Qui nhơn. ngày về – truyện viết sau 1975 của THT

Đôi lần cũng thèm trở thành một tên du thủ. Áo pull giày rách và ra đi. Đi đâu cũng không cần biết nữa. Ghé một thành phố nhỏ thăm bạn bè, cơm áo cơ hàn rồi lại lên đường. Góc nhỏ có cô hàng cà phê, buổi sáng đốt thuốc, và ấm lòng mùi cà phê nguyên chất. Và nụ cười của em, cái liếc mắt tinh nghịch của em, cũng đủ làm say nồng thằng đàn ông tứ chiếng. Và biết rằng, cuối đường, áo trắng của em ẩn hiện, và xa xôi, sương phủ mờ mái lầu ngã Sáu, nghe vọng lại tiếng chuông nhà thờ gần mé biển. Nghe như xào xạc từng chiếc lá, nghe như tiếng gió cũng cuống quít sợi tóc mai, nghe như bờ vú còn phập phồng sau màn vải mỏng. Nghe như câu thơ của Hoàng Gỗ Quí còn mê đắm… trần gian: Em đi dáng mỏng như là gió. Phơi tuổi vàng ta trên ngọn cây.

Continue reading “Qui nhơn. ngày về – truyện viết sau 1975 của THT”

Cuối đường

truyện của Trần Hoài Thư

Ðầu năm, thêm một nhân viên mới nữa được tuyển. Như vậy, tình trạng tài chánh của công ty chắc phải khả quan lắm và mọi người hy vọng trong tương lai sẽ không còn bị ám ảnh bởi cái búa layoff hay giảm-người như họ đã từng nghe từ những tin đồn đại. Cô nàng Karen dẫn người nhân viên mới đến từng phòng để giới thiệu. Vẫn là những câu nói xã giao lịch sự như thể thân tình từ lâu lắm: Ðây là Lisa, người bạn mới của chúng ta, đây là Tim, Ed, Mike, Elizabeth, Tan Nguyen… Hân hạnh, người nhân viên mới đưa tay bắt mỗi người. Mấy ma cũ cũng đáp lễ. Rất mừng được làm chung với bà. Vui mừng được có thêm một người bạn là bà. Ðến phiên Tân cũng vậy. Vẫn cái điệp khúc quen thuộc ngọt như đường phèn mà ông đã dùng mấy năm nay để chào mừng một người mới đến, để rồi sau đó mạnh ai nấy làm, mạnh ai nấy to nhỏ với nhau. Người nhân viên mới – Lisa – bắt chặt bàn tay Tân nói: Thank you so so much. Tân có thể nhận ra những vết son khô trên hai bờ môi của bà ta. Karen lại giới thiệu tiếp: Ðây là ông Tân, người sẽ hướng dẫn bà đấy. Có gì bà cứ cầu cứu ông. Lần này, bà Lisa càng tỏ ra lịch sự hơn bao giờ. Bà lại đưa tay bắt tay ông thêm một lần nữa: Thank you so so so much…
Continue reading “Cuối đường”

Ghi vội (8): Hình background

…Chúng tôi bắt đầu xuống xe, lúc 10 giờ tối. Và mỗi trung đội được lệnh phải buộc những cuộn dây băng cứu thương vào lưng, kẻ trước người sau để khỏi bị lạc đường. Mưa xối xả. Nước mênh mông. Mỗi lần có trái sáng bắn lên, hay từ máy bay Mỹ thả xuống khu vực, chúng tôi phải khom người xuống nước, như cố che dấu những hình tượng mình trên đồng nước lụt. Tôi đi thứ hai sau người tiền sát hay một hồi chánh viên. Lý do tại sao thứ hai, vì tôi phải xem địa bàn phương giác để chỉ người lính tiền sát nhắm hướng mà bước. Có khi chúng tôi sa vào hố bom, và nước ngập quá cổ. Nhờ dây buộc, người sau kéokẻ bị sa chân lên…

Continue reading “Ghi vội (8): Hình background”

Đêm mơ

new eve

 

Mắt người bạn gái chợt sáng lên như bắt gặp một niềm kinh ngạc thích thú. Tầng cuối cùng 110 như chạm lấy trời. Trên cao, một  chấm sáng rất mờ nhạt giữa cõi. Không biết là  ngọn đèn của chuyến bay đêm hay là một tinh cầu lạc lỏng.  Nhìn xuống, nhìn quanh, cả Nữu ước như ngập cả một biển kim cương lộng lẩy xen kẻ những mái nhà tuyết trắng như tấm thảm óng ánh bạc. Dưới nữa là những con đường xen kẻ dày dặc, với hằng hà ngọn đèn sáng rực như đuổi nhau không bao giờ dứt. Nhàn reo lên: New York. Đẹp quá ông ơi.

Buổi học đầu của lớp Toán Cao học. Người thiếu nữ đã đến lớp từ lâu, và người đàn ông, ngồi đằng sau, biết mình sắp chết đuối về bờ vai mềm và cái dáng dấp nhỏ bé rất Đông Phương ấy.

Continue reading “Đêm mơ”

Những mùa giáng sinh không bao giờ quên…

 

 

 

Mùa giáng sinh 1978

 

gogota

Núi Trầu là một địa danh ở Kinh Nhà Chung thuộc Kiên Lương Hà Tiên. Núi Sọ là một ngọn đồi nhỏ có dựng một thập tự giá rất lớn. Đây là một xóm đạo. Chúng tôi, khoảng 30 người tù cải tạo, được lệnh bè tràm từ trong rừng tràm ra Nhà Chung. Con đường bè là con kênh dài khoảng 10 cây số. Buổi chiều trở về, nhìn từ xa, núi Sọ với chiếc thập tự giá nổi lên trên nền trời ráng đỏ. ..
đọc tiếp

Ngàycựu chiến binh Mỹ nhớ đến đồng đội

Hôm nay là ngày Cựu chiến binh Hoa Kỳ. Cả nước Mỹ đang hướng về những người  từng mang màu áo đồng phục bằng tất cả niềm tri ân. Trường học, công sở, bưu điện đóng cửa. Các nghĩa trang quân đội đã thấy tấp nập người thăm viếng. Những đài tưởng niệm cũng đã phủ đầy hoa và những người đến cúi đầu…
Sự tri ân không phải  ở chỗ “quân đội ta anh hùng”, nhưng ở sự hy sinh, chấp nhận cái chết để cho người khác được sống.
Nhưng còn cả triệu người lính miền Nam thì sao? Im lặng tức tửi. Không tiếng kèn đồng u oán cất lên chiêu hồn tử sĩ. Không có một nấm đất để con cháu có thể nhìn thấy tên họ và số quân… Và những người lính cũ ấy, người đã bỏ trần gian, người thì luân lạc, râu tóc bạc phơ,  hẩm hiu giữa một đất nước mà quê hương không có…

Xin được post lại bài văn Người hạ sĩ nhất, như một nén hương lòng của một người cựu chiến binh miền Nam. Bài này đã được Thanh Phương diễn đọc.

 

 

 

 

PHỎNG VẤN TÁC GIẢ TRẦN HOÀI THƯ VÀ TÁC PHẨM ‘HÀNH TRÌNH CỦA MỘT CỔ TRẮNG’

bia co trang
Đọc  toàn bộ ‘HÀNH TRÌNH CỦA MỘT CỔ TRẮNG’ (Talawas)

PHỎNG VẤN TÁC GIẢ TRẦN HOÀI THƯ VÀ TÁC PHẨM ‘HÀNH TRÌNH CỦA MỘT CỔ TRẮNG’ ( Đài VNCR năm 2005)

  1. Thưa anh Trần Hoài Thư, chúng tôi vừa nhận được cuốn sách mới của anh, cuốn Hành Trình Của Một Cổ Trắng, và xin được thưa chuyện với anh về tác phẩm mới này. Thế nhưng trước hết xin anh cho thính giả của đài VNCR biết qua về tiểu sử của anh.

 

Tôi sinh năm 1942 tại Đà Lạt. Trước năm 1975 giáo sư đệ nhị cấp trung học Trần Cao Vân Tam Kỳ Quảng tín. Động viên khoá 24 Thủ đức, và phục vu ở đại đội 405 Thám Kích thuộc Sư đoàn 22 BB và phóng viên chiến trường vùng bốn. Bị thương trận 3 lần.

Sau 1975, đi cải tạo gần 4 năm, vượt biển và định cư tại Hoa Kỳ vào năm 1980. Trở lại trường học lại, tốt nghiệp cử nhân điện toán và cao học Toán. Làm việc trong ngành điện toán ở các hãng AT&T, Lucent, và IBM.  Hiện về hưu vàdành thì giờ để nghiên cứu kỹ thuật in ấn theo phương pháp Book on Demand và chủ trương Thư Ấn Quán để in tác phẩm bạn hữu cũng như tạp chí văn học Thư Quán Bản Thảo, đã có mặt đều đặn hơn hai năm nay.

  1. Nhân đây cũng xin anh cho biết về các tác phẩm mà anh đã viết: gồm bao nhiêu cuốn, những đề tài anh thường đề cập đến trong các tác phẩm đó?

 

Tôi có 15 tác phẩm được xuất bản. Với 4 tập truyện truớc 1975. Chỉ trừ cuốn Hành Trình của Một Cổ trắng, tất cả các cuốn khác đều lấy chất liệu từ những kinh nghiệm chiến trường trong thời gian tôi là một trung đội trưởng thám kích.

 

  1. Bây giờ chúng ta quay lại với cuốn mới nhất, cuốn Hành Trình Của Một Cổ Trắng. Có thể đối với nhiều người Việt Nam cái tên này nghe hơi là lạ. Xin anh cho một vài lời giải thích.

Thưa anh, “cổ trắng” là White collar, dùng để chỉ những người làm việc bằng trí óc, trái với “cổ xanh” tức Blue collar, để chỉ những người làm việc bằng tay chân. Trọng tâm của cuốn sách là tiếng kêu trầm thống của một giới mà xã hội thường xem là ưu đãi.

 

  1. Đây là một đề tài khá mới lạ, tôi nghĩ không riêng cho một cây bút Việt Nam, mà ngay cả người Mỹ nữa. Vì vấn đề thuê công nhân xuyên quốc gia tương đối rất mới, được nảy sinh từ sự phát triển của nền kinh tế toàn cầu, từ sự toàn cầu hóa. Cuốn sách của anh vì thế có mang trong nó nhiều tính cách thời sự. Xin anh cho biết đây là một câu chuyện do anh quan sát các hiện tượng xã hội, hay là ít nhiều có tính cách tự sự trong đó?

Vâng, tôi nghĩ đây là một đề tài mới lạ và rất thời sự. Sau khi sách tôi phát hành chừng hai tháng, đài CNN không ngày nào lại không có chương trình Exporting America để nói lên những cay đắng ê chề của giới cổ trắng ở Mỹ và hiện tượng xuất cảng trí tuệ ra ngoại quốc. Tuy nhiên họ chỉ nói một phần. Nói như anh, họ chỉ quan sát, và đa số những người họ phỏng vấn, họ là chuyên viên về kinh tế, quản trị, ít người  ở trong cuộc và có kinh nghiệm về trận chiến… Bản thân tôi không những là chứng nhân mà là nạn nhân của sản phẩm outsourcing và offshore mà các ngài chủ hãng đang hết lời  tung hô. Như vậy, tại sao tôi lại không kề lại những kinh nghiệm cay đắng ấy ? Như ngày xưa, tôi vẫn dùng kinh nghiệm có thật của mình để viết về chiến tranh, lính tráng.

 

  1. Xin đưa vấn đề ra ngoài văn học một chút. Nhiều người đả kích hiện tượng Outsourcing và gần đây nhất là offshore, điều này dễ hiểu, vì chính nó là thủ phạm gây ra biết bao vụ mất việc làm cho công dân Mỹ. Nhưng cũng có người giải thích đó là kết quả tất nhiên của việc toàn cầu hóa, nền kinh tế Mỹ phát triển và bao trùm thế giới thì việc đó ắt phải xảy ra, và tự nó, nước Mỹ sẽ có công việc khác cho dân chúng của mình. Anh nghĩ sao?

Thưa anh, cách đây 8 năm, khi chúng tôi được thông báo thuộc thành phần outsourcing

chúng tôi đã được giải thích vì công ty cần tiết kiệm ngân sách, và bộ phận sẽ được bán qua một hãng khác, để tiếp tục công việc cũ. Như vậy, ít ra, những người bị outsource vẫn còn có công ăn việc làm. Bây giờ đến tình trạng Offshore, tức là làm việc ngoài nước Mỹ, thì giới IT cổ trắng vô phương hy vọng.

Dĩ nhiên, toàn cầu hoá là qui luật tất nhiên khi Internet đã phát triển đến cao độ. Bây giờ, biên giới biên thùy bị xoá. Chỉ một giây là những dữ kiện từ Ấn độ hay Trung Hoa được chuyển qua Mỹ. Người làm việc ở Ấn Độ thì cũng có thể làm tất cả những gì mà người ở Mỹ làm. Nếu kẻ ở Ấn Độ không có kinh nghiệm cũng không sao. Cấp vé máy bay qua Mỹ để được kẻ ở Mỹ huấn luyện trước khi hắn bị laid off. Bất mãn không chịu huấn luyện  kẻ giựt job mình ư ?  Hắn sẽ bị  tống ra ngoài không được hưởng quyền lợi gì hết. Những điều này chưa bao giờ được đài CNN nói đến, đều được trình bày trong Hành Trình của một cổ trắng. Không phải tôi bi quan đâu. Không thấy những việc làm khác tạo ra mà chỉ thấy hoàng hôn của một giới mà xã hội từ trước đến nay xem như thành phần được ưu đãi nễ trọng.

Xin  trích lại một đoạn thư tiêu biểu:

“…Tất cả những điều ông viết trong “hành trình của một cổ trắng” đều đã xảy ra với tôi, chồng tôi và nhiều người tị nạn khốn khó đã từng chiến đấu  với trí óc, thân xác của mình với hy vọng ngày nào đó retire được yên ổn vậy mà tất cả như chỉ là mới bắt đầu lại bằng con số 0. Buồn và cô đơn quá ông ơi.”

 

Cuối cùng xin thành thật cảm ơn quí đài đã cho tôi được cơ hội nói về tiếng kêu trầm thống này với hy vọng các bậc phụ huynh và các bạn trẻ có cái nhìn rõ hơn về tương lai của mình sắp chọn.

