Miền Nam và chị ôm nhau chết .

Tiếng sóng ru con – tranh Thanh Trí

Cứ mỗi lần nhìn bức tranh “tiếng sóng ru con” của Thanh Trí, thì tôi lại liên tưởng  đến Phùng Thăng mà Nguyễn Đức Sơn đã đề cập trong “Đêm thăm bạn sắp đẻ ở Di Linh”  :

tranh DCtranh Đinh Cường

Sắp đẻ ở Di Linh cây cối chào chị
Sắp đẻ ở hư không rừng và chị ôm nhau hát
Tôi giấu mặt đi ven hồ lạnh giá
Căn nhà gỗ phần mộ thanh xuân
Những ván thông dày đặc gỗ quan tài
Của tóc của chị của tình nhân
Của dương cầm bỏ phế đúng một năm
Sắp đẻ ở Di Linh cô đơn hùng dũng
Chị thu mình như một con mèo mun
Chị thu mình như một vũ nữ Ba Lan
Chị thu mình như một đĩa hát cũ
Oh my tormented heart
Buổi chiều chết trên cây thánh giá
Hãy quên tôi như một mũi tên
Hãy quên tôi như một loài chim đêm
Anh đưa chị về đây để tự vận
Chị thổ huyết ba lần tôi chứng kiến
Khi rừng già thấp xuống thấp xuống
Buổi sáng chị tắm sương mù
Buổi chiều chị đốt cỏ để hong đời chị
Hiu hắt như đời tôi chị đứng lên
Hai mươi bảy năm tuột mất thanh xuân
Ôi nắng vàng dòng thác Gougah
Rừng và chị ôm nhau hát
Sẽ đẻ ra một đứa con
Rừng và chị ôm nhau chết .

Phùng Thăng tức là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng  cùng chị là Phùng Khánh tức là ni cô/ni sư/sư bà Trí Hải, đồng dịch giả của tác phẩm Câu Chuyện Một Dòng Sông, Ca Dao của Hoài Khanh xb, sau đó Lá Bối tái bản. Ngoài Câu chuyện một dòng sông,  chị còn dịch giả những tác phẩm:

Sói Đồng hoang của Hermann Hesse   (với Chơn Hạnh).  Buồn nôn La nausée của J.P Sartre,   Bắt trẻ Đồng Xanh của Salinger (với Phùng Khánh).

Đó là các  tác phẩm gối đầu giường của chúng tôi, thời ấy.  Chúng  xuất hiện giữa lúc lính Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam cùng với một nền văn chương, văn hóa xa lạ, ngoại lai.

Phùng Thăng sinh năm 1943. Tôi sinh năm 1942. Phùng Thăng từ Đồng Khánh chuyển qua Quốc Học. Chị học Đệ Nhất C (văn chương). Còn tôi đệ nhất B (toán). Nhớ đến chị lànhớ đến  hình ảnh của người nữ sinh thùy mị, thanh tú, với mái tóc thắt hai con rít. Nhớ chị  cái dáng gầy nhưng thanh thoát. Cứ ngỡ những viên đá cuội của sân trường  còn hân hoan khi bước chân chị dẫm lên.

Với tôi lúc ấy, chỉ biết sách vở, những bài toán, lý hóa, và những ý thức phản kháng qua những cuốn sách dịch của Phạm Công Thiện hay những bài thơ của Nguyễn Đức Sơn.  Dù vậy, vì số học sinh nữ của trường thì quá ít, nên hình ảnh của người con gái ấy, ít nhiều vẫn còn như hiện ra trong tâm trí tôi, sau này.

Và giờ đây, hình ảnh ấy lại thêm một lần nữa trở lại. Lần này, tim tôi nhói. Tôi đã tìm ra một phần nào lai lịch người đàn bà mà NĐS đã nễ trọng dành cho ngôi vị “Chị” và Bùi Giáng đã  vinh danh là thân mẫu:

Con thương phùng khánh vô ngần
Phùng thăng thân mẫu cũng gần như  nhiên

Qua những tài liệu mà tôi sưu tầm, được biết chị kết hôn với Trần Xuân Kiêm, nguyên chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế. Hai người bỏ lên núi rừng Di Linh mà sống. Như Nguyễn Đức Sơn, họ từ chối văn mình cơ khí, không chấp nhận xã hội đang dần dần bị vật chất hóa và ngoại lai hóa.
Sau đó, hai người chia tay, Phùng Thăng đi tu.  Sau 1975, Phùng Thăng bồng con tìm đường vượt biển.  Trên phả hệ của gia đình, chỉ cho biết Phùng Thăng chết vào tháng 6 năm Ất Mảo (1975) tại Kampuchia. Nhưng theo Nguyễn Đạt, thì ghi rõ ràng về cái chết này, như sau:

Ngày 14-3-1978 Tại Xã Mỹ Ðức Bọn Diệt Chủng Pôn Pốt Ðã Tàn Sát 130 Người. Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng (em ruột ni sư Trí Hải-Phùng Khánh, đã mất vì tai nạn giao thông, dòng dõi Tùng Thiện Vương), cùng một người con và nhiều người Việt Nam khác, bị Khmer Ðỏ “cáp duồn” từ đảo Nam Du (thuộc Kiên Giang), mang về Campuchia bắt đi lao động khổ sai ở công-nông-trường, cả hai mẹ con chết tại đó. Thời điểm ấy cũng có nhiều du khách Việt kiều hôm nay, vượt biển từ Kiên Giang đi tìm tự do.

Nguyễn Đạt/ Người Việt – Ký Sự Về Miền Tây (1)

(nguồn Internet)

***

Bài thơ của Nguyễn Đức Sơn sáng tác vào năm 1972 được chấm dứt bằng câu:

Rừng và chị ôm nhau chết .

Tôi muốn được thay bằng

Miền Nam  và chị ôm nhau chết .

Để khóc cho đồng bào miền Nam của tôi.

***

Viết thêm:
Tự nhiên  tôi có một niềm ao ướcvô biên là  một ngày nào đó tạp chí Thư Quán Bản Thảo  sẽ dành trọn vẹn cho chủ đề  viết về Phùng Thăng . Với văn học, Phùng Thăng là một dịch giả đã đóng góp rất lớn vào lảnh vực dịch thuật miền Nam bằng những dịch  phẩm để đời: câu chuyện một dòng sông, buồn nôn, Bắt trẻ đồng xanh…. Với một cuộc sống hạnh tu, với trái tim chảy cả một giòng sông Hằng, vậy mà chị đã bị thảm sát một cách đau đớn như vậy, ai lại không xa xót và thương cảm !
_____
(2) Chúng tôi đăng lại bản tin này với tất cả sự dè dặt. . Trong phả hệ của ông Trần Xuân Kiêm, dịch giả Phùng Thăng và con gái Trần Nguyễn Thường Nga sinh ngày 31 tháng 08 năm 1966, Bính Ngọ, mất  tại Campuchia ngày 10/06/1975, Ất Mão.
(THT)

Tháng bảy xuyên bang

Suốt cả năm bị thúc thủ cùng “theo em”, không đi đâu  xa được.  Hôm nay tình cờ đọc lại một bài thơ làm thời còn “xa lộ bốn lane, toll tiền chắn lối”… cảm thấy lòng bồi hồi xao xuyến…

Đường chưa đến mà nghe lòng nôn nao
Mùa hạ chở theo mây trời trên gương chiếu hậu
Hỡi những hàng cây sồi im lặng
Có hàng  cây nào thấy hạnh phúc  của tôi  ?

Bạn hữu theo cùng có mây  trắng trôi… trôi
Xa lộ bốn lane, toll tiền chặn lối
Tháng bảy xuyên bang, nơi nào gọi réo
Để đời ta còn mãi mãi giang hồ ?

