạng bất định đó. Đọc Quán trên dặm đường dài lang thang mang theo nỗi u uất, chán nãn. Đọc đi đọc lại trong quán bên đường chờ mưa tạnh, đọc trên căn gác nhỏ nhà bạn qua đêm, đọc ven cánh rừng chỉ còn những lùm bụi thấp, lúc chờ cơm trong quán nhỏ bên đường… Và, ngay cả trong giấc mơ!

Đọc mãi rồi chợt thấy như đang theo bước chân anh ta trở về vội vã sau những chuyến hành quân. Đó là những chuyến ra đi bất toàn của tuổi trẻ. Ra đi và trở về, rồi lại ra đi. Giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau một đoạn ngắn, rất ngắn, trong những lần hành quân. Vội vã ra đi và vội vã trở về. Trở về để vội vã bên cốc cà phê, tìm chút hơi ấm quạnh quẽ, như thể đó là chốn bình yên. Nhân vật không hình hài kia tự đánh lừa mình, hay chính xác là tạm tách mình ra khỏi thế giới thực tại anh ta đang lăn cuồng chìm ngập để tìm chút cảm giác gần gũi trong đời sống bình thường chưa một ngày ôm trong tay một cách trọn vẹn. Có gì là ghê gớm, là cao xa với chỉ một cốc cà phê hay cô hàng nước bên bếp lửa? Cái khác hơn, điều anh ta khao khát hơn chính là chút hơi ấm, là đôi má au hồng đã bị chiến tranh giật khỏi tầm tay. Sự mất mát kia chính là nỗi cô đơn tận cùng, để phải kêu lên tha lỗi cho tôi, xin cuộc sống bình thường yên ả tha lỗi cho những xáo động mà thế hệ anh đang phái hứng chịu :

Thèm vô cùng, hơi ấm cốc cà phê
Thèm vô cùng. Cô hàng đôi má au hồng
Chụm nồi nước sôi bên bếp lửa
Tha lỗi cho tôi…

Buông một tiếng, rớt xuống, rớt dài tuổi trẻ trong nỗi hoảng loạn vô cùng mà đáng ra, tuổi trẻ không phải cam chịu những đau đớn tủi nhục đến vậy; mà đáng ra cái thế giới nhiễu nhương, loạn cuồng kia phải lên tiếng xin lỗi tuổi trẻ của anh, của chúng ta đã phung phí trong cuộc chiến tranh tương tàn, phi nhân mới phải. Giả định như, tuổi thanh xuân không phải hứng chịu, đối mặt với sự sống và cái chết trong gang tất, thì liệu chàng tuổi trẻ có kêu lên thảng thốt, rằng:

…và một niềm tủi thân cô đơn
Khi người tôi yêu sợ thành góa phụ

Có một thời, trong văn chương đều đồng loạt kêu lên: phi lý, buồn nôn, nổi loạn… và được giải thích: đó là hội chứng làm dáng của đám trí thức nửa vời là bắt chước, nhai nhá lại những J.P. Sartre, A. Camus, F. Sagan… một thứ tư tưởng bi quan không đáng làm người. Đó là những cái nhìn lỗi phạm của người lớn đã an vị, nặng tính bảo thủ, ngun ngút đạo lý phong kiến cũ kỹ, mà nếu như họ cũng bị tung ra chiến trường cầm súng và bóp cò, nhìn thấy máu đổ, nhà cháy, tan hoang xơ xác những cánh đồng chết chóc, cảnh dân nghèo bồng bế chạy loạn, họ sẽ nghĩ gì?

Chỉ có tuổi trẻ sống và cam chịu mọi tai ương mới thấu đạt nghĩa lý bi thương một cách ngọt ngào những nổi loạn đắng cay trong suốt đời trai trẻ.

Rượu quý, mời nâng lên mà nốc
Đời này tuổi trẻ mà trăm năm
Tha lỗi khi ta gào hét
Là ta điên cuồng
Muốn nổ xác thân

Quá quắt. Khó chấp nhận. Không thể tha thứ. Giới đạo đức trưởng giả đã kêu toáng lên như vậy. Rượu quý là thứ mỹ tửu, đã vậy thì phải bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, cớ sao lại nâng lên mà nốc? Rượu mà nốc thì có khác chi đám bụi đời, loại giang hồ tứ chiến, thứ lang bạt bất cần đời!

Thế hệ Trần Hoài Thư là vậy đấy. Họ biết rất rõ điều họ làm và trách nhiệm với nó và ngay chính bản thân; cũng bởi giản dị một điều: tuổi trẻ mà trăm năm? Đó là câu hỏi tra vấn hay tiếng kêu thầm kiến giải đời thanh xuân vì ai gây dựng cho nên nỗi này.