 

 

 

Người rừng trung quốc, người rừng việt nam

Lời chũ Blog:  Mấy hôm nay, tôi đọc Linh Sơn của Cao Hành Kiện (Nobel về văn chương 2000), bản dịch của Trà Nguyễn. Tôi nhận thấy nhà văn họ Cao đã chú tâm đên một nhân vật  là Người Rừng qua một số truyện.
Đọc để học hỏi. Nhưng đọc cũng để so sánh. Không phải chỉ ở Trung Quốc mới có NGƯỜI RỪNG, nhưng ở VN vẫn xuất hiện một loại NGƯỜI RỪNG “biến thể”. Bằng cớ  là từ một bản tin trên báo chí trong nước vào khoảng cuối năm 1998 cho hay
 chính quyền Quảng Ngãi mới đây vừa bắt giữ một người Rừng. Anh ta nguyên là một hạ sĩ quan thuộc tiểu đoàn 70 Biệt Động Quân Biên Phòng. Anh và hai người bạn vượt ngục vào năm 1979. Khi bị bắt, người lính VNCH, gốc Hré, đã không còn gì hết, trừ chiếc khố bằng vải rằn. Các phóng viên diễn tả anh như một người tiền sử nửa người nửa vượn. Anh ta rất khó khăn khi nói trở lại tiếng mẹ đẻ của mình… Anh chỉ hú lên những tiếng hú ai oán.

Chúng tôi xin post cả hai. Một từ Linh Sơn của Cao Hành Kiện. Một từ Mặc Niệm Chiến Tranh của Trần Hoài Thư.

Continue reading “Người rừng trung quốc, người rừng việt nam”

Chiến tranh trang điểm

(Truyện viết ở hải ngoại)

Khi tôi ló mặt vào phòng, thì tiếng hát Happy birthday to you happy birthday to you cùng tiếng vỗ tay đồng loạt trổi dậy. Tôi nghe cả giọng ca ồ ồ của ông Marty xen lẫn giọng ca thánh thót của nàng Nancy, nàng Virginia…

Continue reading “Chiến tranh trang điểm”

Thơ đến từ đâu….

Bạn hỏi ta có bùa ngải gì không
Trong khi đơn vị nhiệm vụ  đi đầu
Mỗi lần lên đường là mỗi lần xem như đi vào cõi chết
Vãy mà mấy năm  quần hồng giây thun cột kính
Đạn cứ xẹt ngoài,  và vẫn sống
vẫn  làm thơ

Ta vẫn cứ  làm thơ,  dù làm trên bao thuốc  lá basto
Dù  trên những trang giấy  rời nhét vội vàng trước giờ bị bốc
Dù khi ngồi  giữa mã mồ khí âm nghi ngút
Nghe cả một cung đàn trổi dậy quỉ ma
Ta vẫn làm thơ dù thơ từ cõi ta bà
Vẫn làm thơ khi đời bị bập dầm lem luốc

Ta vẫn làm thơ, bởi thơ qua màn khói thuốc
Tạo thành đôi mắt người  mờ ảo, liêu trai
Ta vẫn làm thơ, bởi trong rừng tràm khổ sai
Ta mới thấy thế nào là cái đẹp
Tưởng tượng những cánh đồng cỏ lau bất tận
Ai sơn một màu vằng thắm dưới hoàng hôn ?

Ta vẫn làm thơ, vì ta cô đơn
Ngoài trừ thơ, ta chẳng còn ai chia sẻ
Khi con người sinh ra khóc là báo khổ
Không, con ngựa sinh ra, không khóc, sao khổ cả đời !
Cám ơn đời, thơ đến từ mọi nơi

Lại bão tuyết (2)

Lại bão tuyết (2)

Thế nào tôi cũng phải cầm xẻng
để dọn driveway
dù tuyết phủ cao quá đầu gối đi nữa

Thế nào tôi cũng dọn cũng xúc cũng rồ máy xe
và sẽ thăm mình
Dù tôi sẽ thở hồng hộc
tim sẽ đập thình thịch như trống dồn
Dù đôi chân sẽ quị
mắt sẽ mờ
môi miệng bị đông cứng…

Tôi sẽ làm
để mà đến thăm mình
sẽ ngồi lại bên chiếc giường tự động
sẽ kê lại chiếc gối để mình nằm thoải mái trên giường
Sẽ mở lại bài Chủa Hương của Nguyễn Nhươc Pháp
để mình nghe
để chúng ta cùng nghe

Nhưng mà hôm nay tôi xin đầu hàng
Tôi không thể làm gì hơn
Khi cả cái cây to tướng nằm ngang chắn đường

Tha lỗi cho tôi
Tôi không còn biết cách gì hơn
NGoài trừ tháo lui, mình ạ

Nếu mà ngày xưa, tôi sẽ tìm cách vượt qua
Tôi sẽ vui mừng vì mật khu không cần tay người mà lại bị tàn phá vì bão
Nhưng bây giờ
Dù tôi là kẻ tiền thám có mặt đầu tiên
Không có ai, kể cả cảnh sát
chỉ có tôi
Tôi thấy nó đổ qua màn tuyết




Nhà dưỡng lão bên kia không phải là mật khu để tôi phải lo
Nó chính là gia đình tôi lúc này
Nó có mình, có những cựu chiến binh VN, có những người già bất hạnh không hề thấy thân nhân
Nó có cái bắt tay và đôi mắt sáng của ông lão mỗi lần nhìn tôi
Nó có câu chào captain để tôi phải chào tay lại
Nó có hơi ấm khi tôi gài mấy cái khuy cúc áo cho mình
Nó có nỗi rộn ràng hạnh phúc khi tôi đẩy chiếc xe lăn trên những dãy hành lang
Khi tiếng đàn dương cầm bay theo, bay theo
vỗ vào hồn tôi như lời gióng sông ca hát

Nó làm đôi chân tôi như đi trên một chiếc thảm trời
Người tôi bay, bay cùng tiếng nhạc valse
dội vào vách tường, trần nhà
theo cả hành lang dài hun hút
Và tôi đã ngừng đẩy.
Mình có nghe miềm hạnh phúc của tôi không ?

Như vậy, tôi sẽ không đến thăm nuôi mình chiều nay
Hãy rán ăn hot dog, pizza, pasta, hambuger  nghe mình
Hãy rán tập khi tôi không có mặt nghe mình
Chúng ta hãy chuẩn bị nghe mình
Bởi vì cái ngày đó trước sau gì cũng đến

Lại bão tuyết

tht-snow

Tại bãi đậu xe của Nursing home trưa ngày March-7-2018

Thấy hình ta không ?

Chân dung của thằng ngụy
Chân dung của thằng bụi đời
Chân dung của thằng trung đội trưởng thám kích
Chân dung của thằng quán quân thất tình, con gái chê vì sợ làm góa phụ
Chân dung của thằng giự gìn từng tấc đấc nhưng không có một chỗ để cắm dùi
cuối cùng Mỹ thương cho một căn nhà rộng mênh mông bốn phòng ngủ

Thấy hình ta không?
Quá thảm không ?
Râu trắng tóc trắng tuyết trắng dính mũ dính áo quần
Mấy sợi dây điền trời cắt ngang nền mây xám đục
Dưới đất trên trời trắng và trắng
Vậy mà trái tim hắn thì đỏ thắm làm sao
Hắn hát hắn ca hắn đóng vai thằng hề charlot
Hắn dỗ dành bà ơi món canh này có bạc hà râu húng cá salmon
Có cả giò thủ bánh chưng do một nữ bác sĩ ở Cali  gởi tặng
Ráng ăn nghe bà
Để tôi rót cho bà cốc nước
Để tôi lấy kéo cắt những cọng bún dài
Bà biết là tôi thương bà biết bao nhiêu không?
Ba biết là mổi ngày đầu óc tôi chỉ quanh quẩn với mấy món ăn để bà được thưởng thúc không?
Tôi thương bà vì bà chọn tôi trong khi con gái nhà lành chê tôi là thằng lính dữ dằn
trong khi em gái Dạ Lan thì suốt ngày anh là chiến sĩ của lòng em
Tôi thương bà vì tôi chẳng còn ai nữa
Bà thấy không
Tôi ra parking dưới trận bão tuyết mịt mùng
Và đứng yên
Đứng thật yên
Tóc tôi trắng phau như tuyết
Râu tôi cũng vậy
Tôi đứng thật yên
Một snow man Việt Nam

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Hoa đồng

 

Ngày đầu tiên gặp em
si tình mà không dám ngỏ
Em đứng giữa vườn,
tưới cà tưới cải
Anh ngẩn ngơ nhìn như phải chiêm bao
Sân nhà em lấm tấm hoa ngâu
Khế cũng trổ hoa
Rụng bên bờ giếng nước
Chiều chậm xuống
nhả lên trời khói trắng
mất… mất… dần trong ánh nắng hoàng hôn…

Em xinh vô cùng giữa vườn xanh trổ bông
Khiến bướm ong quên buổi chiều sắp ngủ
Bướm trắng bướm vàng tham lam nhụy nở
Để si tình càng nẩy nở hồn anh

Đừng nói gì tôi,
hỡi người truyền tin
Anh có biết là tim tôi đang ca hát
Anh không biết, khi nàng xách thùng tưới nước
Là bụi ớt bụi cà hớn hở mừng vui
Là hồn tôi cũng  được tắm mát lắm anh ơi…

Từ đấy mỗi lần trước khi vượt sông
Chàng lính vẫn dừng lại bên nhà
Để nhìn người em gái nhỏ
áo bà ba giữa khóm cà khóm cải
Xinh xinh cỏ nội hoa đồng…

Cau mới trổ buồng, trái nhỏ còn non
Khi cau lớn em nhớ để dành cho anh em nhé…
Rồi anh sẽ đứng bên người yêu nhỏ bé
Sẽ dâng cau
dâng trầu
dâng rượu đến khắp bà con
Cha mẹ anh xa, chỉ còn đám bạn lột lon
Mượn chiếc dodge cũ mèm
không mui làm xe đám cưới
Và súng nổ liên thanh mừng cô dâu mới
Để mọi người vui dùm những thằng thám báo chịu chơi…

Nhưng cuối cùng sông núi vẫn chia phôi
Có ai biết một ngày anh phải bỏ
Phải đành đoạn xa lìa người em nhỏ
Phải tha phương nơi xứ  lạ quê người
Đã bao năm rồi nước vẫn cứ trôi
Chắc những mùa cau vẫn trổ buồng trổ trái
Không biết có buồng nào em dành cho anh
ngày anh về lại
Để anh còn tưởng nhớ lại người thương
của hoa đồng cỏ nội quê hương…?

Oreste hôm xưa và Oreste hôm nay

Nếu Jupiter nhân danh Thượng Đế, thì ông quan tòa trong Tòa án quân sự Mặt trận  nhân danh quốc gia.  Không ai có quyền chống đối họ.  Vậy mà chỉ có Oreste đã thách thức, Trong thần thoại Hy Lạp, Oreste nhân danh tự do của con người. Trong tòa án quân sự mặt trận, Oreste Việt nam nhân danh tuổi trẻ. Tại sao tôi ví người quân phâm ấy là Oreste vì anh ta đã dám nói lên một cách uy dũng về cái quyền của tuổi trẻ của anh.

Oreste của thời chiến Việt Nam:

… Tôi nhân danh tuổi trẻ Việt Nam, kết án Cộng Sản, tư bản đã đưa đất nước tôi vào cuộc chiến tương tàn. Chúng tôi là nạn nhân từ những thế lực. Nếu kết tội là kết tội những ông lãnh tụ đã không biết thương dân tộc mình. Chúng tôi không gây nên cuộc chiến này. Chúng tôi không có tội. Nếu các ông không bắt tôi ở tù chung thân, tôi sẽ đào ngũ nữa. Tên lính lạnh lùng nói. Ông toà đập chiếc búa gỗ lên bàn, nói lớn:

Bị can trở về hàng. 

Tên quân phạm trở về chỗ ngồi, nhìn ra ngoài cửa sổ.

Toà nghị án. Có tiếng xê dịch khô khan nặng nề trên hàng ghế chánh thẩm. Đám quân phạm được đẩy lên xe, chỉ còn lại lưa thưa những người thân nhân trên hàng ghế chờ đợi. Ông trung úy ủy viên chính phủ ra ngoài hành lang xem báo. Tên trung sĩ quân pháp phụ trách việc gọi tên bị can đã xách xe chạy rong ra phố. Đám lính dàn chào ngủ gục trên ghế.

Nhân danh quốc gia Việt Nam, tôi long trọng tuyên bố các bản án …

Ông quan tòa trở ra phòng lúc 12 g 30. Ông bắt đầu đọc bản án. Một con chim sẻ vụt bay vào hội trường. Tù ở. Tù treo. Tha bổng. Cái danh sách dài như vô tận khiến ông phải ngừng lại, uống nước lấy hơi rồi tiếp tục đọc tiếp. Chỉ có những chiếc bàn chiếc ghế trong hội trường vắng ngắt mới nghe những lời tuyên án của ông.
(trích Cảm Tạ Văn chương của THT sắp xuất bản)

Oreste  của huyền thoại Hy Lạp:

Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967)

IMG_0280

Những Ruồi.Bản dịch của Phùng Thăng từ  Les Mouches của J.P.Sartre.   Thanh Hiên xb 1967, Thư Án Quán sưu tập, chụp, đóng bằng bìa cứng có bao jacket cover ở ngoài. Số lượng thực hiện là   2 tập.  Một dành cho Phùng Thăng. Và một dành cho THT.  Như là cách để biểu lộ sự tri ân đến  một dịch giả  trẻ đầy trí tuệ  đã cống hiến một dịch phẩm giá trị cho văn học VN, phải bị chết thảm khốc dưới bàn tay Miên quỉ Polpot vào năm 1975.