Bánh lăn, nắng cũng nhạt  bên đồi
Vào thành phố khi đèn đường vừa bật sáng
Thêm một vùng đất ta về thăm hão hán
Thêm tiếng cười dòn
thêm những tình thân…

highway

Đường lạ quanh co  ngả bảy ngả năm
Mặc, ta có máy chỉ đường, chỉ  lối
Thành phố sáng trưng chào mừng khách mới
Rượu chưa khui mà bỗng nóng cả lòng !

Lính thú thời nay

Tôi là một thằng thanh niên sinh vào thời ly loạn
Trả ơn quê hương  nên chọn làm lính đi đầu

Quê hương là gì, một trái tim đau
Tôi mang theo đôi giày những mủi chông đâm vào nhức buốt
Tôi đã nhận rất nhiều những mỹ từ đẹp nhất
Nhưng tôi lại  thiếu đàn bà em gái hậu phương

Bởi tôi sống nhiều núi rừng hơn thị tứ phố phường
Có khi cả mấy tháng trời chẳng thấy bóng một người khác phái
Quê hương là gì, tôi trèo lên đồi tìm sim hái trái
Có tên địch nào cuồng tín ẩn thân
Tôi ăn măng rừng, liếm từng giọt sương đêm
Lội qua những giòng suối đen ngòm đầy vi trùng sốt rét
Quê hương là gì, tôi bám theo từng tất đất
Giữ từng con đường, từng làng xóm được bình yên
Nhưng tôi chẳng bao giờ có một tấc đất để  được xây nền
Chỉ có chăng là những mả mồ làm nơi ẩn trú

Quê hương là gì, tôi trèo lên ngọn đồi cao điểm
Nhìn trảng nhìn rừng, lau và cỏ mênh mông
Có khi buổi chiều cả một biển lau trắng quá chừng
Nhớ đến cha già, tôi không cầm nước mắt…

Giáng sinh trắng – cội tim già

sn
Từ  em gậy chống bạn đường
Xe lăn thân hữu, chiếu giường tình nhân
Từ em bất toại bán thân
Tôi theo em, nghĩa  vợ chồng tào khê
Sáng  nay tuyết phủ tứ bề
Thì ra trận tuyết đầu mùa đêm qua
Giáng sinh trắng, cội tim già
Tôi xin em nhận món quà Giáng sinh

Dec-11-2013

Ý nghĩ vội từ một người “primary caregiver”

Hôm qua, Y. kể nhiều về chị bạn rất thân. Chị Vân. Chị bị stroke cách đây 18 năm, nhưng nhờ nghị lực chị đã hồi phục. Đi lại được. Nói chuyện được. Chỉ luôn luôn gọi điện thoại an ủi, khuyến khích Y., lấy kinh nghiệm bản thân mình để làm mồi lửa hâm lại sức mạnh của Y.  Vậy mà tuần trước chị lại chịu thêm một lần stroke nữa. Lần này thì vô phương. Bác sĩ bó tay. Và gia đình quyết định rút ống…

18 năm quả là một thời gian quá kinh khủng cho một người bị chứng bệnh stroke chụp đến.  Chị Vân đã chứng tỏ rằng nghị lực và niềm tin là những liều thuốc mầu nhiệm. Chị bắt đầu đi du lịch, thăm bạn bè, và mới đây nhất là bay qua Hawaie để tham dự đại hội cựu học sinh PTG-ĐTĐ. Vậy mà cuối cùng, cuộc đời vẫn phải bị kết thúc bằng chính nỗi bất lực.
Y. cứ nhắc hoài đến chị bạn.  Uổng quá, 18 năm dài, cố công cố sức để hồi phục, giờ lại đầu hàng…

Như vậy, tôi lại được dịp nói về cái triết lý “vô thường”. Của Phật hay của Chúa tôi không cần biết. Mà biết để làm gì. Chỉ biết là trong đời sống này, kinh nghiệm đã cho ta những bài học rất thật, rất giá trị. Và Y. đã đồng ý. Vô thường có nghĩa là Que sera sera.  Khi mà nghị lực phải chịu thua. Khi mà những cố gắng phải bị đầu hàng. Như mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi phút này. Tôi đã ở sát bên Y., chăm sóc đến từng sợi tóc, vậy mà cũng phải ngậm ngùi. Quả thật vậy sao? Quả thật, hôm qua, bước chân còn mạnh, còn vững, bây giờ bước chân đã trở nên khó khăn quá đổi  để  bước, để nhấc lên?
Rõ ràng, tuổi tác đã trở thành một bức thanh cản ngăn những hy vọng và nghị lực của con người.

Sức mạnh về thể chất chỉ đến với một lứa tuổi nào đó – gọi là thanh xuân –

Còn tuổi già, nó đã bỏ từ từ cơ thể con người. Xương cốt bắt đầu lỏng và rã rời. Mắt bắt đầu mờ. Tay chân bắt đầu yếu. Trong thân thể, những mầm chết đã bắt đầu thay những mầm sống.

Chỉ có chăng là sức mạnh về tinh thần.
Như chị Vận, với 18 năm trầm kha.

Vậy mà cuối cùng chị cũng vẫn chịu thua. Chị đã đầu hàng. Chị nằm xuống, trên bực thềm. Khi mà chị đã nghĩ là mình sẽ có thể bước lên.

Trận chiến chưa tàn

…Vào năm học thứ hai, chàng phải chạm trán một mặt trận khác nữa. Khi chàng lấy môn English 102 mà giáo sư nguyên là một lãnh tụ phong trào phản chiến Mỹ. Ông mang cặp kính tròn vo kiểu Beatles, mang cả sợi dây chuyền có vòng bạc phản chiến lủng lẳng trước ngực. Ông luôn luôn kể lại phong trào chống chiến tranh trong những năm 60, với khói cay, dùi cui của cảnh sát, với những người sinh viên đổ máu trên sân trường. Ông tự hào về lần xuống đường tại thủ đô để thách đố Tổng thống Nixon. Ông chửi rủa người lính VNCH. Ông kết tội một đất nước đã mang đến gánh nặng cho dân tộc Mỹ, cả cái mà ông gọi là triệu chứng Việt Nam Vietnam syndrome.  Định đã nghe, bừng bừng với cơn giận dữ và tủi nhục. Có lần Định xuống văn phòng để xin một mẫu drop  (1).  Nhưng có một động lực nào đó bắt chàng phải đứng yên trước người thư ký già. Lời réo gọi vô hình như thúc giục: “Tại sao lại chịu thua? Hãy tham dự, hãy chiến đấu, hãy cho ông ta biết…” Và chàng tiếp tục ngồi lại, tiếp tục nghe những điệp khúc của người cựu lãnh tụ một thời. Chàng quyết định chọn đề tài cho bài khảo luận cuối khóa: “Phong trào phản chiến Mỹ và chiến tranh Việt Nam””

Rõ ràng là một trận chiến mà chàng biết là quá khó khăn. Vâng. Thật khó khăn. Chàng đã ngồi hàng giờ trong thư viện. Việt Nam đầy dẫy trên ngăn bục, trên các tạp chí cũ, trong các microfilm, và sách vở. Việt Nam như một ác mộng, một vết thương không bao giờ lành của xứ sở này. Việt Nam được nhắc nhở khắp nơi, tệ hại như “Quái vật”, “Kẻ giết con nít”, “Kẻ nghiện”, hay những tội ác chiến tranh. Còn quân đội, hàng ngũ của chàng thì được gán cho một thứ quân vô tổ chức, chưa đánh đã chạy, tàn bạo, hiếu sát, đánh thuê… Chàng cảm thấy khổ tâm và cô đơn. Chàng đã không thể tìm một tài liệu nào để giúp cho bài khảo luận của mình. Cho dù khi chính chàng là một pho tài liệu quí giá nhất, và cụ thể nhất!