Không thể khác được. Cái tuổi trẻ dẫu chẳng ai muốn ngông nghênh kia cứ lăn tròn, lăn tròn theo ánh hỏa châu, tiếng đại bác cùng những đêm bụi bờ nằm kích trong màn đen dày đặc. Họ không thể nhàn hạ, không thể thong dong ngắm sao trời, nhẩn nha nhìn những giọt cà phê rơi trong đáy cốc mà lại nốc một cách hối hả.

Nốc cạn cà phê, ném tàn thuốc lá
Mau kịp khởi hành, để kịp giờ G.
… Nhà ai còn đèn, chào nhé ta đi…
… Gặp bạn giữa đường, chửi thề mấy tiếng
Pháo dội rền vang, tiếng nói mất còn…  

Nhưng chất ngông nghênh khi nốc mới chỉ là những hành vi ý thức thứ cấp, do thói quen khách quan, không thể có cách hành sử khác hơn. Nhưng một khi chiến tranh ngày càng khốc liệt thì chất ngông nghênh cũng tăng lên theo cấp số nhân.

Tội lỗi mấy đường ngã bảy ngã năm
Đái trước cửa lầu then cài kín cổng
Cột điện mấy hàng chong đèn lính khổ…

Đọc mấy câu này, tôi chợt nhớ truyện ngắn Bí Đái của Kinh Dương Vương trên tập san Văn. Một truyện ngắn độc đáo. Nhưng khi KDV cho nhân vật giải thoát được cái chất lỏng kia ra thì nó cũng chỉ là những vận hành sinh học sau một thời gian dài bị rối loạn trật tự thông thường. Còn ở đây, những anh chàng tóc dài râu ria đứng đái trước cửa cột điện mấy hàng chong đèn lính khổ rõ ràng sự đái có ý thức hẳn hoi. Tôi không nói đó là sự phản kháng tích cực hay tiêu cực của những người trong cuộc, là sự so kè về những bình an hay bất toàn, chỉ biết những người trốn trại về thành, ngực đỏ chiến thương kia chẳng khi nào có lấy một chút yên bình: thân xác đang ở phố, nhưng một phần của nó, hai tai vẫn phải dỏng lên và nghe xa xa vọng về những tràng nổ chậm. Cái lỗ tai ấy lại điều khiển não bộ, để sau đó phát ra những tín hiệu: chiến tranh còn dài hãy cố ăn chơi. Cái ngạo mạn, khinh bạc ấy có vẻ như thứ vũ khí tự vệ cuối cùng cho các chàng tuổi trẻ?

Nhưng anh đạo đức và đầu cơ chiến tranh lại lên tiếng “ăn chơi kiểu chi mà lọa rứa?”. Không “lọa” sao được khi những người rừng luôn phải di chuyển, luôn bị những mối nguy nan rình rập. Những lần ăn chơi chỉ là những phút giây hy hữu, ít ỏi. Và mỗi lần tạm buông cây súng là mỗi lần những anh chàng lính khổ lại được dịp và hối hả khám phá mọi điều mới mẻ mà không lạ ở chốn khói bom chưa bén tới. Có thể, với người khác, da trắng mắt xanh chỉ là mắt trắng da xanh tầm thường, nhưng những con người tóc dài râu ria vừa từ nơi lửa đạn trở về dẫu mắt cô nàng có hơi chột, da cô nàng có hơi đen nhẻm, xám ngắt thì vẫn tỏa ra những nét đẹp dịu dàng, bởi đơn giản các anh chàng chưa hề nắm giữ ôm ấp nó trong vòng tay, bởi lính nhiều hơn dân:

Đôi mắt em xanh màu dừa xanh
..Ơi người Tam Quan, da em quá trắng…
…Quận lị tiêu điều lính nhiều hơn dân

Đó chỉ mới là cái nhìn trong những ngày gieo neo khốn khó, nhưng khi ở xứ người, một nơi chốn bình an thì ông cũng bật rung lên cùng một giọng điệu, cung bậc của kẻ luôn lạc loài, người xa lạ:

Ghé lại Dunki gọi cốc cà phê
Cô hàng mắt xanh nhìn ra ngoài cửa sổ

Màu mắt xanh kia có gì là khác nhau và da em quá trắng, có chi là mẫu số chung cho những ngắm nhìn trong thoáng chốc, ẩn chứa trong những câu thơ mới thoạt nghe như khẩu ngữ. Khẩu ngữ mà bàng bạc chất thơ, quay quắt trong tâm thức của cô đơn, lạc lõng, khổ đau bất tận…

Nhấp theo từng hớp nhỏ héo hon
Của một người thua trận lưu vong…

Cứ một giọng điệu như vậy, Trần Hoài Thư thả mặc tâm trí trôi đi, giữa hiện tại là quá khứ và trong chốn quá khứ mịt mù khói sương kia là một hiện tại phi hiện tại, là một cuộc sống của mộng, tưởng, có không. Lúc ở Chinatown thì tưởng rằng Chợ Lớn, ngồi ở Ikea mộng về hai ngả, những Cần Thơ, Chương Thiện, Pleiku… trong những ngày rong ruổi biên khu… và đôi khi là những phút dừng chân ngắn ngủi.