Trích văn

 

JUPITER:

Oreste ! Ta đã tạo người và ta đã tạo nên mọi sự : hãy nhìn đây. (Những bức tường của ngôi đền tự mở rộng. Bầu trời hiện ra, nhấp nhánh những ngôi sao xoay vần. Jupiter đứng ở cuối sân khấu. Giọng nói của Thần đã trở nêt to khiếp – máy vi âm – song người ta vẫn còn hơi nhận rỏ.) Ngươi hãy nhìn những hành tinh kia đang vận chuyển trong trật tự, và không bao giờ và chạm nhau: chính ta đã thu xếp sự vận hành của chúng, tuân thủ có công lý. Ngươi hãy nghe hòa điệu của những tinh cẩu, cái bài ca cảm tạ vĩ đại của khoáng chất đang vang dội khắp bốn phương trời (Ca nhạc.) Do ta mà những chúng loại được tồn tại mãi, ta đã ra lệnh rằng một người luôn luôn sinh ra một con người và con của loài chó là chó, chính do ta mà chiếc lưởi dịu hiền của những cơn thủy triều đến liếm nhẹ trên bãi cát và rút lui vào giờ nhất định, ta làm cây cối tăng trưởng và hơi thở của ta dần lối cho những đám mây phấn hoa vàng bay quanh trái đất. Hỡi kẻ tiếm vị, ngươi không phải đang ở tại nhà mình đâu ; ngươi đang ở trong thế giới như cây gai ở trong thịt da, như kẻ săn bắn trộm ở trong khu rừng của lãnh chúa; vì lẽ thế giới là thiện hảo ; ta đã tạo ra thế giới theo thánh ý của ta và ta là điều Thiện. Nhưng còn ngươi, ngươi đã gây nên điều ác, và những sự vật đang lên án ngươi bằng những giọng lời hóa đá của chúng : sự Thiện ở khắp mọi nơi, đấy là ruột của cãy hương mộc, là vẻ tươi mát của dòng suối, là đường vân của đá lửa, là trọng lực của hòn đá ; ngươi sẽ tìm thấy lại sự Thiện tận trong cả bản chất của lửa và ánh sáng, ngay cả thân xác người cũng phản bội người, vì nó vâng phục những mệnh lệnh của ta. Điều Thiện ở trong người, ở bên ngoài người: thâm nhập vào người như chiếc lưởi liềm, nó nghiến nát người như một ngọn núi, nó mang người đi và lăn tròn ngươi như thể một đại dương ; chính điều Thiện đó đã cho phép người thành công trong công việc xấu xa của mình, vì nó là sức sáng của những ngọn nến, sức cứng rắn của thanh gươm người xử dụng, sức mạnh của cánh tay người. Và cái điều ác mà người quá kiêu hãnh về nó thế kia, điều ác mà người tự nhận mình là tác giả, điều ác ấy là gì nếu không phải là một phản ánh của thực thể, một lời thối thác, một hình ảnh lừa phỉnh mà ngay cả sự hiện hữu của nó cũng được nâng đở bằng điều Thiện,

Hãy trở về lại nơi chính mình, Oreste : cả vũ trụ đang bất bình ngươi, và ngươi chỉ là kẻ yếu đuối trong vũ trụ. Hãy trở về lại với bản tính của mình, hỡi đứa con lạc tính: hãy nhìn nhận lỗi lầm minh, kinh tởm nó, nhổ vứt nó ra khỏi người như một chiếc răng sâu tấy mủ. Nếu không,  biển cả  sẽ rút đi trước mặt người, những dòng suối sẽ khô cạn trên đường người đi, những hòn đá cuội và đá tảng sẽ lăn ra khỏi đường và đất sẽ mủn ra dưới bước chân người.

ORESTE.
Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.

Những bức tường khép gần lại, Jupiter tái hiện, chán nản và mệt mỏi; Jupiter đã lấy lại giọng thường.

JUPITER:
Ta không phải là vua của người sao, hỡi loài sâu bọ vô sỉ. Vậy chứ ai đã tạo ra ngươi?

ORESTE:
Chính ngài. Nhưng lẽ ra ngài đang nên tạo ra tôi với tự do trong hồn.

JUPITER:
– Ta đã ban cho người tự do để phụng sự ta.

ORESTE
– Có thể như thế lắm, song tự do đó đã quay lại chống đối ngài, và cả tôi lẫn ngài đều không thể làm gì được cả.

JUPITER.- Dữ chưa ! Giờ ta mới nghe một lời tạ lỗi.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967 từ trang 122-124)

 

Đón Tết

 

IMG_20170624_4

Những ngày gần Tết, năm nào cũng vậy, Oanh vẫn loanh quanh với những chuẩn bị. Gia đình có ba người, nhưng đối với nàng, gia đình đầy ấp. Người đã khuất, người còn sống. Và cả những vị thần linh hiển thánh. Các ngài đã hiện diện cùng khắp, trong từng thước khối không gian. Để mỗi buổi tối, các ngài được gọi về giữa màn khói nhang nghi ngút, trong lời khấn vái thì thầm của vợ chàng. Chàng đã để vợ tự do chọn lựa các vị Thần nàng ưa thích. Người ta đã từng nói đôi khi niềm tin là một phương thuốc mầu nhiệm. Với Oanh, điều này là tuyệt đối. Nhất là sau chuyến vượt biên hãi hùng. Nàng luôn luôn kể về một sức mạnh vô hình nào đã chở che, dẫn dắt con thuyền đến bến bờ bình an sau những ngày lênh đênh trên biển cả, hết lương thực, cạn xăng dầu, bị cướp, bị bão. Nàng luôn luôn nhắc về một đấng quyền năng cao cả luôn luôn hiện diện trong cõi trần gian, nghe lời nàng cầu xin, thương hại giúp đỡ nàng lúc nàng bất lực. “Anh thấy không, tự nhiên một gia đình vô sản như gia đình chúng ta lại có mặt tại xứ này. Anh thấy không…” “Anh thấy không, em cầu ông Địa, ông Địa nghe lời em liền hà.” khi chiếc chìa khóa xe, cái bóp, cái bằng lái xe bị rớt, hay bị bỏ quên ở đâu đó, được tìm lại. Nàng đã chỉnh chàng khi chàng vô tình viết chữ trời không chữ T hoa. Phạm Trời không nên. Nàng cũng trách chàng khi chàng kêu lên Ôi Trời. Kêu như vậy là phạm thượng. Ngài ở trên cao đều nghe rõ. Sợ Ngài giận Ngài phạt. Chàng nghe lời nàng như tên lính tuân lệnh quan ba. “Như vậy cũng hay. Vừa lấy lòng vợ vừa đẹp dạ Ông Trời”.

 

Những ngày gần Tết, cơn khắc nghiệt của thời tiết đã lên cao điểm. Tuyết cứ đổ xuống hết trận này đến trận khác, đến nỗi những xe công lộ phải làm việc túi bụi. Gió cuốn từng đám tuyết bay trắng xóa. Bầu trời xám đục, ít nắng. Cây cối trơ vơ những thân cành trơ trụi. Tuy vậy, trong nhà, Oanh đã chuẩn bị tất cả để đón mùa xuân. Những nhánh hoa đào hoa mai nhân tạo cắm trong bình đặt trên bàn trong phòng khách. Mức bánh đặt gọn gàng trong hộp. Dưa hấu đỏ, và bánh chưng xanh đã sẵn sàng. Những phong bì đỏ để mừng tuổi, dù ở vùng này, không có lấy một gia đình đồng hương. Nàng đã cẩn thận ghi cả ngày giờ tốt để xuất hành. Nàng bắt chàng phải nghỉ ngày mồng một Tết, không được đi đâu. “Em xem lịch, xuất hành đầu năm không tốt đâu. Mồng hai là tốt nhất.” Nàng cảnh cáo chàng. Có lẽ nàng ngại chàng sẽ phá lệ ra quán cà phê nhìn cô nàng mắt xanh như mọi buổi sáng khác.

Đêm giao thừa, tuyết lại rơi. Trận bão tuyết đã bay ra biển Đại Tây Dương nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn lẩn quất trong nội địa. Tuyết rơi trắng xóa trên mái nhà, trên những hàng cây sồi, trên sân cỏ. Cả gió cũng vần vũ. Từ trong nhà, chàng nhìn ra ngoài. Oanh đã cảnh cáo chàng không được buồn, phải cười, phải vui, phải yêu đời, để cả năm vui cửa vui nhà. Nàng làm sao biết tâm trạng của chàng lúc này. Tê tái buồn. Chàng nhớ đến quê hương. Nhớ đến đêm giao thừa cũ. Nhớ đến bàn thờ tổ tiên. Nhớ đến  tiếng reo lách tách của bếp lửa và nồi bánh tét ấm cúng. Nhớ đến người con gái hàng xóm đi lễ chùa, áo vàng xinh đẹp làm sao. Nhớ đến bạn bè luân lạc, đứa mất kẻ còn… Tại sao lại phải nhớ hoài về một nơi chốn chỉ thấy chiến tranh thù hận triền miên. Tại sao lại không bằng lòng với hiện tại. Thì ra, đời vẫn có những điều rất nghịch lý.

Oanh đã cúng rước ông bà xong. Chàng nghe nàng khấn: “Lạy ông bà, gia đình chúng con xin cúng mâm cơm chay để rước tổ tiên ông bà về vui xuân với chúng con.” Nàng lại hối chàng vái ông bà. Bây giờ chàng chẳng khác là cậu học trò. Chàng hỏi: “Vái sao em ?” “Thì cầu xin ông bà phù hộ anh được ngồi mãi cùng cái job, phù hộ cho con mình học hành tấn tới” Chàng nghe lời, nhưng thật sự chàng cảm thấy hết sức khó khăn, như mỗi lần chàng được yêu cầu dành một phút mặc niệm cho những chiến hữu, đồng bào, bà con ruột thịt trong các buổi lể. Không biết trong lòng những người có mặt, có ai để lòng thật sự mặc niệm hay chỉ nhắm mắt để mà nhắm mắt ?

 

Sau đó, chàng và nàng xuống phòng khách. Nàng lại nói: “Ngày mai, anh nhớ đừng mang rác ra như thường lệ. Anh cũng phải tránh nổi giận, chửi thề, không hút thuốc.” Chàng muốn kêu lên : “Thì như vậy, sống để làm gì hở em?” Nhưng chàng phải cố nén. Phải vui. Chàng tự hứa. ít ra đêm nay, khác với mọi đêm.

 

Kim đồng hồ sắp nhảy lên số 12. Chàng nhìn vợ, muốn nói một lời chúc tụng. Nhưng chàng thấy trên má nàng hai giọt lệ lăn xuống. Nàng chùi mắt, mếu máo: “anh ơi, em nhớ má quá đi.”

 

 

mái tóc huế xưa

Trần Hoài Thư

Thì em cứ cho anh là thằng đàn ông vong xứ. Về đi. Hãy về đi. Có gì còn lại để mà về. Hay là về để ngậm ngùi ra lại cầu xưa, nhìn lại bóng mình trên mặt nước. Để thấy những vòng tròn sóng lan dần và lan dần, mà chắc gì còn nghe tiếng chuông nhà thờ đổ xuống như thể làm ngẩn ngơ những đám mây trắng dừng lại trên sông. Về đi. Hãy về đi.

 

Và từ buổi đó, anh ra đi, theo những áng mây trên Trường Sơn và những ngọn tháp chàm cô độc xuôi dọc theo bờ duyên hải. Mái tóc có lần phủ ngập hồn anh, nhưng lửa khói đã làm anh chết ngợp. Anh đi tìm. Em ơi, anh đi tìm. Nhưng có giòng suối nào để hồn anh được tắm mát ? Có mùi hương nào để nghe lại một thưở dại khờ. Anh đi tìm. Qua những sợi tóc cuồng lọan tơi tả của những ả giang hồ, chưa xanh mà đã sớm biết đời cay đắng. Qua mái tóc cô giáo sinh trường sư phạm Qui Nhơn bị bắn ở cột cờ quận Tuy Phước, chiếc áo ngủ còn đọng cả máu tươi. Qua đầu tóc dính cả bùn   của người con gái giao liên nằm phơi thây giữa đồng ruộng. Vâng, anh đi tìm. Nơi nào có mái tóc của một thời trẻ dại, để gió bay lùa sợi tóc mây. Anh đi tìm. Chẳng ai cho anh tìm. Ngay cả em nữa. Anh lăn lộn cùng vết thương trong phòng cứu cấp hồi sinh. Anh tàn bạo mở chốt lựu đạn bỏ trái mảng cầu vào ly và nốc rượu. Anh khát. Anh đói. Anh vồ chụp cả  thau cơm chó mà nhai ngấu nghiến. Anh  thúi tha ghê tởm cùng cơn dịch kiết lỵ kinh hoàng trong trại cải tạo. Đừng mơ mộng nữa. Đừng lãng mạn nữa. Hãy quên. Hãy nhìn vào tương lai. Hãy đái vào cây xăng nơi cửa phố nơi máu anh đổ xuống một lần cho thành phố bình an. Hãy đốt đi kỷ niệm ngọc ngà. Hãy quên. Hãy hì hục sống. Nhưng mà không ai bắt sao lại nghe lạnh chùng lòng. Một người xa Huế đến hơn ba mươi năm, chắc ngày về phải là buồn ghê gớm.

Thì em cứ cho anh là thằng đàn ông vong xứ. Về đi. Hãy về đi. Có gì còn lại để mà về. Hay là về để ngậm ngùi ra lại cầu xưa, nhìn lại bóng mình trên mặt nước. Để thấy những vòng tròn sóng lan dần và lan dần, mà chắc gì còn nghe tiếng chuông nhà thờ đổ xuống như thể làm ngẩn ngơ những đám mây trắng dừng lại trên sông. Về đi. Hãy về đi. Nơi này hay nơi khác. Thì cũng là quê nhà. Khi đất mình tha thiết. Khi trời mình nương tựa. Nhưng chắc chắn không có một nơi nào anh tìm được mái tóc thề  năm xưa ấy nữa.

 

Và em cũng vậy. Có phải không ? Bởi vì  con người đều có một thời. Mái tóc của em chấm vai, cho xanh thêm 16 hay cho óng ả thêm tuổi hạ tuổi hồng, Mái tóc em có dài thêm tận lưng, có chảy thêm như giòng sông nhỏ, hay có  bay theo chiều gió  lớn, thì cũng một ngày, sẽ không còn. Tóc sẽ cắt ngắn, để vĩnh biệt cất vào ngăn kéo thời gian, để làm buồn những gã con trai, để có gió mà không có tóc mây, để có con đường mà không còn người áo trắng. Tóc hết bay rồi, mà vành nón cũng hết nghiêng nghiêng, cặp sách cũng hết ấp vào trước ngực, và những chú cá cũng hết rồi chết sửng dưới cầu. Nhưng có lẽ với em là hết, nhưng với anh vẫn còn. Như Huế vẫn còn trong anh.

 

Anh đã xa Huế hơn ba hơn ba mươi năm có lẽ. Đôi chân đã phiêu bồng trên những dặm dài, và càng ngày càng dài vô tận. Chiều dài của không gian hay địa lý cũng thăm thẳm như chiều dài của thời gian. Từ một giòng sông An Cựu nắng đục mưa trong nay bỗng nhiên đứng ở bên giòng Hudson sương và khói. Từ nơi này, thấy những con tàu cứ 5 phút là cất cánh hay đáp xuống phi trường Newark. Về đi, về đi… Ở nơi này, không có cầu đá để anh đứng mà tìm những vòng tròn sóng cũ. Ở nơi này không có ghế có bàn để anh còn ngồi đốt lại điếu thuốc tình si. Ở nơi này, không có những đàn bướm trắng, qua cầu, lạc vào trong sương. Và ở nơi này không có những giòng suối đen mà những cánh hoa phượng vô tình đậu lại. Về đi… Nước thì vẫn chảy mà anh thì vẫn  làm kẻ bên lề. Có một cơn mưa bụi. Có bờ bên kia, thành phố mờ nhạt ánh đèn. Anh nói với lòng. Ly cà phê còn nóng lắm. Như lệ lòng của anh đây. Về đi…

 

 

 

Trái đất tròn, không ngờ  có ngày anh lại gặp em, nơi rất xa quê nhà. Cám ơn  định mệnh. Cám ơn Trời Đất đã đưa đẩy hai người bạn học một thời được cơ duyên hội ngộ. Em ngồi đấy. Khác xưa. Khác hẳn. Người bạn học nói: Mi còn nhớ Cẩm không. Cẩm có mái tóc đẹp nhất trường đấy.