student
hỉnh internet

Phải. Ngay cả những kinh nghiệm mà chàng đã trả bằng cả máu và nước mắt này, chàng cũng không thể dùng chúng để chứng tỏ cho ông thầy này biết. Mục đích của môn English 102 là dạy cho sinh viên về cách thức viết một bài khảo luận. Muốn chứng tỏ quan niệm và lập trường người viết cần phải có tài liệu. Trời ơi. Tài liệu là tôi. Là Nguyễn văn Định. Là người trong cuộc biển dâu này. Là một người đã thấy, đã nghe và đã sống này. Là tên lính phải cúi đầu khóc thầm khi tấn công ngôi làng chỉ toàn là đàn bà, ông lão và con nít. Là những nỗi gào thét trong lửa đạn bời bời, dao đâm phụt máu người, đạn AK, M16 trổ ra những lổ xuyên phá đỏ lòm. Hắn còn đau hơn ông giáo sư này đau. Phỉ nhổ còn hơn ông ta phỉ nhổ. Hắn đã điên cuồng bắn lên trời vì bạn bè hắn chết. Hắn đã ôm xác em nhỏ trong trận pháo kích cuồng điên, không dám nhìn cánh diều dính máu nằm trên sân. Hắn đã thấy đám Bắc quân chạy tán loạn như đàn vịt bên đường xe lửa mà không bắn theo. Và những điếu thuốc mời những tù binh của hắn. Để cuối cùng, hắn đã bị lừa, bị đá, bị vỡ mộng, bị xỏ mũi kéo đi vào cái rọ như cả miền Nam thân yêu, đến độ phải trốn chui trốn nhủi, chạy làng, bị gán : Già không tha, trẻ không từ, tội ác các anh đáng lẽ phải mang ra bắn, nhưng nhân dân, cách mạng khoan hồng…” rập khuôn từ một đám chăn trâu vô học…
Cái tài liệu sống này không đủ làm chứng cho một kinh nghiệm lịch sử sao, thưa ông? Định muốn hét lên, muốn trình hết cả tấm thân đến từ một nơi mà ông ta từng phỉ nhổ. Nhưng chàng bất lực.
Nhưng người ta đã không biết điều đó. Con cháu của chàng cũng không biết được điều đó.

***

Bây giờ rõ ràng cuộc chiến đấu đã trở thành cuộc thách đố. Thách đố như đôi kính tròn vo và mái tóc Beatles của vị giáo sư. Thách đố như cuốn sách đại phản chiến của Ron Kovic: “Born on the fourth of july” mà ông ta đã bắt chàng phải đọc. Chàng đã thức bao đêm trong căn phòng nghèo khó, để lắng nghe tiếng nổ trái phá từ một mặt trận mà chàng quyết định thử lửa. Để sáng hôm sau lại lao vào trận chiến như tên lính cô đơn nhất.

oOo

Nhưng phép lạ đã giúp chàng. Chàng gặp một người tài xế xe bus nguyên là cựu chiến binh VN trong một chuyến xe đêm. Xe chỉ còn hai người. Người tài xế hỏi chàng: Mày đến từ đâu? Chàng trả lời Nam Việt Nam. Người tài xế reo lên mừng rỡ: “Tao cũng có mặt ở đó. Trong hai năm”. “ở đâu?” “Pleiku, Kontum” “Như vậy đơn vị mày là Sư Đoàn một Kỵ Binh Không vận Hoa Kỳ? “”Phải, sao mày biết?” “Tao từng hành quân chung với đơn vị mày. Nhảy trực thăng, diều hâu, nằm đường ở An Khê, Mang Giang”. Người tài xế da trắng bây giờ cười lớn: “Mày là bạn tao rồi.” “Mày nghĩ thế nào về cái nơi mà bọn Mỹ mày gọi là địa ngục?” “Tao nhớ mãi. Tao thương đất nước mày quá. Tao đóng nhiều nơi, từ Đức sang Nhật, Thái Lan, nhưng chỉ có Việt Nam của mày là nơi mà tao nhớ nhất…” “Vì sao?” “Vì dân mày khổ quá, nhưng cũng rất hiếu khách. Còn bọn mày, tao phục. Đánh giặc nhà nghèo, mà đánh giặc giỏi, chịu đựng lại giỏi. Chẳng bì bọn tao…” Hai người trao đổi bao nhiêu điều về những kỷ niệm xưa. Định càng hiểu thêm về một thứ tình mà chỉ những con người cùng hoàn cảnh, cùng mục đích mới cảm thông. Đó là tình chiến binh. Đâu có cần hắn và chàng cùng chung một đơn vị mới cảm thông gần gũi. Trái lại, chính mồ hôi, nước mắt, máu, và bụi đỏ, mưa dầm, mà mỗi người cùng nếm, cùng chịu đựng chung nhau, mới là những yếu tố chính kết hợp họ lại với nhau. Đến nổi, người tài xế chẳng cần đón khách dọc đường nữa và Định cũng quên dừng lại tại trạm quen thuộc nữa…

Và Định nói với Tom nỗi khó khăn của chàng. Tom hứa giúp đở chàng bằng cách giới thiệu thêm vài người cựu chiến binh khác. Hắn nói:”Đó không phải cuộc chiến đấu của riêng cá nhân mày, mà là cuộc chiến đấu của cả bọn tao…Đừng bận tâm, Thịnh ạ…” Định cảm kích đến rưng rưng.

oOo

Lại một mùa Giáng Sinh nữa lại về với Định nơi đất khách. Có một chút gì thê thiết dấy lên từ phía trời xa. Nơi đó, có con đường xưa, có phố cũ, có buổi tối đèn hoa và máng cỏ. Có một chút gì khiến chàng phải chạnh lòng, khi đứng bên khung cửa sổ, nhìn những trận bông tuyết đang tiếp tục rơi xuống dập dìu. Màu trắng xóa phủ ngập đường, mái ngói, hàng cây. Màu trắng xóa từ một mùa Đông trở về đúng hẹn trên một đất nước chưa hề biết gì về chiến tranh. Và chàng vẫn đứng yên. Đứng yên như thế, trong bóng tối của căn phòng trọ nghèo nàn, để nhận ra cõi lòng mình thấm thêm những giòng lệ xa xót của kiếp tỵ nạn.