Hỏi em, em xa xứ
Hỏi anh, anh xa nhà
Mời em vào quán vắng
Uống thêm màu mây xa…

Tính nhất quán trong Quán của Trần Hoài Thư chính là nỗi cô đơn, mất mát. Ở quê nhà trong thời kỳ đỏ lửa ông là kẻ cô đơn trong một thế hệ cô đơn. Rồi khi tạm trú xứ người, nỗi cô đơn càng bùng vỡ mạnh mẽ hơn, mất mát lớn hơn.

Em nơi nào, ở nơi nào nhỉ
Trời đã giêng rồi, em biết không
Tôi qua Nữu Ước ngày không độ
Gọi cốc cà phê, lạnh nỗi lòng
Lạnh thêm nỗi nhớ trùng trùng
Tìm đâu hương cũ giữa dòng viễn khơi.

31 bài thơ trong Quán, chính là quán đời của Trần Hoài Thư, chính là nỗi cô đơn của ông, là những mất mát năm tháng.

Quán là Trần Hoài Thư.

Trần Hoài Thư là Quán trong suốt hành trình tìm kiếm những bất toàn cho riêng mình.

Nguyễn Lệ Uyên
(Lập Đông Quí  Sửu 2009)
Trích Trang sách và những giấc mơ bay – tập I (Thư Ấn Quán, 2010)
Nguồn: Tác giả gửi

Quán, Trần Hoài Thư – Thư Ấn Quán xb – Hoa Kỳ 2008


Tiểu sử Trần Hoài Thư

Sinh năm 1942 tại Đà Lạt, Giáo sư trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ. SQ chỉ huy đơn vị thám kích SĐ 22/BB, phóng viên chiến trường tại Quân Đoàn 4. Tù cải tạo 4 năm. Vượt biển định cư tại Hoa Kỳ năm 1980.

Thơ truyện xuất hiện đều đặn trên các tạp chí Bách Khoa, Văn, Vấn Đề, Văn Học, Ý Thức, Thời Tập…

Trần Hoài Thư có bút lực rất mạnh mẽ. Trước 75 đã xuất bản 4 tập truyện. Sau 75 có 12 tập truyện và 5 tập thơ xuất bản. Hiện chủ trương tạp chí Thư quán bản thảo và nhà xuất bản Thư Ấn quán tại Hoa kỳ.

(Nguồn: Sangtao.org)

Luân Hoán viết về Trần Hoài Thư

Lời chủ Blog: Bài thơ post dưới đây, là bài thơ mà nhà thơ Luân Hoán đã vẽ về tôi. Tôi xin được đăng lại. Và cám ơn. 

Cám ơn Trời Đất đã cho chúng tôi còn sống sót sau cuộc chiến tranh dài và khốc liệt, và sau những mùa hạn bầm dập tang thương của  lịch sử . Chúng tôi  cùng cùng khóa 24 Thủ Đức, ra trường vào năm 1966, cùng đánh giặc ở vùng hắc ám nhất là vùng Liên Khu 5. LH bị thương mất một bàn chân trái. Giải ngũ sớm. Còn tôi, thì đan dính mấy lần, sẹo vẫn còn chi chít. Vậy mà giờ đây hai đứa vẫn tiếp tục rong chơi trên NET, trong tuổi già.

Cám ơn bạn ta đã dành cho ta một chỗ ngồi trên VUÔNG CHIẾU. của bạn.

ông gầy như que củi
tôi ốm như cây tăm
cả hai cùng lứa tuổi
giữa thời súng, dao găm

 
đọc tiếp

…cho dù lịch sử đau bầm dập…

Nới với người trung đội trưởng cũ

Người viết: Cao Vị Khanh

Vậy là hai mươi sáu năm sau ngày anh bỏ súng, gần ba mươi năm sau lần anh chào nghiêm trước hàng quân nhận chức trung đội trưởng, tôi có dịp nói chuyện với anh, người bạn mới biết mà chừng như thân lắm. Kể ra chúng ta còn quá may mắn, sau một cuộc chiến tàn khốc như vậy mà anh còn sống sót để viết lách, tôi còn sống sót để đọc thơ văn của anh mà tức tuởi. Bạn bè của anh, bạn bè của tôi thiếu gì người đã bỏ cuộc nửa chừng sau khi đã trân mình chơi xả láng với súng đạn ngoài trận địa, hay sau này với đói khát trong trại giam…

đọc tiếp