Trời ơi. Cẩm ấy sao. Tau không thể ngờ.

Để tau đến gặp.

Rồi anh đến bàn em.

Cám ơn cuộc họp mặt để tạo những cuộc gặp gỡ trùng phùng.

 

Ngôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa

Hãy cho ta đếm những áng mây…

 

Những áng mây thì vẫn ngàn vạn năm trôi đi và trở lại.  Có khi hợp rồi tan và tan rồi hợp. Như hôm nay anh về cùng ngày họp mặt của những con xa xứ  này. Và không thể ngờ anh lại được gặp em. Bất ngờ lắm. Sững sờ lắm. Thì ra Cẩm, Cẩm của thời ta si dại. Nhưng mái tóc không còn. Dáng e ấp cũng đã mất đi. Cẩm mừng ríu rít huyên thuyên. Nỗi mừng của bạn bè một thời cắp sách. Không phải là nỗi vui mừng như hai kẻ ở hai đầu sông xa tít mà uống cùng một giòng. Anh Vinh bây giờ ở mô làm gì, mấy con rồi. Còn Cẩm? Cẩm có gia đình từ khi anh đi lính. Anh ấy đáng lẽ hôm nay có mặt, nhưng bận trực bệnh viện. Cẩm có một trai một gái. Rồi em giới thiệu người thiếu nữ bên cạnh. Đây là con em. Cháu tên Bảo Hiền. Rồi em quay sang con gái, nói: Đây là bác Vĩnh, bạn học với me, con chào bác đi.

 

Cháu Bảo Hiền quay sang anh và cúi đầu.  Trời ơi, một mái tóc thề, một giòng suối  đang phủ trên bờ vai rất mềm của cháu. Dưới ánh điện nhiều nến, mái tóc óng ánh, như một giòng suối dát bạc. Giòng suối ngày nào lại chảy qua đời anh. Giòng suối mà anh đã một thời tắm bơi mê mệt. Giòng suối nào mà những người con của xứ Huế tự hào. Nó không phải là giòng sông mà vua Nguyễn một hôm nào nghe mùi hương tỏa dậy để gọi  là sông Hương. Bởi vì sông Hương chỉ luân lưu theo hai mùa mưa nắng từ quê nhà. Sông Hương không chảy đi xa. Không khắc ghi sâu đậm vào tâm khảm của người xa xứ. Trái lại, cái giòng suối nhỏ mà mềm mại, mà mượt mà, mà ánh lên màu mun tuyền, mà để anh có lần gục đầu úp mặt. Nó đã chảy khắp bốn biển năm châu. Nó từ một thượng nguồn xa lắc xa lơ, để hạ nguồn chia làm những nhánh sông mang mùi hương mộng mị đến khắp cùng trái đất sau tháng 4- 1975. Để âm thanh tiếng Huế vang vọng khắp nơi khắp chốn. Để những mái tóc lại thêm một lần được gìn giữ qua lớp con lớp cháu.

 

oOo

 

Ôi mái tóc. Phải. Anh đã neo thuyền để đợi cô tóc xỏa bờ vai. Anh đã đợi cô từ đầu cầu, với nụ hoa cài lên mái tóc, với hồn cũng lan những vòng tròn sóng bâng khuâng. Nhưng cuối cùng, thì  thuyền đã bỏ, mà cầu đã xa ngút ngàn. Nhất là anh đang ở một nơi quá đổi xa lạ, không thể ngờ trong đời này. Làm sao mà tìm ở đây một buổi sáng sương mù hay một trưa đường rực bông phượng đỏ. Làm sao mà nhìn lại những người con gái yểu điệu cuống quít hai tà áo. Làm sao khi văn hóa, xã hội, tập tục như bỏ lại đọan đành. Làm sao khi con tim của chúng ta đã chai sạn, và mái tóc của chúng ta cũng đã nhuốm bạc. Thế hệ chúng ta cũng sắp sang trang. Và thế hệ khác lại tiếp nối.

 

Nhưng trôi qua không phải là mất.

Giòng suối ngày xưa đã chảy ra biển đã mất vào trong cõi vô cùng, thì có giòng suối khác lại tiếp tục.

Óng ả trên bờ vai rất mềm, rất thon, rất nhỏ bé và rất thân yêu. Của con em.

 

Hình bóng của em, có phải ?

 

 

Tháng 11.2007

 

 

Mùa hạn

 

Mùa hạn. Cùng với lửa từ mặt trời là lửa chiến trường. Và chúng tôi cũng theo những màn lửa khói ấy mà có mặt. Và ở đó, sự hiểm nguy không phân biệt bất cứ một ai, dù kẻ ấy có súng đạn hay không súng đạn như chúng tôi. Con đường ra mặt trận không còn được xữ dụng được nữa, khiến  chúng tôi càng cực khổ vô bờ. Những thân người bị những thùng đạn dược làm oằn xuống. Hai bàn tay tươm máu. Những ngón chân cũng vậy. Phải bấu vào đất đá để giữ thăng bằng. Nếu không cả khối đạn trên người sẽ rớt xuống và có thể đè chặn ngay ống quyển cũng không chừng. Chúng tôi phải dùng đòn gánh, đòn bẩy để di chuyển những thùng lựu đạn, thùng dầu, cả  những thùng hộp lương khô cho chiến trường. Và cả công việc phải chuyển những can nước  để mang về Bộ chỉ huy cho ông tiểu đoàn trưởng tắm rửa.

 Mùa hạn. Cái đơn vị trừng giới càng khổ hơn bao giờ. Bên phía quân miền Nam, càng bung ra những cuộc hành quân càn quét vào phía sâu gần biên giới, và càng hành quân, chúng tôi càng bị trưng dụng nhiều hơn. Có đơn vị, đơn vị trưởng dễ dải và thông cảm. Nhưng có đơn vị, họ xem chúng tôi là những kẻ tội tù cần phải canh chừng. Và họ đã xữ dụng chúng tôi tối đa như thể những tên nô lệ không hơn không kém.

 Rồi đến một ngày, người ta lại điều động chúng tôi về thị trấn miền núi. Lý do, người ta cần chúng tôi săn sóc cái dinh thự nghỉ mát – nơi những nhân vật uy thế nhất của quốc gia hay của vùng vẫn hay tìm đến, trong những dịp nghỉ hè, hay trong những mùa săn bắn.

 oOo

Mùa hạn. Nhưng ở đây không có lửa chiến tranh. Chỉ có lửa từ một mặt trời hừng hực đốt. Hầu như không có một ngọn cây nào chịu mọc lên từ mặt đất khô cằn nứt nẻ. Thỉnh thoảng có một cơn gió núi thổi qua, khiến bụi đỏ tung lên mù trời quất xối xả vào mặt mày chúng tôi cùng với hơi nóng rát. Cỏ đã chết từ một ngày nào, vàng khô như bãi sa mạc. Nhưng ở đây, đằng sau cánh cổng sắt và dãy tường vôi nhạt là một thế giới khác. Ở đây, nơi những ngài lãnh đạo,  những mệnh phụ phu nhân, thỉnh thoảng ghé về, và sống như bậc vương giả. Ở đây sân cỏ xanh rì, hồ thủy tạ nước trong veo, và đàn cá vàng óng ánh lội. Ở đây là những buổi tiếp tân linh đình, những cuộc vui, khiêu vũ thâu đêm suốt sáng… Ở đây có phi lao, giáng hương, hoa sứ, hoa giấy. Ở đây là những bậc thềm lót bằng đá thanh dẫn về một hành lang mát lạnh. Những chú chim sẻ buổi trưa đuổi nhau ríu rít dưới hành lang. Và chiều đến, những người đàn ông, đàn bà ra sân cỏ, nằm hoặc ngồi âu yếm bên nhau. Người ta đã quên những gì xảy ra ở  phía rừng. Đã có những lực lượng hùng hậu nằm ngoài vòng đai bảo vệ đêm ngày.

Dù chúng tôi đã khổ sở để tưới nước suốt ngày nhưng thỉnh thoảng giữa đám cỏ xanh rì vẫn hiện ra những lốm đốm vàng. Nước cũng vẫn chịu thua. Chúng tôi đã phải làm việc quần quật để cố giữ màu xanh trở lại. Chúng tôi đã chuyền những ống dây cao su dài dặc, mang nước từ bồn ra bốn phía. Đôi khi ống cao su bị hỏng, chúng tôi không biết cách gì hơn là phải gánh những thùng nước đi một đoạn khá xa. Người ta không muốn thấy một ngọn cỏ vàng giữa một dinh điện nguy nga như thế này . Óc mỹ thuật của họ quả thật là phong phú. Hay là họ muốn tâng công trạng lên những kẻ quyền cao chức trọng từ đâu đó.

Bởi thế ông thượng sĩ phụ trách đã lo lắng không ít. Ông đã phải hét ra lửa, một khi đi kiểm soát:

– Làm ăn cái khỉ gì để cho cỏ mỗi ngày một chết!

Bạn tôi vừa kéo ống cao su, vừa bào chữa:

– Thưa thượng sĩ, tại trời đâu phải tại chúng tôi.

Ông ta la lên:

– Tôi không biết. Đây là trách nhiệm của các ông. Các ông nên nhớ các ông ở đây là còn may. Bạn các ông phải tải đạn ngoài mặt trận!

Rồi ông tức giận bỏ đi. Ông lại đem ra chuyện sống chết để hù dọa chúng tôi nữa. Chúng tôi đã hiểu trách nhiệm và nỗi khổ tâm của ông.

Hoàng hôn đã xuống thật chậm. Dinh thự đã nhuốm một màu vàng sẫm trên mái ngói. Lũ chim sáo từ một khu rừng nào đó trở về như mọi bận, gọi nhau inh ỏi. Thỉnh thoảng tiếng ve sầu lại vang lên như một cung đàn buồn bã. Các cây sứ đã rụng đầy hoa trên bãi cỏ, trên lối đi lót bằng loại đá quí. Phía xa, một nền trời đỏ ửng và một mặt trời đỏ như huyết hiện đằng sau những nhánh phượng khô. Thật là một hoàng hôn kỳ diệu. Những cơn gió mát đầu tiên của một ngày mùa hạ đã bắt đầu trở lại, làm lung lay những chiếc lá giáng hương. Ở chóp những cây trâm đang độ nở hoa, bướm vàng từng đàn đang dập dìu bay lượn. Tôi muốn chết ngất trong thiên nhiên tuyệt vời. Tôi muốn nằm ngay trên bãi cỏ xanh êm mà chúng tôi đã đổ xuống bao mồ hôi để gìn giữ, mà nhắm mắt lại, tận hưởng nỗi êm đềm của chiếc bánh xe thời gian đang dần lăn vào cõi tối. Tôi muốn uống  trọn những giàn hoa giấy, hoa hồng, hoa sứ trong vườn. Chúng tôi đã bắt từng con sâu, con kiến, nhổ từng cọng cỏ dại… Nhưng tôi không thể thực hiện điều mơ ước. Không ai cho tôi được quyền nằm đây để tận hưởng. Tôi chỉ biết ngồi yên trên cỏ, dưới bóng mát của cây giáng hương. Trên cao bầu trời xanh như màu ngọc bích. Có tiếng chim ríu rít trên cành. Ở đây mọi sự thật bình an. Và tâm hồn tôi cũng vậy. Cũng yên tĩnh chẳng khác một thiền sư.

Giữa lúc ấy thì một người con gái từ trong dinh bước ra.

Nàng trẻ trung trong chiếc quần jean và chiếc áo polo màu huyết dụ. Tóc nàng thắt bím. Cả gương mặt nàng thật rạng rỡ. Thêm đôi mắt sáng. Nàng đến bên bụi hồng cao quá đầu người. Và nàng say sưa nhìn lên những cánh hoa sung mãn trên ngọn cao. Sau đó, nàng nhón chân để níu cành hồng xuống. Rồi tôi nghe nàng la lên, tuồng như thét lên vì đau đớn. Tôi chạy lại. Thì ra vì sơ ý cả một cành hồng đầy gai móc vào da thịt của nàng. Nàng vẫn còn ôm lấy bàn tay ri rỉ máu.

Ôi cánh tay ngà ngọc. Cổ tay trắng, và những ngón tay mềm mại. Tôi nâng cả bàn tay của nàng lên, cố gỡ những chiếc gai nhỏ còn vướng lại trên da. Nàng ngồi bệt xuống cỏ. Tôi cũng qùi xuống. Nàng để nguyên bàn tay trong lòng bàn tay tôi, miệng mếu máo:

– Có sao không ông?

– Không sao đâu, thưa cô.

– Nhưng sao lại nhức quá thưa ông?

Tôi an ủi nàng:

– Chịu một lúc rồi sẽ hết. Lần sau, cô cần thì kêu tôi, tôi hái giúp cho…Hồng này nhiều gai lắm,  thưa cô.

Trông nàng tội nghiệp làm sao. Nàng nắm chặc tay tôi, Nước mắt xem chừng long lanh. Tôi quì xuống cố gở những móc gai tàn bạo. Vâng, em đau, tôi biết. Gai hồng này là loại gai nguy hiểm. Móc như móc câu. Khi móc vào da thịt thì khó có thể cạy ra.

Sau đó, nàng cám ơn tôi, rồi vào dinh. Còn tôi, nhìn theo nàng. Những ngón tay của tôi đã dính máu của nàng. Không hiểu sao tôi đưa lên miệng mà mút mà liếm. Máu vẫn còn tươi. Mằn mặn. Tôi nếm và nghĩ là mình đang nếm vào chất vị của hạnh phúc. Tôi bỗng nhiên cám ơn định mệnh. Cám ơn những ngày khổ nhục. Cám ơn mùa hè. Cám ơn bụi hoa hồng sum sê cao ngất. Tất cả đã cho tôi một cơ duyên, dù chỉ là một khoảnh khắc của đời.