Đã hai ngày, phòng có hơi sưởi. Hàn thử biểu đã xuống khủng khiếp. Dễ chừng 15 độ F, có nghĩa là ở độ âm C. Có nghĩa là nước đông lại. Hơi thở cũng đông lại. Nước miếng, nước bọt, cũng phải đông lại. Chàng đã phải mở lò gaz, vòi nước nóng, để nước ngập cả bồn tắm, để may ra hơi nóng có thể làm bớt đi cái giá rét kinh hồn từ ngoài trời xâm nhập vào trong phòng. Vợ chàng vừa từ bệnh viện trở về hôm qua, và vì không có xe, nên chàng phải dìu vợ trên con đường ngập tuyết giữa đêm khuya. Bây giờ nàng đang trùm trong tấm chăn dày cộm. Còn chàng thì bất lực để nhìn từng trận bông tuyết mỗi lúc một ồ ạt tấn công xuống đường. Những cụm tuyết như những bông trắng xóa, xiên xiên theo gió, hất lên cao, rồi chụp xuống đất. Ngày xưa, hồi còn ở quê nhà, chàng đã nhìn qua phim ảnh để tưởng tượng đến vẽ đẹp của những vùng tuyết trắng, với mái nhà thờ, với những ánh đèn ấm cúng từ trong nhà, với những em bé ném những quả banh tuyết, hay những người quay quần trước lò sưởi, bên cây giáng sinh óng ánh dây kim tuyến, trong khi ngoài cửa sổ là những trận bông tuyết trắng mượt in đậm…Bây giờ, chàng mới hiểu thế nào là thực tế… Tuyết vẫn ào ạt rơi. Dưới ánh đèn đường, màu tuyết càng trắng hơn, thi nhau xiên xiên in bên khung kính. Thỉnh thoảng vài chiếc xe lướt qua, đèn pha càng chọc thũng cả một vùng trời tuyết trắng, như trong ấy triệu triệu sinh vật li ti quay cuồng…

Chàng đứng yên nhìn xuống đường. Đợi chờ gì ở ngoài đấy. Chàng cũng không biết nữa. Người đưa thư đã qua đường. Vợ chàng thầm thì: “Lạy Trời cho con có thư Việt Nam”. Người đưa thư vào cỗng. Chàng xuống vội thang lầu. Có một phong bì mà chàng nghĩ là chàng không thể ngờ nổi. Đó là tấm cạc chúc mừng Giáng Sinh của ông thầy phản chiến cùng bài khảo luận của chàng. Ông đã cho bài khảo luận của chàng A+.

A+

(1) Mẫu dành cho sinh viên dùng để bỏ môn học mình đã chọn,   trong thời kỳ ân huệ  của khóa học, mà không bị  kỷ luật

Nói thêm về chương trình y khoa 7 năm BS/MD

Trong bài văn Cho con ngày vào trường thuốc, tôi có nhắc đến chương trình Y khoa 7 năm BS/MD. Nay xin nói thêm chi tiết hơn để giúp những vị nào có con cháu muốn theo học Y Khoa qua chương trình này.

Tại sao là 7 năm ?

Bởi vì người sinh viên bắt đầu nhập học chương trình Y khoa ngay sau khi tốt nghiệp trung học (high school), chứ không phải đợi tốt nghiệp bằng Dự Bị Y Khoa (BS – 4 năm). Ba năm đầu trường Y khoa gởi sinh viên đến một số trường  trong tiểu bang để học những môn chánh của chương trình dự bị Y Khoa.  Ngoài ra,  sinh viên phải học những khóa hè để rút ngắn thời gian từ 4 năm xuống còn ba năm. Những môn học phải lấy điêm B trở lên. Nếu C hay thấp hơn thì bị loại ra khỏi chương trình.

Sau ba năm, nếu vượt qua cửa ải “thứ hạng”,  sinh viên sẽ  chánh thức trở thành sinh viên y khoa thực thụ. Sinh viên khỏi cần thi MCAT như  yêu cầu ắt có và đủ dành cho những sinh viên khác.

Từ đây, thêm bốn năm nữa, người sinh viên mới ra trường với bằng MD (medical doctor).

Cái lợi của chương trình 7 years BS/MD  là:

1) bảo đảm về ngành y khoa cho người sinh viên  ngay  sau khi tốt nghiệp trung học 2) tiết kiệm tiền học phí vì trường là trường của tiểu bang (công).  3) miễn thi MCAT. 4) Rút ngắn thời gian trung bình 8 năm xuống 7 năm.

Nếu muốn tìm hiểu, xin Google search: BS/MD 7 years.

Ở NJ có trường y khoa tiểu bang là UMDNJ có chương trình đặc biệt này.

Mấy bài thơ mới tìm lại từ CD cũ

Có gì đâu mà giận

coffeecup

Pha ly cà phê đầu ngày
Nhấp hớp ngọt hớp ngào hớp hớp mộng
Đời thì quá vui
Có gì đâu mà giận !

Cây si

Tree-of-Love

Có những con đường đi về trăm bận
Sao không hề trồng một cây si
Có một con đường chỉ một lần đi
Mà đã vội vàng trồng cây đại thụ

Khu Sáu Qui Nhơn

sealam

Một con đường có những chuyến xe lam
Bên là biển, bên  là ngôi trường nữ
Biển nhiều gió,
nên em càng  gìn giữ
Hai vạt tà cho khỏi vướng chân son

Lính trở về không xe díp xe quan
May chỉ còn xe lam,
Để được ngồi bên cô em áo trắng
Khu Sáu mấy vòng, nghe hoài tiếng sóng
Cô có nghe trong lòng tiếng sóng của tôi ?

Mở cửa đầu năm

snow
hình Internet

Ngày đầu năm anh mở cửa tình si
Hồn si dại như chàng trai mười tám
Anh chờ đợi, khi ngoài trời tuyết trắng
Những mái nhà phủ thảm trắng mênh mông
Cửa mở hoài mà chẳng ai ghé xông !

Con trai Huế

Con trai Huế quẩn quanh trường với lớp
Mà kinh thành thì sen hạ ngủ khuya
Mà  mưa dầm, mưa nức nở lê thê
Mà  sương muối cứ che người qua bến
Phà Hữu Ngạn anh chờ em chẳng đến
Phà Kim Long anh cũng không nhận ra em
Những học trò của xứ Huế xa xăm
Lòng đã biết  nỗi buồn thầm quá sớm…

Chụp bắt

Anh  đã có một thời không tuổi trẻ
Khi hiểu rồi, thì tuổi trẻ đi xa
Chụp tay với, mà lòng thêm nức nở
Một con đò đã gọi mãi không qua

trống trải

rainroom
hình internet

Nhà đã trống mà mái tình không đủ
Che hiên ngoài thì ướt dột hiên sau
Tội nghiệp lắm có những người không ngủ
Đêm chong đèn thao thức cả đêm thâu…

Cho con ngày vào trường thuốc

con thi trường học mẹ thi trường đời – Ca dao)

Cuối cùng, ba năm  dự bị y khoa đầu tiên  của chương trình 7 năm   BS/MD con  cũng đã hoàn tất.  Những yêu cầu khắc nghiệt về Toán, Khoa học, Sinh Vật học, Anh Văn  con cũng đã vượt khỏi. Phải nói làm sao để diển tả hết nỗi vui mừng quá sức to lớn của  mẹ. Mẹ đã đứng yên trên hành lang của ngôi trường cũ, nhắm mắt lại. Mẹ đã cảm tạ. Cám ơn Đất đai thổ thần linh hiển. Cám ơn Trời Phật vô lượng từ bi. Cám ơn một đấng quyền năng tối thượng. Mẹ đã sống bằng niềm tin tuyệt đối. Bởi vì theo mẹ, không thể ngờ một ngày một đứa bé tỵ nạn, từng mở đôi mắt hãi hùng trước những tên cướp biển, hay mang chiếc school bag đi đến trường cô độc không mẹ không ba, trong cái khu đầy tội ác nhất của thành phố, bây giờ, nó đã trưởng thành, đã thêm một lần vượt qua một chặng đường thử thách, để bắt đầu lao vào vùng ánh sáng. Mẹ như thể một người mộng du. Niềm vui cứ bềnh bồng như những áng mây trắng trên bầu trời xanh nõn. Bên cạnh niềm vui là niềm hãnh diện. Hãy tha lỗi cho mẹ. Trong đời sống lưu vong cô độc này, ít ra, mẹ vẫn còn có một chút gì để bấu víu.
Con đang bận rộn với bạn bè trong giờ chia tay. Ngôi trường xôn xao cùng một ngày cuối khóa. Bạn bè bịn rịn. Phụ huynh giúp mang những vật dụng xuống lầu. Những tấm thảm được bỏ vào thùng rác. Hàng xe chờ đợi ở dưới lầu. Rồi cánh cửa của căn phòng đóng lại. Rồi tất cả sẽ trở lại im lặng trong ba tháng hè. Rồi hành lang không còn nghe tiếng giày tiếng dép. Mẹ không phải là một phần tử của thế giới nhỏ bé này cớ sao mẹ lại bùi ngùi. Mẹ cũng đã từng có mặt ở đấy mà. Như mỗi cuối tuần mẹ lên thăm con, để quét lại chiếc nền nhà, rữa lại chiếc ly chiếc tách, xếp lại những bộ quần áo bề bộn. Mẹ cũng đã từng cầu cho đội banh của trường con thắng. Mẹ cũng đã từng đứng rất lâu trên hành lang nhìn xuống hồ để nhắm mắt. Và hôm nay hãy cho mẹ cảm tạ bởi vì những lời cầu nguyện của mẹ đã được đền đáp. Ba đã từng kể với mẹ về những người mẹ Nhật trong mùa thi tuyển vào Viện Đại Học Đông Kinh. Họ mang hương đèn và lễ vật đến cổng trường để khấn vái thổ thần ban cho con họ được may mắn. Sau ngày thi, lễ vật tràn ngập cổng trường.  Chúng đã nói lên lòng của bất cứ người mẹ nào trên quả địa cầu, dù từ một phần đất lạc hậu hay văn minh. lưu vong cô độc này, ít ra, mẹ vẫn còn có một chút gì để bấu víu.