Có tiếng giục của tên trưởng toán chuẩn bị về lại doanh trại. Một ngày như mọi ngày. Rồi hàng rào dây kẽm gai lại vây bọc. Rồi giờ cơm, toán trực lảnh phần từ hoả đầu vụ. Khi thì com nhảo, khi thì cơm khê. Những con cá mối trường kỳ. Rồi một ngọn đèn nhỏ soi mờ. Rồi ngày nắng lửa vì mái tôn, nhưng càng về đêm thì lạnh cóng vì hơi đất, khí núi, và cũng từ mái tôn thấp ấy. Đó là cái thế giới mà người ta gọi là trại trừng giới thả lỏng. Vâng, chúng tôi đang trở thành những con vật người đây, trả nợ cho quân đội đây, các người hả dạ chưa.

oOo

Kể từ ngày ấy, tôi có dịp được hái thêm những cánh hoa hồng khác. Nàng yêu hoa ghê gớm. Và tôi đã cố lựa những cánh hoa đẹp nhất, tươi thắm nhất để hái cho nàng. Đôi khi gai nhọn làm xước da thịt tôi, nhưng đâu có hề gì. Bên tôi nàng huyên thuyên như con chim sáo, hỏi han đủ chuyện:

– Ông làm ở đây lâu chưa hở ông?

– Vâng. Bắt đầu từ mùa hè…

– Xin lỗi ông, em thấy sau lưng ông chữ LCĐB. Chữ gì thế. Tại sao ông lại mang như thế?

– Là Lao công đào binh.

– Lao công đào binh là gì hở ông ?

Tôi im lặng. Phải nói làm sao về một sự thật. Có nên đưa nàng xem những vết sẹo đã cày trên da thịt tôi. Có nên nói với nàng về một huy chương Mỹ, hai cái bạc, hai cái đồng và hai chiến thương  mà một thiếu úy đã có trên mặt trận?. Có nên nói về những người như bố mẹ và ngay cả nàng nữa lúc này đang có bao nhiêu người lính hầu hạ, ngay cả việc bắt chúng tôi phải khổ cực trong dinh thự nguy nga, sang trọng này, là một trong trăm ngàn cảnh bất công bất nhẩn mà bất cứ người lính nào có suy nghĩ cũng phải phẫn nộ.

– Xin lỗi đã làm ông buồn. Ông cần em giúp gì không. Em sẽ nói với bố em…Bố thương em lắm.

Tôi cảm động. Nhưng tôi phải thú thật. Tôi đã chọn quyết định và phải chấp nhận quyết định. Tôi luôn luôn ngững đầu trong mọi hoàn cảnh. Tôi bắt qua chuyện khác:

– Tôi đoán cô lên vùng này để nghỉ hè?

– Vâng. Ba tháng hè.

– Chắc cô nhớ Sài gòn lắm phải không?

– Vâng, nhớ lắm, thưa ông. Dưới đó em có rất nhiều bạn. Chẳng bù trên này, chỉ một mình. Bố mẹ em lại bắt em lên đây ba tháng hè. Chán ơi là chán…

– Xin lỗi, cô học lớp mấy?

– Lớp 11.

– Ban nào?

– Ban B.

– Ngày xưa tôi cũng từng dạy lớp 11. Tôi dạy về Toán Lý Hóa.

– Thế ư? Em rất dốt Toán. Ông giúp dùm em nhé.

– Lâu quá, tôi quên rồi. Tuy nhiên tôi sẽ gắng. Cô cứ đưa đề cho tôi, tối về trại tôi sẽ giải hộ cho.

                              oOo

Rồi một ngày tôi được lệnh trình diện viên thiếu úy tùy viên của bà vợ ông Tư Lệnh. Hắn ta nhìn tôi bằng cái nhìn kẻ cả. Tôi hiểu, dù cấp bậc thấp, nhưng cái chức tùy viên của hắn đã làm chức vụ hắn còn cao hơn cả những sĩ quan cao cấp khác.  Có lẽ hắn  nghỉ là hắn sắp ban cho tôi một ân huệ. Tôi sẽ phải chào tay hắn, hay phải đứng nghiêm trình diện. Còn khuya. Tôi khinh hắn thì đúng hơn. Cái con người chỉ biết xách bị  và xách dép cho những phu nhân.

– Văn phòng Tổng Quản Trị  cho chúng tôi biết là anh có cử nhân Toán, nguyên gốc giáo sư. Ông bà Tư lệnh cần một người kèm trẻ. Anh có thể ở ngay tại tư dinh, khỏi về trại nữa. Lát nữa ban quân trang sẽ đem đến bộ quần áo khác để anh thay. Anh khỏi mặc chiếc áo này.

Rõ ràng, hắn coi 4 chữ LCĐB sơn đen trên lưng áo của tôi như là một dấu hiệu của ô nhục. Tôi nhìn thẳng vào mắt hắn:.

–  Tư lệnh ra lệnh tôi dạy thì tôi dạy. Nhưng tôi không thể ở nơi này được. Tôi phải về lại trại. Tôi phải trả nợ những gì mà người ta bắt tôi phải trả. Nhờ thiếu úy trình lại với tư lệnh.

Tôi trả lời dứt khoát.

Phải. Tôi phải về  với họ. Về với những bếp lửa hằng đêm mà chúng tôi đã đốt lên, và tiếng hát buồn buồn, những đôi mắt nhắm lại, những râu tóc rối bù, những chiếc áo ngày càng dày vì mồ hôi khổ nhục, những tiếng mớ, và đôi khi ánh trăng lọt vào trại trừng giới, xanh và rất sáng như tắm đầy nền…, đến cả những đống lá khô mỗi sáng chúng tôi đốt lên, để chúng tôi càng ngồi lại gần hơn. Về cùng với cõi tăm tối lầm than mà chia nhau ngọn lửa, dù là ngọn lửa đốt lên từ thùng dầu hay đống lá khô. Về để chia chác với nhau nỗi ô nhục hay niềm hảnh diện thầm kín, vì họ đã dám thách đố cùng cái định mệnh của tuổi trẻ. Họ đã dám vượt ra khỏi cái móng vuốt của diều hâu.

Vâng, phải cám ơn em, cám ơn lòng từ tâm của một người con gái. Tôi biết chỉ cần nói một tiếng với em là tức khắc bộ đồ ô nhục này sẽ được vất đi, và tôi sẽ thành một người khác. Cấp bậc sẽ được phục hồi. Một chỗ tốt tại hậu cứ. Khỏi đi tác chiến. Vâng, tôi biết thế. Nhưng tôi không thể…

Và cuối cùng, người ta cũng chìu tôi. Có nghĩa là mỗi ngày  từ 9 đến 11 giờ  tôi đến dinh để dạy 2 người con của viên Tư lệnh. Đó là hai chị em. Hoàng Hương là chị. Và cô em, Hoàng Thúy, mới 10 tuổi. Con bé này khác với tánh chị, là một con bé rất bướng bỉnh, khó dạy. Có lẽ bởi ông bà Tướng quá nuông chiều nó. Hay cũng có lẽ là trong đầu óc thơ ngây của nó, nó chỉ thấy cái thế giới đầy quyền uy của bố. Tôi phải gắng nuốt nước bọt, lẫn cả cay đắng để vuốt ve, chiều chuộng hầu cho nó vui mà học. Một ngày nó đang ngồi trong phòng học, chợt nó kêu lên: Thầy ơi, có tổ chim, có chim con trên cây kia. Rồi nó chỉ cho tôi xem một tổ chim trên chóp cây giáng hương ngoài sân. Tôi không thể ngờ sau đó, nó lẻn ra ngoài, kêu ông trung sĩ quản gia trèo lên để mang những con chim con xuống cho nó. Sở dĩ tôi phải dài dòng ở đây, để nói về một trong những sự thật đau lòng mà tôi biết. Tôi bất mãn khi nhìn ông trung sĩ già trèo lên chóp cây. Ông đã phải làm vừa lòng một con bé. Không. Ông tuân lệnh cũng nên. Lệnh ông Tư lệnh. Lệnh bà Tư lệnh. Và lệnh tùy viên. Lệnh con cái ông Tư lệnh. Cũng như tôi đây. Tôi cũng đang tuân lệnh. Không ai dám cải lại, chống lại.

May mà tôi có Hoàng Hương. Người học trò mà mỗi ngày tôi càng khám phá thêm một nỗi rung động mới. Ở mái tóc xỏa xuống bờ vai thon mềm. Ở những sợi tóc mây phơ phất trên vầng trán thơm. Ở đôi má ửng hồng, đôi mắt đen lay láy. Ở vẻ suy nghĩ tội tình khi nàng cố giải một bài toán. Ở cây viết chì mà nàng cắn giữa hai hàm răng trắng như hạt lựu. Ở những hình chữ nhật hình tròn tam giác cân tam giác đều tam giác vuông vô tri mà nàng vẽ ra trên trang giấy. Ở mỗi lần nàng nhìn ra ngoài sân nắng, không biết nàng mơ mộng gì ngoài kia để tôi phải nhỏ nhẹ kêu nàng trở lại cùng trang sách học.

Tôi thầm kín nhìn từng sợi lông măng, từng sợi lông mày, cái lúm đồng tiền của nàng. Hai giờ cho mỗi ngày, trừ ngày chủ nhật. Tôi ra đề. Tôi bắt nàng đọc lớn. Đọc đi đọc lại cả chục lần. Nàng đọc, nhưng cuối cùng nàng lắc đầu nói: Em không biết giải làm sao. Thầy giải cho em đi. Tôi cười: Nếu tôi giải thì em cần gì phải học nữa.

Đôi khi con bé Hoàng Thúy lẻn ra ngoài, và căn phòng chỉ còn lại tôi và Hoàng Hương. Lúc ấy, nàng kể lại những ngày vui ở Sài Gòn. Nàng không biết gì về những gì xảy ra ở phía rừng, mặc dù bố nàng là kẻ ở trong cuộc. Nàng say mê nói về những đứa bạn, về ngôi trường đầm, về vỉa hè Lê Lợi, Nguyễn Huệ và những ly kem… Có khi nàng lại nói về những đứa con trai con cháu của những ông bộ trưởng hay tướng lãnh nổi tiếng trong những buổi dạ hội, hay đua đòi cùng những chiếc xe mới. Tôi thì nghe, và tự biết mình đứng ở ngoài thế giới ấy. Rõ ràng, chiến tranh đồng nghĩa với tội ác, với máu và nước mắt, với tai ương, nhưng nó cũng mang đến cho một số người những lợi nhuận, những đặc quyền đặc lợi mà trong thời bình chắc họ không thể có. Hoàng Hương, em phải cám ơn chiến tranh. Tôi muốn nói như thế. Nhưng tôi không thể nói. Nàng sẽ không bao giờ hiểu đâu. Tôi chỉ yên lặng nhìn lên gương mặt xinh đẹp và yêu đời. Tôi biết tôi đang níu kéo lại những giờ phút êm đềm hôm nay. Hãy sống cho một giờ. Và hãy chết cho một giờ.

Tôi thật sự sợ mùa hè sẽ chấm dứt.

                                 oOo

Cuối cùng thì mùa hè cũng chấm dứt. Và cuối cùng, người con gái cũng từ biệt tôi không một lời từ giã. Ngày cuối, tên tùy viên gặp tôi trao phong bì. Hắn nói: Đây là quà của bà Tư lệnh. Tôi nhận, biết chắc là những tờ giấy bạc mà người ta thưởng công. Nhưng cớ sao tâm hồn tôi lại rưng rưng. Một cánh chim đã bay trở lại đồng bằng, và còn lại một cây rừng hiu quạnh cùng những cơn gió núi. Tự nhiên lại nhớ đến lời ca dao: Đoạn trường nước chảy qua cầu. Gặp nhau sông núi trở màu đắng cay…

 Ngoài sân, những bụi hoa hồng rực thắm. Vài cánh hoa vươn cao, bừng rộ một màu huyết dụ…Tôi biết là nàng sẽ thích. Nhưng nàng đã xa. Làm sao tôi gởi nụ hoa hồng về phương trời dưới ấy?

Mùa hạn. Lửa càng ngày càng vây bủa thị trấn. Lửa theo đồng cỏ khô cháy nhanh, hung hãn như những trận sóng thần. Và lửa cũng theo những đầu đạn hoả tiển, hay trọng pháo vồ chụp xuống thị xã, đào thành những hố sâu, chạm vào kho xăng, dầu, bắt cháy bừng bừng. Cùng với lửa là sấm nổ. Những chớp lửa sáng loé ở bốn bề, càng lúc càng vây sát thị xã hơn bao giờ. Và người ta bỏ chạy. Người ta đào thoát. Trong khi ấy, lửa đã làm chúng tôi hồi phục lại cấp bậc nhanh chóng. Họ phát súng phát đạn, ra lệnh đơn vị trừng giới làm tuyến cản ở  phi trường. Họ dùng chúng tôi. A ha. Họ cần những kẻ mà họ xem là hèn nhát, sợ chết !

ít ra đây cũng là trận đánh để đời, để chúng tôi tự hào và ngẩng mặt

 

Mùa hạn. Lửa. ở đâu cũng thấy lửa. Càng bỏ chạy, lửa càng hung hản reo mừng, đùa rởn đuổi bắt. Mùa hạn hiếm gió, nhưng thật nhiều lửa. Và lửa đã đuổi em, đuổi tôi, đuổi mọi người chạy đến sức cùng lực tận. Thôi hết rồi một thời để mộng mị. Thôi hết rồi những bụi hồng hôm nào nở rực rở, và em cũng vậy, cũng rực thắm bên hoa. Tôi nói với lòng tội tình em bao nhiêu. Lửa đã cháy cả mái nhà dinh thự, lửa đã thiêu rụi tư dinh, lửa đã bắt cha em đi xa, và lửa đã đẩy em chân trần, chạy trên những động cát nóng bỏng, phỏng cả gót mềm. Và tôi cũng vậy. Mùa hạn, tôi uống nước vũng trâu, nước bùn đất. Tôi thay trâu kéo cày, tôi kiệt lực gánh những thùng nước về tưới cho những ngọn mạ như ngày xưa tôi cũng đã từng gánh những thùng nước cho viên tiểu đoàn trưởng tắm.. Mùa hạn. Tôi thấy em đẩy xe ba bánh, em con ông tướng, áo vá vai, căn chòi lá làm nơi dung thân, nước mắt cũng theo mùa hạn mà khô trên hai hồ lệ. Tôi nói với lòng, tôi thương em biết mấy. Muốn cứu em, em ơi. Chúng ta vẫn có một nơi trồng thật nhiều hoa hồng và tôi sẽ hái cho em những bông hồng tươi đẹp nhất, rực rở nhất.

Phải. em ơi, chẳng lẽ cuối cùng trời lại không đổ xuống một cơn mưa ân sủng ?