chuonchuon

Riêng phần ba, ba đã hiểu con đã tham dự vào một trận chiến cam go nhất trong đời. Đó là một trận chiến con không có hàng ngũ. Con chiến đấu trong nỗi đơn độc. Ba đâu có khả năng gì để hướng dẫn con, để dạy cho con biết về một qui tắc văn phạm Anh Văn, hay một thành ngữ cần thiết. Ngày xưa, nội của con, đã dạy dỗ ba đêm ngày, viết hàng trăm động từ Pháp văn, bắt ba phải trả bài hàng đêm, mà ba vẫn còn yếu hơi đuối sức. Ngày xưa ba đi học giữa bạn bè cùng một màu da, giọng nói, không hiểu là có những người xung quanh giúp đỡ tận tình. Nhưng bây giờ, ba thì bất lực. Từ lớp mẫu giáo, lớp một lớp hai, con đã có mặt trong một thế giới quá chừng xa lạ, bơ vơ giữa đám trẻ bản xứ, chữ Anh chữ Mỹ tội tình. Cầm lấy bàn tay nhỏ bé của con, ba đã dẫn băng qua đường, tập cho con quen với những đám mây bàng bạc, kể lại cho con nghe những ngày tháng tuyệt vời của tuổi học trò của ba. Lớp ba, con đi học, con bắt đầu hỏi đám mây bàng bạc là đám mây gì. Lớp ba, đám mây thì xa, hiện giữa hai hàng lầu cũ, vách tường vẽ bậy, lớp sơn này dập trên lớp sơn khác. Lớp ba, cái apartment tầng hai, nhìn xuống con đường có chuyến trolley nghiến bánh trên đường sắt, con mơ uớc ông già Noel mang về một đồ chơi tự động. Lớp ba, ba kê thêm ba viên gạch, để con có thể đứng ở trên, mở ổ khoá một mình. Và cũng từ lớp ba, con đã không còn được mẹ dẫn đi đến trường hay đón con về lại nhà như mọi lần nữa. Ba mẹ đã bận ở trường đời.

oOo

Cho phép mẹ được một lần nhớ lại. Bậc cha mẹ nào lại không vui khi thấy con mỗi ngày một khôn lớn. Những niềm vui nho nhỏ cứ tiếp tục nẩy nở theo từng chặng hành trình. Từ kiến thức, đến dáng dấp của đứa con. Từ mái tóc càng ngày càng xanh, và sự nghĩ suy càng ngày càng chín chắn. Từ khung cửa sổ nào ở cái slum cũ, con đã nhìn thấy những áng mây, để tâm hồn mỗi ngày một bay bổng, để con chim sâu con mỗi ngày một đầy đủ lông cánh cho một chuyến hành trình vạn dặm. Và từ lớp ba đến lớp 12, con chim ấy đã đứng trên sàn bục, đọc bài diển văn cho bạn bè và trường lớp vào năm cuối cùng của bậc trung học. Con chim ấy là con chim đầu đàn. Ngày ấy, ngồi bên ba, mẹ khóc rưng rức. Bao nhiêu nỗi cực khổ rồi cũng được đền bù. Bao nhiêu năm tháng chiến tranh tù tội rồi cũng được đền bù. Bao nhiêu giọt lệ lưu vong rồi cũng được đền bù. Người ta giới thiệu tên con. Con bước lên sân khấu. Dưới ánh đèn rực rỡ. Không thể ngờ một ngày nào, có một đứa bé, con của một tên được gán cho là ngụy quân, bây giờ đang có mặt tại nơi này, xa lạ đến độ sững sờ.

Người lính nhỏ không hàng ngũ đã chiến đấu và chiến thắng rồi. Những người ngồi bên cạnh trong buổi tốt nghiệp quay lại chúc mừng. Congratulation. Một đứa bé Việt Nam, bắt đầu bằng những thảm kịch, bây giờ bắt đầu bằng nỗi kiêu hãnh. Con nói với bạn bè. Con nói về tương lai. Rồi những tràng vỗ tay vang dội. Ba từ trong bóng mờ nhìn lên bục. Con chim sâu nhỏ bé, con sóc nhỏ dại khờ, tên lính nhỏ không hàng ngũ đang ở đấy, dưới vùng ánh sáng của những chiếc đèn trăm ngọn nến. Mẹ cầm lấy tay ba. Nó bạo dạn quá phải không anh. Em cứ sợ nó run khi đứng trước đám đông…

Bây giờ con đã trưởng thành. Trưởng thành để gởi những lá đơn chọn những ngôi trường ưa thích. Trưởng thành để viết những bài luận văn nhập học. Rồi những ngày chờ đợi. Rồi những cuộc phỏng vấn. Con tối tăm với những cuộc phỏng vấn. Rồi một đại học y khoa thuộc tiểu bang kêu con phỏng vấn vào chương trình đặc biệt. Ba lại chở con đi. Ba đã chờ ngoài phòng đợi suốt gần hai tiếng đồng hồ. Có lẽ bên trong căn phòng đóng kín cửa, người ta đang tấn công con, điều tra từng lời ăn tiếng nói và cả ý nghĩ của con cũng nên. Rồi con ra khỏi phòng, mệt lã. Họ phỏng vấn gì, con? ba hỏi. Con kể họ hỏi tùm lum. Họ hỏi con hãy nói về Dostoiveky, về lý do tại sao lại thích học y khoa, về nhạc Rap, về Việt Nam… Ba hỏi con trả lời thế nào về Dostoivky, con nói ông có lối hành văn phân tích sợi tóc thành mười, ông giáo sư gật gật đầu hoài. Còn câu hỏi tại sao con thích y khoa? Con nói con đã từ một đất nước nghèo như Việt Nam, và trong slum nên con hiểu hơn bao giờ sự cần thiết của bác sĩ bên cạnh những người bất hạnh. Con kể về cái kim không khử trùng, những y tá ngu dốt… Ba đã biết trong đầu óc của con đã nẩy nở những trí khôn, và tích lủy những kiến thức mà ba không thể ngờ nỗi. Rõ ràng, tuổi trẻ VN vẫn còn những bâng khuâng, thao thức về một nơi gọi là quê nhà, dù quê nhà chỉ là một cõi mù mịt, không một mãy may tình nghĩa, kỷ niệm.

Bởi vậy con hãy cảm ơn bởi vì con được lớn lên và được sống với cả một tuổi trẻ trọn vẹn. Con có thể bay cao, bay bổng, trong vùng trời mây xanh hoài vọng. Con có thể tiến lên, mà đôi chân chẳng còn bị vuớng vít bởi hoàn cảnh hay lý lịch gia đình. Con có thể nhìn thẳng về tương lai trước mặt để tiến tới, với con tim nhiệt tình của tuổi trẻ. Con hãy cảm ơn Đấng Quyền Năng Tối Thượng, vì con được có mặt tại nơi này. Con vẫn còn là một người may mắn.

Cám ơn con, bởi vì ít ra mẹ ba vẫn còn một niềm tự hào trong kiếp đời lưu vong. Cám ơn con, bởi vì, giờ này, bên nội ngoại ở quê nhà, đang nhìn tấm hình của con, mà hãnh diện rằng, từ căn nhà này, vào một đêm 15 năm về trước, có một đứa bé, con của một người gốc ngụy bán cà rem dạo bây giờ đã thực sự  bước vào trường thuốc.

Dâu biển

Đầu năm, thêm một nhân viên mới nữa được tuyển. Như vậy, tình trạng tài chánh của hãng chắc phải khả quan lắm và mọi người hy vọng trong tương lai sẽ không còn bị ám ảnh bởi cái búa layoff  hay giảm-người như họ đã từng nghe từ những tin đồn đại. Cô nàng Karen dẫn người nhân viên mới đến từng phòng để giới thiệu. Vẫn  là những câu nói xã giao lịch sự như thể thân tình từ lâu lắm:  Đây là Nancy, người bạn mới của chúng ta, đây là Tim, Ray, Mike, Elizabeth, Tanh…Hân hạnh, người nhân viên mới đưa tay bắt mỗi  người. Mấy ma cũ cũng đáp lễ. Rất mừng được làm chung với bà. Vui mừng được có thêm một người bạn là bà. Đến phiên Tánh cũng vậy. Vẫn cái điệp khúc quen thuộc ngọt như đường phèn mà chàng đã dùng  trên chục năm để chào mừng một người mới đến, để rồi sau đó mạnh  ai nấy làm, mạnh ai nấy to nhỏ với nhau. Người nhân viên mới – Nancy – bắt chặt bàn tay Tánh nói: Thank you so so much. Tánh có  thể nhận ra những vết son khô trên hai bờ môi của bà ta. Karen lại giới thiệu tiếp: Đây là Tanh Tran, người sẽ hướng dẫn bà đấy. Có gì bà cứ cầu cứu hắn. Lần  này, bà Nancy càng tỏ ra lịch sự hơn bao giờ. Bà lại đưa tay bắt tay chàng thêm một lần nữa: Thank you so so so much…
Bà Nancy vào khoảng trên dưới 40, Tánh đoán vậy. Dáng thấp, hơi  mập. Gương mặt nhỏ, cằm nhọn choắt, với đôi mắt tô than quá đậm  như hai con đỉa trâu nằm vắt ngang, cùng cặp môi mỏng. Nói tóm  lại là sắc đẹp của bà ở dưới mức trung bình. Không ai có thể ngờ nỗi là ở con người ấy, là cả những bồ chử nghĩa khoa bảng. Bà có  một bằng Ph.D về giáo dục, làm nghề dạy học, bị layoff, và nhanh chân đổi nghề bằng cách trở  lại trường lấy Cao học về Điện Toán.
Bà là một người Mỹ gốcÝ. Không chồng con. Hiện sống với bà mẹ  già ở một khu ngoại ô bên Nữu ước. Mỗi ngày bà lái xe qua hầm  Lincoln giữa hàng hàng chiếc xe nối đuôi dường như bất tận, đến  hãng ít nhất phải một tiếng rưỡi đồng hồ.
Ngày đầu tiên, bà được giao cho một việc làm rất dễ. Nhưng bà đã  hé lộ sự thật về kiến thức của bà. Bà mang những tờ giấy đi hỏi  từng người. Tại sao ? Tại sao ?  Một lần, họ sẵn sàng chỉ dẫn tận  tình. Hai lần hơi lơ là. Ba lần, chấm dứt. Bà tuyệt vọng trước  cái công việc chưa tìm ra lời giải mà thời hạn đã cận kề. Mỗi đêm  bà ở lại hãng tới một hai giờ sáng. Và bà chỉ còn một cách là bám  víu vào Tánh. Nhưng chàng thì cũng không làm gì hơn. Chàng không  thể viết lại, thay lại hay sửa chữa toàn bộ những gì bà đã làm. Chàng càng hiểu về con người thật của bà và lý do tại sao người  ta lại mướn bà. Bởi vì bà nói quá hay. Bất cứ vấn đề gì bà cũng nói được, và nói có lý. Nhưng bây giờ, mọi người mới hiểu là bà  chỉ biết nói mà không biết làm. Mà chủ chỉ cần  người làm, không phải cần người nói. Họ bắt đầu xầm xì sau lưng bà. Trong các buổi họp,  mỗi lần bà đứng dậy phát biểu, họ nhìn nhau nhún vai, lắc đầu.  Dường như bà không bao giờ biết được những gì xãy ra xung quanh,  bà cứ vẫn tiếp tục hỏi và nói. Bà muốn đóng góp cho tổ chức. Bà  viện dẫn sách vở kinh điển. Bà trích dẫn từ chương. Bà nói quên  cả giờ nghỉ giải lao, bắt mọi người mệt lả theo bà. Rõ ràng bà là  một tai ương không hơn không kém. Cuối cùng, cả nhóm dồn bà vào  chân tường. Con Carol bắt đầu giao việc làm khó hơn nhưng thời  hạn hoàn tất lại ngắn hơn. Nó gặp riêng chàng cảnh cáo đừng giúp  đỡ gì bà Nancy nữa. Khi nói, hàm răng nó nghiến lại, đôi mắt như  long lên. Tánh gật đầu hứa. Chàng biết chàng không thể tách rời  khỏi tổ chức. Chàng vừa thương vừa giận bà Nancy. Bà đã không  theo bánh xe của guồng máy. Bà đi ngược lại. Và dĩ nhiên trước  sau bà cũng phải bị đào thải.

Rõ ràng con mồi đang bị vây bủa bởi những tay thợ săn tinh quái, nham hiểm. Cứ mỗi lần thấy bà, lòng chàng lại đâm thương hại khôn  tả. Chàng nhớ lại những ngày tháng đầu tiên của chàng tại hãng,  chàng cũng phải bơ vơ như thế. Ngôn ngữ, tuổi tác, màu da đã bắt  chàng đứng hẳn bên lề. Chàng thấy như in cái nhíu mày của con Olivia, nhóm trưởng, mỗi lần chàng hỏi nó một câu hỏi. Chàng cũng  nhớ lại những đêm thức trắng để cố gắng hoàn thành công việc cho  đúng với thời hạn giao nạp. Chàng cũng đã từng cảm thấy nóng giận  khi tên Nga dùng chiêu không-hiểu-Mr-Tran-nói-gì, để che đậy cái dốt nát của hắn khi chàng tìm ra một lỗi sai trong công việc mà hắn phụ trách. Chàng đã từng cảm thấy nhục nhã khi chàng thấy  những thằng, những con Mỹ hít hít lỗ mũi, như phải hửi lấy một  mùi kém văn minh, lúc chàng gắp con cá chiên dầm nước mắm trong giờ ăn trưa. Chàng đã từng ngồi lặng trong phòng lab, để tủi thân  cho một con ngựa lạc đàn. Phải, nếu nói về nỗi bơ vơ, thì chàng  phải bơ vơ gấp ngàn lần nỗi bơ vơ của bà Nancy này nữa. “Phải chiến đấu, bà Nancy”. Chàng muốn khuyến khích bà, muốn nói với bà  về kinh nghiệm của chàng. Nhưng chàng không thể. Con ngựa đau một  tàu nhịn cỏ. Ở đây, không có ai nhịn để nhìn nỗi đau của một  người. Mà trái lại, là nỗi sung sướng hả hê..
oOo