Ngày đầu ở Mỹ

Cuối cùng, cuộc đình công thất bại. Cả đám người Việt chúng tôi bị đuổi ra khỏi hãng ngay sau khi Lương mang kiến nghị lên gặp văn phòng giám đốc. Tên chủ hãng chỉ liếc qua tờ giấy, rồi nhún vai: “Được. Bọn mày về lại chỗ làm việc. Tao sẽ trả lời ngay sau giờ ăn trưa”. Gương mặt của tên da trắng vẫn lạnh lùng. Chúng tôi trở lại bàn làm việc, chờ đợi. Trên bàn là những dụng cụ lắp ráp nằm vương vãi. Không ai nói chuyện với ai. Chúng tôi rõ ràng đã linh cảm được điềm không tốt. Mới hôm qua, cả bọn hăm hở như một toán quân nắm phần chiến thắng, cười nói huyên thuyên. “Nó bóc lột mình, thì mình phải đoàn kết lại, phải không anh chị em?” “Phải đó. Lương $3.75 một giờ còn thua lương tối thiểu. Phải nói cho nó biết là bọn mình không phải con vật…” “Sức mấy mà nó không nghe lời yêu cầu của mình. Tôi nói cho bà con nghe, nó mà thắp đuốc đi tìm cũng không bao giờ gặp được những người làm việc siêng năng cần mẫn như bọn mình đâu.” Bao nhiêu ý kiến, phát biểu đầy lạc quan, phấn khởi như thể ngày mai, lương sẽ tăng lên $4.00, bây giờ trở thành ảm đạm. Lương, tay đại diện thì im lặng. Vâng, mọi sự đâu có phải dễ dàng như chúng tôi tưởng. Bởi vậy, tại sao lại có nghiệp đoàn, có những người đội tuyết giá, đứng giữa mưa gió để cầm bảng: Đình công. Đâu có phải chỉ ký tên vào bản kiến nghị, rồi đưa lên chủ…Đâu có phải nghĩ rằng, mình là một cõi. Không có mình, hãng sẽ phải đóng cửa ngay lập tức.
Quả vậy, sau giờ ăn trưa, chủ loan báo, nhóm chúng tôi phải ra về tức khắc. Trời ơi, đúng là xứ tư bản, chủ là vua, là chúa. Đoàn kết gây sức mạnh. Cái câu tục ngữ nào coi bộ không đúng trong lúc này.

Cuộc đình công là một trong những bài học mà tôi gặp phải trong những tháng năm đầu tiên ở xứ sở này. Một bài học về những người mất tiếng nói. Muốn chửi nhưng cũng không biết chữ để mà chửi. Muốn kêu cảnh sát cũng sợ phải nói tiếng người. Tôi đã viết một lá thư gửi về thằng bạn thân của tôi ở quê nhà, kể rõ những sự thật khi nó hỏi tôi về ý định của nó muốn qua Mỹ. Nhưng nó vẫn không tin tôi. Nó nghĩ tôi ích kỷ. Được, nó sẽ biết, và chừng ấy nó sẽ đừng hối hận. Nếu nghĩ đến một điều không thể tìm thấy ở quê nhà, không phải là tiền bạc, xe hơi nhà lầu, không phải là những con đường xa lộ thênh thang hay những ngôi nhà chọc trời… Nếu nghĩ đến hai chữ tương lai cho con cháu, đến một cái gì quí báu nhất mà loài người này đã đổ bao nhiêu xương máu để gây dựng, thì hãy nên đi. Bằng không, thì đừng… Tôi khuyên nó như thế. Để nó còn chuẩn bị tinh thần, để khỏi tiếc nuối cái cơ nghiệp đồ sộ mà nó gây dựng, để khỏi bị mang mặc cảm một người trí thức phải trở thành một gã cu li, hốt rác…

 

Trở về khu slum, bước trên những vỉa hè dơ bẩn, giữa những vách tường chằng chịt chữ viết, tôi nghe lòng trĩu nặng nỗi buồn. Lũ chim bồ câu bay rợp trên những dãy lầu bỏ hoang. Chiếc xe trolley nghiến bánh trên đường sắt, và những tia lửa xẹt từ những sợi dây cable trên cần trục. Đây là một khu mà cả thành phố này ai cũng kinh sợ. Tội ác. Drug. Ngay cả cảnh sát cũng ít lai vãng. Đa số những người tị nạn không thân nhân đều được hội bảo trợ tống về đây, ở trong những apartment với giá tiền thuê rẽ mạt. Và chúng tôi đã biến đổi khu slum thành một khu Việt Nam nho nhỏ. Người này san sẻ với người kia về kinh nghiệm đã học được. Chúng tôi cùng rủ nhau đợi xe bus vào lúc ba giờ sáng để về các nông trại xa để hái táo lê hay cherry, và nhận tiền mặt. Chúng tôi cùng kéo nhau đi điền đơn xin việc tại các hãng xưởng hay làm chân lau chùi vệ sinh sau giờ làm việc. Những người đàn bà thì mách với nhau về nơi nào bán đồ cũ, hay đồ đại hạ giá. Con chúng tôi được gởi đến một ngôi trường mà 99% là học trò Mỹ đen. Không ai cho chúng tôi biết về những chương trình giúp đỡ dân tị nạn, hay chương trình học vấn. Chỉ có chúng tôi, người này biết nói với người khác hay. Chính vì sự san sẻ này mà tôi mới biết tại một ngôi trường đại học cộng đồng của thành phố có một lớp dạy Anh ngữ miễn phí. Và chúng tôi cùng rủ nhau tìm đến để ghi danh.

Ngôi trường nằm bên cạnh City Hall. Buổi sáng, Khanh, Lương, cô Huệ và tôi theo xe điện ngầm đến trường. Bà giáo phụ trách chương trình ra dấu bảo cả bọn vào văn phòng, rồi phát đơn, phát bài để trắc nghiệm. Những câu hỏi trắc nghiệm về văn phạm, toán học v.v…Tất cả đối với tôi đã quá quen, lý do tôi đã học trong những năm trung học và đại học ở quê nhà. Tôi làm xong trước giờ ấn định rất lâu. Bà giáo chấm bài ngay tại chỗ. Bà gọi tôi vào khen ngợi, nói với tôi là mày không cần học lớp ESL, mà học thẳng lớp English 100, có nghĩa là lớp được tính credit Bà còn hỏi tôi về cái ngành học tôi ước muốn. Tôi trả lời tôi không biết. Tôi chỉ muốn học tiếng Anh, để hiểu những gì căn bản nhất mà người bản xứ nói. Bà ta khăng khăng, mày có trình độ mà, bài trắc nghiệm của mày đúng hoàn toàn mà. Mày muốn học ngành điện toán không? Tôi không biết tí ti gì về điện toán nhưng vẫn gật đầu. Xin bà giúp đỡ. Cám ơn bà. Tôi nghĩ công việc chọn nghề là việc của bà. Ai ai cũng phải có một nghề để theo đuổi.
Sau đó bà hướng dẫn tôi lên lớp học. Tôi ngu ngơ như một con nai lạc. Trường quá rộng. Sinh viên qua lại dập dìu. Tôi không dám mong trở thành một phần tử trong thế giới này. Lại nữa, số tuổi quá 40 của tôi quá già để nghĩ đến một sự bắt đầu. Tôi chỉ muốn học để có thể nghe và hiểu, thế thôi. Nhưng bà giáo lại đẩy tôi vào lớp. Trời ơi, mấy chục sinh viên bản xứ quay lại nhìn tôi chăm chú. Ông giáo sư ngồi ở giữa một vòng tròn sinh viên. Tôi kéo ghế chen vào. Ông giáo sư bắt sinh viên giới thiệu về mình. Tôi hoàn toàn không hiểu họ nói gì nữa. Và tôi xấu hổ bỏ lớp. Tôi chạy xuống văn phòng tìm bà giáo cố vấn chương trình. Tôi năn nỉ xin bà xuống lớp thấp nhất. Bà giáo cười. Lần đầu tiên tao mới thấy một người đòi xuống lớp thay vì lên lớp. Mày không biết được học lớp English 100 này là một điều hãnh diện hay sao?

 

Từ buổi ấy, Lương, Khanh, Huệ và tôi cắp sắch đến trường. Tên học trò trung niên, mang cặp kính, mang theo nỗi buồn của một đứa con xa xứ, đến trường. Ngôn ngữ cứng ngắc trên hai hàm răng. Chử nghĩa mờ nhạt trên đôi mắt yếu. Để buổi chiều cầm tấm giẽ, cái chổi, đẩy máy hút bụi, rồi áp vào khung kính nhìn về phía núi đồi hoàng hôn, để nghĩ đến một con ngựa lạc bầy mà buồn muốn khóc. Từ thưở cha sinh mẹ đẻ đến bây giờ, tôi chưa biết thế nào là vào trong nhà vệ sinh phụ nữ để lục lọi từng miếng băng vệ sinh để bỏ vào thùng rác hay lấy giấy lau sạch bàn cầu. Và những lời đay nghiến, những cái nhìn diều hâu khi con mẹ da trắng đi khám cao ốc. Tôi xin nói thật, không che giấu, không úp mở. Tôi đang mở đôi mắt lớn để nhìn đời. Đời dạy tôi, tôi xin viết lại cho con cháu tôi. Tôi đẩy thùng rác, vừa đẩy vừa nghĩ đến bài học. Tôi ghi từng chữ Anh, chữ Mỹ trên tấm cạt, thỉnh thoảng, lấy ra nhìn, cố gắng nhập tâm. Đó, hỡi thằng bạn phương xa, mày mà biết, mày sẽ không bao giờ qua xứ Mỹ này. Mày mà biết, khi tao gọi điện thoại từ trường về nhà thăm chừng thằng con 6 tuổi ở một mình bất hợp pháp, không nghe tiếng nó trả lời, là cả tim tao cơ chừng muốn nhảy ra khỏi lồng ngực. Học. Học. Không học thì làm gì bây giờ. Những tiếng cười ngạo mạn của một người nào đó, khi mình phát âm sai. Con mẹ chủ nhà không buồn ngẩng đầu nhìn đám người tị nạn khi họ đến than phiền về heat về gaz. Những cái nhún vai khinh bỉ trong xe điện ngầm, xe bus, hay trong hãng. Tôi nói với lòng mình, can đảm lên, như ngày xưa mình từng là một người lính đánh giặc miền Nam.

o0o

Bây giờ, tôi đang trở lại khu xóm cũ, sau hơn 15 năm xa cách. Vẫn những con bồ câu hoang đậu dưới gầm cầu xe lửa. Vẫn những vách tường dày đặc chữ viết bậy. Vẫn những ngôi nhà hoang. Vẫn những sân nhà phủ ngập cỏ dại và rác rến. Vẫn con đường qua xóm, với hàng điện trời mà mỗi khi chiếc xe trolley chạy qua, là tiếng kêu leng keng như một tấu khúc vui trong ngày. Có điều khác chăng là lớp người tiền phong như chúng tôi đã không còn nữa, mà để thay vào đó là những người Miên hay Lào. Vâng, như người Do Thái của một thời, đã bỏ khu này mà đi, rồi đến người Mỹ đen, rồi người tị nạn Việt Nam…Lương là kỹ sư cơ khí. Huệ đã trở thành dược sĩ. Cô Vân đã dọn nhà sang một khu khác, an toàn hơn, và hai đứa con của cô đang học đại học. Anh Phú và tôi có con sắp ra Bác sĩ. Ông Tâm đã qua đời. Bà Căn cũng về với Chúa. Một thế hệ mới đã vươn lên từ sự lao khổ lận đận của thế hệ tiền phong. Không phải đi khai mỏ vàng, hoặc đi tìm đất mới. Nhưng phải tự dìu dắt trên chính một nơi mà mình chẳng bao giờ lựa chọn, để mong con cháu nên người.

đôi mắt người sơn tây

Truyện thời chiến của Trần Hoài Thư

 

Buổi chiều có một người sống trôi nổi dưới những cánh rừng tràm, gian khổ cơ cực với muỗi vắt sinh lầy, đã trở về nói với tôi về huyền thoại của một con kinh, biên giới giữa hai xứ sở Miên Việt. Tôi mời y một điếu thuốc và một ly cà phê đen. Tôi hỏi về những ngày y ở ngoài Bắc, lặn lội trường chinh vượt Trường Sơn với những đoàn xâm nhập, chống chọi cùng bệnh tật, và bom đạn để rồi cuối cùng dừng quân bên kia bờ kinh Vĩnh Tế. Y vừa thả khói, vừa kể. Và một câu nói cuối cùng của y đã làm tôi thật sự xúc động:

–       Anh có biết kinh Vĩnh Biệt không?

Tôi lắc đầu chịu thua. Y thêm:

–       Kinh Vĩnh Tế đấy.

Tôi hỏi:

–       Tại sao gọi là kinh Vĩnh Biệt?

–       Bởi vì, mỗi lần chúng tôi vượt qua con kinh này, chúng tôi đều nghĩ ngay đến cái tiếng buồn não nùng kia. Chúng tôi thấy rằng đó là lúc chúng tôi phải vĩnh biệt tất cả. Vĩnh biệt gia đình thân yêu, vĩnh biệt quê hương, vĩnh biệt những ngày thanh xuân…

Tôi đã lặng yên để nghe những lời thành thật của người lính Bắc. Đây là lần đầu tiên, tôi được nghe về một câu chuyện bi thảm dành riêng cho con kinh mà Thoại Ngọc Hầu đã đào cách đây gần hai thế kỷ. Và đây cũng là lần đầu tiên tôi thấy rằng vùng đất mà tôi đã trải qua, luân lạc, không phải một vùng đất quen thuộc. Nó cũng không phải là một nơi trầm lặng, không gợi cảm, cũng như làm phong phú thêm cuộc sống nội tâm của con người. Tôi đã tìm ra một điều là dưới từng vuông đất này, đều có cả một huyền thoại, ở từng con kinh, con rạch, từng bờ ruộng, bờ vườn đều có những chuyện não nùng. Ngày xưa vùng đất mới này, là cả một lịch sử kỳ diệu, được tạo dựng bởi năng lực con người. Nhưng bây giờ, cũng có những câu chuyện buồn bã thay thế vào đó. Chẳng hạn, từ một cái tên Vĩnh Tế, hôm nay, cũng có những người thay vào bằng tiếng Vĩnh Biệt.