question

Bây giờ phòng Lab chỉ còn Tánh. Người quét dọn phòng ốc đã đẩy  chiếc xe rời phòng. Tiếng máy điều hòa rì rầm không ngưng nghỉ. Những giàn máy chớp đèn xanh đỏ. Những rừng dây cable chằng chịt trên vách tường. Chúng là huyết mạch của kỹ thuật gọi là distributed systems. Bởi chúng sẽ nối những modem cao tốc đến mười phương  địa cầu để nhận và truyền bao nhiêu bytes vô tri vô giác. Còn  nữa. Còn những printer, những PC, những console đêm cũng như ngày  không bao giờ tắt, ghi lại những đường đi nước bước của mọi sản phẩm của công ty trên khắp quả địa  cầu. Thì Tánh nghe tiếng động. Chàng biết là bà Nancy. Chàng rủa  thầm: Lại con mẹ này nữa rồi tiếp tục nhìn vào màn ảnh. Bà Nancy nói:     – Chào Tánh. Tánh chưa về sao ?Tánh nghe giọng nhỏ nhẹ, thật tội nghiệp.
– Con chó này quá cứng đầu, Nancy à.     – Nhưng ông là chủ của nó rồi mà.     – Nó không bao giờ chịu nghe tôị     – Thì trừng trị nó đi Tánh.Bà Nancy tinh nghịch nói. Tánh cảm thấy mình hơi tàn nhẫn. Cái  tàn nhẫn đối với kẻ bị thua cuộc. Dù muốn dù không Tánh cũng là kẻ ăn nhờ ở đậu. Tánh đến đây là do lòng thương hại của người bản  xứ, trong đó người đàn bà này là một phần tử.
– Nancy còn đến trường không?      – Vâng, Tôi vẫn còn đến trường. Tôi cũng học cái môn mà Tánh đề nghị. Có diều ông thầy dạy chỉ biết lý thuyết suông…      – Như vậy Nancy có thâu gặt được gì không?      – Cũng hơi hơị.. Bây giờ bà Nancy nhìn Tánh, đôi mắt bà van lơn:      – Tôi có một điều muốn nói với Tánh. Tánh có muốn nghe tôi nói không?      – Vâng, Nancy cứ nói đi. Tôi đang nghe đây.      – Tôi muốn nhờ Tánh giúp tôi. Tôi sẽ trả tiền.Tánh đâm giận dữ.      – Nancy  nghĩ sao mà nói như vậy. Dù sao tôi với Nancy là những người  cùng nhóm…      – Tôi xin lỗi Tánh. Bởi tôi  không có ai để giúp đỡ tôi trong lúc này.      – Giúp đỡ  ? Tôi giúp đỡ Nancy thì ai giúp đỡ tôi ? Nancy không biết trở ngại tôi đã gặp  còn to lớn gấp trăm ngàn lần bà gặp hôm nay nữa.
Bà Nancy nhìn Tánh với đôi mắt mờ lệ:     – Xin Tánh đừng hiểu lầm tôi. Người Mỹ thường sống sòng phẳng.Tánh hơi chùng lòng. Sự thật là vậỵ Đông Phương và Tây Phương vẫn không bao giờ gặp nhau. Người Tây phương họ sống bằng lý trí  nhiều hơn tình cảm. Bởi vậy hôm nay người nghị sĩ Mỹ một thời là  tù binh, đã là người tiền phong cổ xúy cho việc bang giaọ. Với  ông ta bây giờ là vai trò của đất nước ông, lá cờ của xứ sở ông, sức  mạnh về kinh tế của Mỹ trong tương laị..Đến đây, dôi vai của bà Nancy bật run.    – Tánh hẳn biết cái project tôi vẫn chưa làm xong. Chắc tôi sẽ bị  đuổi. Tôi muốn giữ cái job này, nhưng không một ai cho tôi một cơ  hội. Tôi bị bỏ rơi. Dù sao tôi vẫn là đàn bà…
Lời thổ lộ của bà là lời thổ lộ của kẻ bị thua cuộc. Từ chương  kinh điển đôi khi không thể giúp đỡ gì thực tế. Bà Nancy đã thấy  được sự thật. Nhưng bây giờ thì đã quá muộn. Bà đang chới với bấu viú như một người đang cố tìm chiếc phao. Chiếc phao ấy là ông thầy dạy về ngôn ngữ Cobol ở một trường đại học chuyên nghiệp. Nhưng ông thầy đã không thể giúp gì hơn. Và cuối cùng, chiếc phao là chàng. Lúc này Tánh chỉ cần một cái nắm tay, một lời ngọt ngào, là Tánh có thể trở thành một gã đàn ông của bà. Nhưng chàng  đã chống cùng cơn cám dổ. Lý trí cho chàng biết về cái job, mái  nhà, chiếc xe, cho cả gia đình Tánh. Bởi vậy Tánh đã đứng dậy,  giả vờ quên một cái gì đó, để tránh đôi mắt màu xanh mời mọc:    – Xin lỗi Nancy tôi cần phải trở về phòng. Có một vài thứ tôi cần tìm.                                          oOo
Hai ngày hôm sau, Tánh không còn thấy bà Nancy như thường lệ nữa. Khi qua phòng làm việc của bà, bảng tên vẫn còn gắn trên vách, nhưng trong phòng thì trống trơn. Con Carol nói là bà đã nhận giấy sa thải hôm qua. Mắt nó sáng lên, ánh một vẽ vui mừng. Hết rồi những lời xầm xì. Hết rồi những lời cảnh cáo. Từ đây Tánh yên tâm không còn bị săn đuổi nữa. Tánh là một người tự do không hơn không kém.

Sau khi bà Nancy bị đuổi một ít lâu, một ngày cả bọn nhận điện thư nói về sự tái tổ chức của công ty. Điện thư khuyến khích nhân viên về hưu non, hay kiếm việc ngoài hãng. Đó là dấu hiệu của một tương lai ảm đạm cho mọi người. Và cuối cùng, việc gì đến đã đến.Hãng của Tánh được bán cho hãng X. Và nhân viên phải trải qua một cuộc phỏng vấn trước khi họ trở thành những nhân viên chính thức của hãng mới.
oOoquesera
Nhưng câu chuyện không phải đơn giản như Tánh nghĩ. Không một ai trong nhóm lại tin rằng, hôm nay, hai năm sau, bà Nancy lại trở về, ngồi trong phòng để đợi từng người bước vào để bà phỏng vấn. Không ai có thể tin rằng bà đã được hãng X mướn sau khi bà bị đuổi. Con Carol, thằng Pat, thằng Jim,Tánh…nhìn nhau không nói. Con Carol buồn nhìn ra ngoài cửa. Còn Tánh, thèm hơn bao giờ, được trở lại như ngày nào, ngồi bên bà Nancy, làm bài cho bà, giảng hết tình cho bà, hay an ủi bà, vui buồn cùng bà…Nhưng bây giờ, tất cả đã quá muộn…
(15/7/95 – 08/1/97)

(trong Mặc Niệm Chiến tranh, tập truyện của Trần Hoaì Thư, Thư Ấn Quán xb)

Bài thơ ghi vội, sợ mất ý

Hôm nay, bắt đầu chuẩn bị gởi TQBT. Đang bỏ báo vào phong bì, dán label thì tự nhiên hồn thơ trở dậy. Con thuyền cũ lù lù hiện ra, CT1418. Vội bỏ việc và làm thơ. Dĩ nhiên là còn tiếp.