Đối với người trẻ tuổi gốc Hà Nội này, tâm trạng y là một biển bùi ngùi. Còn tôi, tôi cũng buồn không kém. Tôi đứng dậy, và ra ngoài sân. Tuy xung quanh tôi là nhà cửa, dinh thự bao bọc san sát và những ánh đèn đầu tiên của thành phố báo hiệu một đêm bình an, nhưng rõ ràng trong đầu tôi, lại rực rỡ hiện lên một con kinh màu nước phù sa vàng đục, chảy ngang qua cánh đồng bao la, dưới ánh mặt trời chiều vàng vọt. Con kinh ấy như một giới hạn não nùng chảy vào tâm hồn tôi. Bằng một chuyện tình xa xôi. Bằng một kỷ niệm không bao giờ phai nhạt được. Tuy hai bờ cách xa nhau mười mấy thước nhưng rõ ràng, khoảng cách đã quá diệu vợi, ngăn cách trùng trùng. Và từ câu lạc bộ tiếng hát của Thái Thanh vẳng lại bài Đôi Mắt Người Sơn Tây. Tự dưng ma quỷ bắt đôi chân tôi bước lại quán, con tim tôi như nhòa lệ. Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Buồn viễn xứ khôn khuây… Trên bầu trời sẩm nhạt, in những cánh chim én. Những cánh chim én của mùa xuân ấy đang lượn vờn như một điệu luân vũ. Thì ra mùa xuân đã lại trở về. Thì ra kỷ niệm đã như những cánh én kia, xa vắng một năm, bỗng một chiều đột nhiên trở lại…

Trước ngày ngưng bắn, tôi là kẻ thường vượt qua giòng kinh Vĩnh Tế nhiều nhất. Bởi nghề tôi bấy giờ là phóng viên chiến trường, đặc biệt về chiến trường ngoại địa. Hơn nữa, tôi coi vùng này là một vùng đất cần phải khám phá, học hỏi, giúp cho cuộc sống tôi rất nhiều trong hoài bão mà tôi từ lâu ấp ủ: là viết văn. Tôi sẽ là một chứng nhân của một Đông Dương bất hạnh. Tôi sẽ mở rộng tầm mắt, chữ nghĩa, vượt ra ngoài cái thế giới nhỏ hẹp rêu phong của cuộc sống thường nhật. Tôi muốn tìm xem ở bên kia bờ kinh Vĩnh Tế, chiến tranh là gì, đau khổ là gì, bom đạn là gì, chủ nghĩa là gì. Cho dù, những thứ ấy như một bài học quen thuộc mà mỗi ngày tôi đã gặp phải, đã chứng kiến. Cho dù, tôi hiểu rằng trên mặt địa cầu này, chiến tranh quả là một chuyện thường tình, như một biến chuyển của lịch sử. Ấy vậy, bằng cõi lòng tham vọng vô bờ, tôi vẫn lên đường. Tay xách máy ảnh. Túi đựng cuốn sổ tay, và cây bút. Thế là tôi khởi hành. Khởi hành trong bất cứ thời gian không gian nào. Từ trực thăng, hay trong thiết vận xa hay theo một đoàn quân tiếp ứng lội bộ, tôi vượt qua biên giới. Nói là biên giới, nhưng thật ra, nó chỉ là con kinh nhỏ hẹp, như trăm ngàn con kinh ở miền đất tôi về mà thôi. Nó không phải hung vĩ, bí mật và phân định rõ ràng như rặng Trường Sơn, hay một ranh giới thiên nhiên nào khác. Và cũng vì lý do đó, khi xuống chiếc đò đưa qua bờ, lòng tôi cũng chẳng hề rung động là bao nhiêu. Ngoại cảnh như một bức tranh thường tình. Vẫn là đồng lúa xanh rì, vẫn là những khóm thốt nốt trơ trọi in bóng bên bờ ruộng. Vẫn một mặt trời rực rỡ giữa một từng không chói chang.

Nhưng rõ ràng, càng đi sâu vào nội địa xứ người, tôi lại càng gặp biết bao nhiêu câu chuyện đáng để ghi nhớ. Từ pháo tháp của một thiết vận xa, giữa một cánh đồng tháng chạp trong mùa nước lớn, tôi đã bấm máy ảnh lia lịa. Mỗi hình ảnh qua đi là một biểu tượng đẹp não nùng. Từ ngôi chùa mái ngói cong vút màu đỏ thắm ẩn hiện giữa những kẽ lá của hàng thốt nốt. Từ những sóc dưới chân núi đồi, như bao phủ bởi một bầu không khí của thần linh tôn giáo. Từ những ngôi chùa đầy ngập người tản cư… Đó là những hình ảnh mà tôi đã gặp phải trong toàn cõi Đông Dương. Chúng cũng xảy ra ở Lào, Việt Nam. Và chúng đã làm cho một kẻ bàng quan nhất cũng phải đặt câu hỏi: Chiến tranh và tôn giáo. Cái nào là sức mạnh? Tuy nhiên, theo tôi, vấn đề đã đặt ra quá lớn lao. Tôi còn phải học, học thật nhiều. Với tôi, tôi không phải là một kẻ tham dự. Mà là một chứng nhân.

Vào một ngày đầu tháng chạp, tôi mang đồ nghề theo chân một đoàn thiết vận xa về giải tỏa áp lực địch tại T., một thành phố nằm trên con đường số 1 nối từ  Neak Loeung đến Thủ đô Nam Vang. Buổi tối có mưa sùi sụt, đám quân dừng đêm tại một đồng không mông quạnh và mênh mông nước, để sáng sớm tinh sương hôm sau mới tiến chiếm mục tiêu. Ngồi trên pháo tháp lạnh lẽo, bên cạnh người bạn mới quen, tôi kể lại những ngày ở thành phố, những buổi chiều của Bonard, Mai Hương và bạn thì kể lại những ngày dài ở xứ lạ quê người. Trời tối như mực, đến nỗi cảnh vật cách xa chừng 4, 5 thước, mắt người cũng chẳng nhận ra nổi. Thỉnh thoảng vài trái sáng được bắn lên từ bên kia rặng núi, soi cả một thinh không trong giây phút, rồi tắt lịm.

Người bạn bỗng nói:

–       Có bao giờ anh nghĩ rằng ở giữa vùng đất này lại có một người con gái như trong một bài thơ của Quang Dũng?

–       Có phải là Đôi Mắt Người Sơn Tây?

–       Vâng.

Rồi bạn vừa đốt thuốc vừa kéo cao cổ áo lạnh. Cơn mưa đã dứt, nhưng khí lạnh lại bốc tỏa đầy trời. Bạn lại giục tôi:

–       Trước khi kể câu chuyện, mời anh uống một chút rượu cho ấm. Rượu mang từ quê nhà đấy…

Tôi nghe lời bạn. Hớp rượu nồng nàn cả châu thân, như những giọt hạnh phúc nho nhỏ của một đêm trên vùng binh lửa. Tuy nhiên, thú thật tôi đã bỏ quên những nỗi bất trắc, hiểm nguy ra ngoài. Với tôi, đêm như một cơn mộng, và một tình nhân. Tôi chẳng còn để ý đến những tràng súng nhỏ thỉnh thoảng cắt xé cả một lòng tĩnh mịch. Tôi cũng chẳng còn quan tâm đến những tin tức đang giục giã trong máy siêu tần số bên cạnh. Và lời bạn nồng nàn:

–       Rồi ngày mai, tôi sẽ đưa anh đến một quán nghèo giữa quận K. Anh sẽ gặp một thiếu phụ trẻ. Hy vọng anh sẽ có nguồn cảm hứng để viết.

–       Người thiếu phụ ấy có liên quan gì đến anh?

Người bạn lắc đầu:

–       Không. Nhưng liên quan đến tất cả chúng ta. Nhất là anh?

–       Tại sao vậy?

Người bạn thiết giáp cười thật bí mật:

–       Anh là phóng viên, chắc anh đoán được.

–       Bạn nói hơi quá. Phóng viên chỉ là một chứng nhân. Tôi đến để ghi nhận, khám phá. Tôi không phải là thầy tướng số.

–       Ừ, xin lỗi. Nhưng, với một tâm hồn dễ xúc cảm của một nhà văn, chắc anh đã đoán được.

Tôi cười:

–       Thôi tôi xin chịu thua. Anh kể tiếp về người thiếu phụ Miên đó đi.

–       Không phải là người Miên, mà là người VN.

–       …?

Bạn vất mẩu thuốc xuống ruộng nước, rồi tiếp tục hớp khẽ từng hớp rượu đắng. Đêm nặng và đầy sương. Một trái sáng lại bắn lên từ hướng Bắc. Giọng bạn ấm:

–       Bởi thế tôi mới gọi là đôi mắt người Sơn Tây. Vâng, tôi không ngờ, hai mươi năm về sau, cũng có đôi mắt của  một người Sơn Tây để mình bồi hồi nhớ lại mấy câu thơ tuyệt vời: Em ở thành Sơn chạy giặc về, Tôi từ chinh chiến cũng ra đi hay Đôi mắt người Sơn Tây, U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây… Buồn viễn xứ khôn khuây… Anh biết không, nàng chính là một người Việt. Một người Việt một trăm phần trăm. Khi đơn vị tôi đến quận K., bọn tôi nhào xuống chợ tìm mua một vài vật dụng cần thiết. Riêng tôi, tình cờ tìm đến một ngôi quán nhỏ bên đường. Và người bán hàng quả làm cho tôi ngạc nhiên hết sức. Da nàng trắng muốt, gương mặt thùy mị, tuy nỗi cam khổ đã thấy rõ ở những ngón tay, quần áo của nàng. Rõ ràng là một cánh hoa lạ. Trong khi dân tộc nàng, màu da vàng mặt, thì màu da của nàng lại trắng nuột… Tuy nhiên, thú thật với anh, điều này chẳng làm tôi để ý đến bao nhiêu.

Giọng nói của người bạn sũng buồn:

–       Vâng. Thú thật tôi đã coi nàng như tất cả những phụ nữ Miên khác. Bởi cách ăn mặc, giọng nói của nàng. Bởi cung cách của nàng. Tôi đã bập bẹ vài tiếng Miên học lóm được, để diễn tả vài điều cần nói. Nhưng về sau, tôi bỗng nhiên nghe được một tiếng mẹ đẻ Thưa Ông. Điều mà tôi sửng sốt là giọng nói ấy là một thứ giọng Bắc. Một giọng Bắc chính cống. Rất dịu dàng. Rất dễ thương, nhất là người ấy là người con gái Bắc thì quả là một điều phi thường. Nhất là quê hương tôi là đất Bắc…

–       Nàng nói gì không?

–       Nàng hỏi quê nhà mình dạo này ra sao? Bên mình hòa bình chưa? Nàng nhớ nhà quá. Còn tôi, tôi hỏi nàng gốc người ở đâu, tại sao lưu lạc ở mãi vùng đất này.

–       Nàng bảo sao?

–       Nàng nói nàng sinh tại Sơn Tây. Rồi nàng tấm tức khóc. Sau đó, có chồng nàng đến. Nàng chắc sợ một điều gì đó, nên đã giả vờ vui, rồi nói tiếng Miên huyên thuyên. Tôi muốn hỏi thêm, nhưng lệnh lại ban xuống là đơn vị phải di chuyển gấp. Thành ra tôi chẳng biết gì thêm về nguồn gốc và lịch sử một người thiếu phụ đáng ghi nhớ kia…

–       Quả chuyện của anh như một bài thơ.

–       Phải. Như một bài thơ của Quang Dũng.

Ngừng một lát, rồi người bạn nói tiếp:

–       Ngày trước thú thật, khi đọc bài Đôi Mắt Người Sơn Tây của Quang Dũng, tôi xúc động vì sự xuất thần của nhà thơ. Về câu chuyện tình tuyệt vời mà nhà thơ của chúng ta đã sáng tạo, về những nét gợi cảm của từng chữ nghĩa, cũng như cách gieo vần…

–       Hơn nữa là cốt cách tiểu tư sản dấn thân của chàng trai Hà Nội…

–       Vâng. Khi chúng ta đọc bài Màu Tím Hoa Sim hay Đôi Mắt Người Sơn Tây, chúng ta chỉ biết rung cảm cùng những nhân vật, khung cảnh, thời gian trong thơ. Nhưng bây giờ, thật sự tôi đã thấy rõ thật thấm thía một câu chuyện tình lồng trong bài thơ kháng chiến. Bởi hai ba mươi năm sau, lại có một người con gái Sơn Tây hiện đến với tôi. Anh nhớ những câu thơ này không: Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Rõ ràng từ khi gặp nàng, mỗi khi đọc lên những câu thơ đó, là lòng tôi lại vương lên một mối sầu. Chỉ có cái giọng nói dễ thương thốt lên trong giây phút. Chỉ có tiếng nói Thưa Ông. Chỉ có màu da trắng mượt lạc loài giữa một giống người lạ là có cả một câu chuyện lớn. Anh là nhà văn. Dĩ nhiên tâm hồn anh nhạy cảm hơn tôi. Dĩ nhiên, anh đang đi tìm đề tài. Tôi sẽ mang anh lại vào sáng mai. Đó là cả một đề tài lớn. Tôi tin vậy. Người bạn vất mẩu thuốc cháy dở. Một trái sáng lại òa vỡ, và mắt bạn trở nên lung linh xa vời. Anh lại nói:

–       Anh nên nhớ là tôi cũng thường xuyên theo dõi sách báo văn nghệ. Có một điều làm tôi ngạc nhiên là sự vay mượn câu chuyện, tình tiết của người ta nhiều quá. Từ chuyện tình đến chuyện chiến tranh. Tôi xin lấy ví dụ là các nhân vật trong Love Story, hay Roméo et Juliette, hay các tác phẩm của Remarque lại được thổi phồng, thi đua khai thác. Tôi thấy nước mình, hoàn cảnh của bọn mình, có hằng ngàn câu chuyện cảm động quyến rũ, tình tiết và thơ mộng hơn thế nữa.

–       Tôi ghi nhận ý của anh.

Và tôi cười:

–       Nội cái câu chuyện Đôi mắt người Sơn Tây của anh quả là một câu chuyện tình tuyệt vời rồi còn gì.

–       Anh là nhà văn, tôi xin nhường tất cả cho anh đó. Còn tôi, lưu lạc mãi sống cùng cái chết từng giây từng phút thì giờ đâu…

 

@@@

 

Vào sáng ngày mai, cả đơn vị lại lên đường. Tôi đi theo thiết vận xa của người bạn, mà cõi lòng nôn nao vô cớ. Không phải tôi sợ những quả đạn, pháo bất ngờ từ ngọn núi rơi xuống, hay một trận phục kích nào đó bất ngờ xảy ra. Những điều này chắc không bao giờ xảy ra. Bởi đơn vị tôi đi theo là một đơn vị thiện chiến. Họ đã chiến đấu giỏi và đã từng tham gia nhiều trận đánh khủng khiếp hơn thế nữa. Với lại, đoàn thiết vận xa đang ở giữa một đồng nước mông mênh khó lòng địch nhắm trúng mục tiêu. Nhưng tôi phải thú thật rằng, tôi đang bị hình ảnh người con gái chưa gặp gỡ, chưa quen biết kia đã đớp hồn tôi thật sự rồi. Tôi cũng chẳng hiểu tại sao nữa. Hay vì giòng máu văn nghệ của tôi. Hay vì tôi đã thấy được một đề tài đẹp và thơ mộng trong chuyện vượt biên này. Hay vì hình ảnh bài thơ tuyệt vời mà tôi đã ưa thích ngay từ khi cầm sách đến trường trung học. Chưa chi mà trí não tôi đã vẽ vời bao nhiêu tình tiết, xây dựng nên những nhân vật, mà dĩ nhiên nàng thiếu phụ lưu lạc kia là nhân vật chính, và cả tôi nữa. Tôi phải làm gì đây. Lòng tôi chợt bị khích động. Tôi nghe dòng máu của mình cuộn chảy. Trời đất vẫn quen thuộc khi chúng tôi đi qua. Những người Miên thấy chúng tôi chắp tay cung kính như phong tục của một dân tộc ngoan đạo Phật. Những ngôi chùa mái cong vút lên mây ẩn hiện đằng sau những khóm dừa, khóm thốt nốt. Những ngôi nhà sàn trong sóc, còn thở khói. Đám con nít nhìn đoàn quân cười thơ ngây. Trong gió, chừng như nghe mùi đất, mùi rơm và cả mùi ngây ngây của luống cầy mới vỡ. Có những cánh én bay rợp xuống mặt nước, rồi vút lên cao. Có những cánh én đuổi theo sau những chiếc vận xa, giỡn đùa cùng những ống nước mới vỡ. Bầu trời thật xanh, như mùa xuân. Có ai đã nhắc đến mùa xuân rồi. Gần đến Tết rồi. Anh em ơi. Giọng nói mang vào lòng những đứa con của chiến trường một niềm nhớ nhung tràn ngập. Riêng tôi, tôi mải đuổi theo những cánh bướm để mua vui. Tôi đã mỉm cười với chúng, với trò chơi nghịch ngợm của một loài chim của mùa xuân. Đối với tôi, loài chim ấy hình như đã có một sự liên hệ mật thiết. Chúng theo tôi như một niềm ân sủng. Chúng từ một cõi nào đó, ngoài thềm lục địa, trở về vui vầy cùng loài người rồi lại ra đi. Như một ngày gần cuối năm này. Chúng hết lượn vờn trên cao rồi sà xuống thấp, sát xuống những bọt sóng. Chúng vô tư, tinh nghịch, chẳng hề biết trên thềm lục địa này có những tai ương bất hạnh triền miên.

Và đúng như lời của người bạn, buổi trưa cả đơn vị dừng quân tại ngay trung tâm quận K. Người bạn đã nháy tôi và cả hai tìm đến ngôi quán bên đường. Và tôi đã gặp người thiếu phụ trẻ ấy. Tôi xúc động, trước màu da trắng mượt, đôi mắt to và linh động, cùng sóng mũi dọc dừa của nàng. Nàng quả là một bông hoa lạ và lẻ loi ở quận lỵ. Tuy mái tóc của nàng rối, chiếc sà rông đã bạc màu, vá víu, những ngón tay, bàn chân của nàng đã in dấu lầm than, nhưng người ta vẫn tìm ở người thiếu phụ này một vẻ đẹp nổi bật, vượt lên giữa một tập thể dân quê nghèo nàn và khổ cực này. Quả bạn đã nói đúng. Đó là một người con gái Sơn Tây. Nhất là ở đôi mắt kia, đã chứa cả một bầu trời u uẩn. Khi đôi mắt ấy nhìn lên, tuồng như người ta thấy bâng khuâng. Và tôi chỉ biết ngồi yên, đôi mắt hớp hồn. Tự dưng tôi cảm thấy thương nàng quá. Chỗ của nàng không phải là chỗ này. Chỗ của nàng là chỗ khác. Ở bên kia biên giới có đồng loại. Có tiếng mẹ đẻ. Có ao nhà, vườn rau. Và hơn nữa, với vẻ thanh tú của nàng, chắc gì nàng không được một người chồng khá giả, danh vọng? Tôi muốn nói lên một lời Việt cùng nàng. Nhưng cuối cùng tôi chẳng dám. Tôi nhìn chiếc sà rông màu vàng thẫm kia, thấy nhói ở tim.

Nắng đã lớn, tươi thắm cả khu quận. Người bạn chợt giới thiệu bằng tiếng Việt:

–       Đây là người bạn của tôi.

Tôi cúi đầu chào làm quen. Người thiếu phụ cũng cúi đầu đáp lễ. Tôi nhận ra đôi vai của nàng mềm quá. Người bạn lại nói tiếp:

–       Hôm qua, cô kể cho tôi nghe nửa chừng. Tại sao thế?

Để đáp lại câu hỏi của người bạn, nàng chỉ nói:

Các ông không hiểu hoàn cảnh của em đâu.

Tôi nói:

–       Cô có thể cho tôi được biết không?

Đôi mắt của thiếu phụ chợt hoe đỏ. Nàng nói giọng sũng lệ.

–       Thấy các ông, em bỗng nhiên nhớ đến quê nhà quá. Đã mười mấy năm xa cách, em chưa được về. Thưa ông, từ đây qua bên ấy, có xa không?

Câu hỏi của người thiếu phụ đã làm tôi quá chừng xúc động. Thì ra, ở cánh hoa lạc loài này có cả một tâm sự u uất. Tình hoài hương của nàng đang trở về mãnh liệt. Người bạn đưa mắt nhìn tôi như cùng trao một ý nghĩ. Rồi anh đáp:

–       Quê mình chỉ cách nơi này non 15 cây số, dùng đường bộ mất khoảng nửa giờ là đến.

–       Thế sao? Em không hề biết.

–       Chứ cô không bao giờ nghe nói đến quê nhà sao?

–       Dạ không.

Rồi nàng lại hỏi:

–       Không biết giờ này bên ấy nóng hay lạnh, trời có thường mưa không?

–       Bên nhà, trời đã bắt đầu có những cơn rét cuối năm. Có nơi mai bắt đầu nở hoa. Người ta đang sửa soạn ăn Tết rồi.

–       Thế ư? Gần đến Tết rồi ư?

Đôi mắt người thiếu phụ sậm buồn. Nàng nói như không:

– Không ngờ, em lại làm kẻ mất quê hương. Các ông biết hoàn cảnh của em đau đớn lắm…

Nàng lại tấm tức. Tôi chỉ đợi nàng có bấy nhiêu. Và tôi tìm cách khơi mào câu chuyện:

–       Cô có thể kể ra được không?

Nàng gạt nước mắt kể. Giọng nói của người con gái Sơn Tây mang theo những kỷ niệm đau thương. Từ một quê hương xa lắc xa lơ ngoài Bắc, với những cơn gió rét đầu mùa, với những nàng con gái có tiếng là xinh đẹp. Từ những ngày đầu tiên theo cha mẹ di cư vào Nam, quanh quẩn dưới rừng lá cao su, chưa bao giờ nghĩ đến một ngày rời xa cái thế giới bé nhỏ mà những người mộ phu đồn điền hầu như đã gửi trọn đời mình. Ở đâu? Nàng đã quên địa danh. Nhưng nàng kể đến ông chủ đồn điền người phương xa, mỗi ngày lái xe khắp cả đồn điền để trông coi đám phu cạo mủ, khiêng tải những thùng nhựa trắng đến nhà máy. Ở đâu? Nàng chỉ nhớ lại những tiếng chuông buổi sáng chủ nhật, từ gác chuông ngôi nhà thờ bằng ván tạp với ông linh mục già, hàm râu trắng mượt, đội chiếc beret đen, lúc nào cũng cười, và cho bánh lũ trẻ trong đồn điền. Ở đâu? Nàng lắc đầu. Nhưng nàng kể về những cảnh cơ hàn của những dân phu, gồm đủ hạng người: gồm Thượng, Miên và Việt. Và chúng tôi liền đoán ra đó là Lộc Ninh cũng nên.

Rồi tai họa bỗng nhiên bủa xuống như một trận bão kinh hoàng. Trận chiến từ đâu lại, chọn ngay đồn điền của nàng, ròng rã cả một tuần lễ. Nhắc đến đây, đôi mắt nàng tuồng như đầy ngập cả một bầu trời sầu thảm. Nàng bật run đôi vai, hai dòng lệ tuôn trào rồi lăn trên hai gò má. Tuy buổi trưa nắng lửa, hàng cây bên đường bất động và thinh không chói lọi, đất đai bốc khói, nhưng tôi nghe tuồng như có một cơn gió lạ chợt thổi qua, rồi một đám mây buồn bã như đậu lại trong hồn người, như một phiến băng giá. Buổi trưa hôm nay, trong một quán lá xứ người, vừa xảy ra một câu chuyện u uẩn. Buổi trưa hôm nay, tại một vùng đất xa lạ đang sôi sục vì khói lửa chiến tranh, có một người thiếu phụ trẻ Sơn Tây gặp lại những người lính đồng hương, để cùng nhau kể lại những ngày tháng trong thời kỳ binh lửa. Đầu nhà bên kia đường, có giàn hoa giấy vàng tươi thắm dưới ánh nắng rực rỡ. Nhưng ở bên này có một nụ hoa tội nghiệp đáng thương.

 

–  … Sau đó…

Sau đó… Nàng vừa vuốt tóc thằng con mấy tháng của nàng, vừa kể. Sau đó, cả gia đình nàng thất lạc một người một ngả. Riêng nàng, có một gia đình người Miên cứu thoát và mang về đất Miên. Khi ấy, nàng chừng 12, 13 tuổi là cùng.

–  Cho đến lúc này, em cũng chẳng biết số phận của cha mẹ em ra sao nữa…

Nàng mếu máo trong tiếng khóc. Có ai vừa đâm mũi dao vào lồng ngực tôi. Tôi nói cùng nàng:

–  Cô có thể cho tôi biết về tên tuổi bố mẹ. Khi trở lại quê nhà, tôi sẽ cố thăm dò giúp giùm cô.

Nàng nghe lời. Tôi lấy sổ ghi tên tuổi. Rồi tôi nói thêm:

–  May ra. Khi trở lại nơi này, tôi sẽ mang theo tin mừng.

–  Dạ. Em cảm ơn quý ông. Các ông làm em cảm động quá.

Trên trời, bỗng hiện ra những cánh én. Cánh én báo hiệu một mùa xuân sắp sửa về. Tôi thốt lên vu vơ:

–  Tết cũng sắp sửa lại về.

–   Vâng. Nhưng đời em chẳng có bao giờ biết đến Tết cả. Nhớ đến ngày xưa, đêm giao thừa, cả nhà quây quần bên nồi bánh tét. Bây giờ điều ấy đã không bao giờ có nữa.

Người thiếu phụ chỉ nói bấy nhiêu. Còn hai đứa chúng tôi chỉ biết đốt thuốc thương cảm nỗi niềm tâm sự của một cánh hoa đồng hương. Giữa lúc ấy, lệnh lên đường lại giục giã. Người bạn chỉ tôi và nói cùng nàng:

–  Hy vọng anh bạn của tôi sẽ đem lại tin vui cùng chị.

Còn tôi, bấy giờ, một ý nghĩ táo bạo chợt nổi dậy. Tôi nói:

–  Hay là chị hãy trốn về quê nhà. Chúng tôi sẽ giúp đỡ chị.

Người thiếu phụ lắc đầu:

– Em cũng mong có ngày về thăm quê hương. Nhưng còn con cái. Bỏ đi tội nghiệp chúng quá. Em không nỡ…

Tiếng còi tập họp lại vang rền ngoài đường. Chúng tôi bịn rịn từ biệt. Đôi mắt người Sơn Tây hoe đỏ nhìn theo chúng tôi. Đôi mắt tội nghiệp làm sao. Hồn bài thơ xưa chợt bay về, và tôi thấy lại những câu thơ não nùng: Đôi mắt người Sơn Tây. U uẩn chiều lưu lạc. Buồn viễn xứ khôn khuây. Buồn viễn xứ khôn khuây… Tôi quay lại nhìn nàng như muốn uống trọn cả hình ảnh một loài hoa lưu lạc một lần cuối cùng. Tôi muốn ghi nhớ mãi giọng nói dịu dàng dễ thương của một quê hương xa vời nào đó. Tôi muốn mang theo vĩnh viễn gương mặt hao gầy, những sợi tóc mây, chiếc mũi thanh tú, và nhất là đôi mắt. Và lòng tôi thầm nhủ: Hãy về bên nhà, hãy cố gắng tìm ra tung tích bố mẹ nàng. Để trong ngày trở lại, tôi là kẻ mang theo một tin mừng. Đó là cách duy nhất để giúp đỡ một người đàn bà bất hạnh. Đó cũng là một bổn phận thiêng liêng nữa.

Điều ấy chắc chắn tôi sẽ thực hiện được. Bởi vì tôi là một phóng viên. Chỉ cần nhắn tin trên vài tờ báo, hay đọc trên đài phát thanh. Sau đó, tôi sẽ xin phép đi làm phóng sự ngoại biên và sẽ tìm lại nơi chốn cũ. Tôi cũng tự bảo lòng, là sẽ mang tặng nàng một món quà Tết của quê hương. Chẳng hạn một đòn bánh Tết, bánh chưng, hay một thẩu dưa món, một gói mứt.

Ừ, tại sao tôi lại bận tâm đến nàng nhiều quá. Hay ở nàng tôi đã bắt gặp những niềm rung cảm, những xúc động chân thành như trong bài thơ kia. Tôi chính là người lính chiến lưu lạc và nàng là một người con gái trôi nổi tha phương.

 

@@@@@

 

 

Nhưng tôi sẽ chẳng bao giờ có dịp trở lại chốn cũ ấy nữa. Hiệp định ngưng bắn đã không cho phép tôi vượt qua dòng Vĩnh Tế ấy nữa. Món quà xuân cho người thiếu phụ xa xăm kia đã trở thành một món quà nước mắt. Và tin mừng kia cũng chẳng có bao giờ được bay đến ngôi quán bên đường trong quận lỵ K. nữa. Thỉnh thoảng, tôi lại được về bên này kinh Vĩnh Tế biên giới Miên Việt. Mà mỗi lần về như thế, tôi đều đứng lặng, mắt dõi về bên kia bờ kinh, trên cánh đồng bao la xanh màu mạ, trên những rặng thốt nốt, rặng núi thẫm trong mây, mà vẽ vời nên một hình bóng cũ. Ở đấy, có người thiếu phụ trẻ cùng màu da, cùng tiếng nói của tôi đang trải qua những ngày tháng mỏi mòn bất hạnh. Ở đấy, có một đôi mắt, mà tôi gọi là Đôi mắt người Sơn Tây, như một thiên tình sử não nùng. Tôi tưởng tượng ra, đôi mắt ấy đang đăm đăm nhìn về hướng quê nhà, mà chờ đợi một tin mừng, một món quà của quê hương, để cuối cùng phải hoài công trông đợi.

Còn riêng tôi, đứng trên bờ kinh, tôi cứ ngỡ đứng trên một điểm cuối cùng. Tôi sẽ không bao giờ được nhìn lại cánh hoa tuyệt vời kia nữa.

 

Trần Hoài Thư

(trich truyện thời chiến)