Khi mặt trời không còn thấy ban ngày…

Một tiếng kêu mà dội cả đất trời
Tôi cúi xuống mặt biển nằm lặng thiếp
Bỗng từ một nơi nào không biết
Một tràng sấm rền như  pháo lênh hành quân
Rồi gió ào làm  cau mặt biển dương
Rồi ngùn ngụt mây lọan cuồng vần vũ
Mây chắn mặt trời không còn sáng tỏ
Chỉ thấy bốn bề lóe sáng vây quanh
Biển bổng đen ngòm, sóng dữ hung hăng
Chụp lấy con thuyền khảo tra tới tấp
Con thuyền nhỏ. Ván đập mình răng rắc
Một tiếng kêu Trời, nước đã tràn vô

Lạy Chúa, lạy Trời lạy Phật Nam Mô…

 

Cho con ngày sinh nhật

Ngày Lễ Tạ Ơn này là Ngày Sinh Nhật con lên mười bốn tuổi. Mười bốn năm, mà ba mẹ cứ ngỡ như hôm qua. Mẹ đang ngắm nhìn một tấm hình hài mà mẹ ba đã tạo dựng và nuôi dưỡng. Cảm tạ Ơn Trên đã cho mẹ được thấy con lớn như thổi, hình dáng vững chắc và tự tin. Cảm tạ  Ơn Trên đã ban xuống cho gia đình chúng ta một bầu trời để thở, để sống, để ba mẹ có cơ hội nuôi dạy con nên người. Con không biết mẹ nhìn, vẫn tiếp tục gõ máy computer. Mẹ vẫn ngồi yên trong lòng ghế, không dám gây tiếng động. Mẹ sợ con xao lãng hay mẹ đang chìm đắm trong niềm vui quá chừng to lớn của ngày hôm nay. Chiếc bánh sinh nhật mẹ đã dấu trong tủ lạnh. Mười bốn ngọn đèn cầy mẹ vẫn chưa lấy ra khỏi bao giấy. Tấm cạt mừng sinh nhật đã   viết. Rồi khi ba về nhà, con sẽ ngạc nhiên. Căn apartment sẽ bừng dậy lời chúc tụng. Con sẽ thổi 14 ngọn đèn. Và mẹ sẽ mừng chắc phải chảy nước mắt.

Làm sao mẹ quên được nỗi hạnh phúc cùng nỗi lo âu tột cùng xảy ra một buổi sáng cách đây mười bốn năm. Nỗi hạnh phúc khi cô mụ chúc mừng mẹ có con trai đầu lòng. Cô bồng con đưa cho mẹ xem. Bà ngoại bên cạnh thêm vào: Nó giống ba nó như đúc.    Mẹ cũng hiểu vậy. Vì khi ba cưới mẹ xong là phải trở lại cùng  mặt trận. Rồi một ngày nào đó, khi lớn khôn, con sẽ hiểu thế nào là ảnh hưởng của ly cách, và nỗi nhớ nhung, lo lắng của mẹ đã tích lũy lại trong cái bào thai. Như ngày nào, mỗi lần con đạp trong bụng mẹ, bắt mẹ phải quặn đau, thì mẹ phải mỉm cười nói với áng mây trên bầu trời: “Anh à, con anh ngỗ nghịch lắm đấy…” Như mỗi lần mẹ ngồi trong căn nhà trống vắng, mẹ nghĩ là ba đang giữ gìn mẹ, sống bên mẹ, an ủi vui buồn cùng mẹ, trong từng bước chuyển động của một hình nhi. Như mỗi lần ba đi phép trở về, ba kề tai lên bụng mẹ, để nghe một đời sống sắp sửa hình thành và để bàn tay mẹ    nắm chặc lấy bàn tay ba, như níu kéo nhau, gìn giữ cho nhau cái hạnh phúc của đôi vợ chồng trong thời chiến tranh. Và ba chỉ ở lại đôi ba ngày, sau đó lại ra đi. Mẹ đã đưa ba ra bến     sông. Bàn tay ba lại áp trên bụng mẹ. “Em rán lo gìn giữ sức khoẻ. Nhớ đừng làm việc nặng có ảnh hưởng đến con”. Rồi chiếc phà đưa ba qua sông. Còn lại một mình mẹ ở trên bờ. Gió sông làm mẹ lạnh. Giọt lệ lại trào trên mắt. Vai mẹ lại run rẩy. Mẹ đã hiểu tại sao lại có hòn Vọng Phu rồi. Tại sao người đàn bà lại nhìn về hướng biển. Bởi vì biển là một nơi không bao giờ thấy bờ, có nghĩa là kẻ ra đi đã không còn hy vọng trở về. Nhưng ở đây, ba vẫn trở về và vẫn ra đi, dù vội vàng, dù mỗi ngày chiến sự càng khốc liệt, cớ sao mẹ cứ liên tưởng đến một ngày có một tượng đá ở bến sông này. Con hẳn biết, chiến tranh chẳng chừa một ai, huống gì ba đang sống cùng đầu tên mũi đạn.

Mẹ vẫn còn nhớ ngày đầu tiên con ra đời, con đã làm cho mẹ hạnh phúc, nhưng con cũng làm cho mẹ lo sợ đến cuống cuồng. Bởi vì, sau đó, con bị trúng nước và  nhiễm trùng. Con lên cơn sốt dữ dội ngay vào ngày đầu tiên con lọt lòng. Con khóc oa oa không ngớt. Mẹ nắm lấy tay ngoại con, trong nước mắt. Má ơi, con con có sao không? Ngoại vẫn tiếp tục an ủi. Không có sao đâu con, họ cho nó uống trụ sinh là hết ngay.

Và ngoại đã nói đúng.

Bây giờ thấm thoát đã mười bốn năm trôi qua. Và thêm một ngọn đèn cầy được thắp lên cho niềm vui của ba mẹ.

Ba đã lựa mua tấm cạt mừng sinh nhật. “My son, let go and buy for your dad a sport car!” con trai, ra  mua cho cha  một chiếc  xe thể thao!

Để con hiểu rằng, lòng ba mẹ đến với con cái không bao giờ cần được đền đáp. Bởi vì ba đâu còn cái thời để lái chiếc xe thể thao ấy nữa!

(Trích Thế Hệ chiến tranh, Tập truyện của Trần Hoài Thư, Thư Ấn Quán xb 2009)

Bài này viết lúc con trai 14 tuổi.  Nay con có gia đình.
Dưới đây chút gia đình nhỏ bé của chúng tôi:

Hai cháu nội, con trai và dâu…

DSC_0107_G Blur Hard Light G Blur Op50 BW greenish(2)hinh vo chong thoai-kim

Quán: Cây đa bên cầu

2_18_Capn & Guys Return From Recon_2Một chuyến tiền thám (hình Internet)

Lời Blog chủ:

Sáng dậy vào 2 AM. Miệng khô và luỡi đắng khủng khiếp. Cảm rồi. Tối hôm qua uống 2 viên Tylenol. Chắc vẫn chưa lành. Lo vệ sinh cá nhân  cho Y. với một nỗi buồn rưng rưng. Chắc sẽ có một ngày ta phải bỏ cuộc, và lúc đó lấy ai mà chăm sóc Y. đây. Chỉ còn cách là đưa Y. vào nursing home, và có lẽ cả ta nữa.

Lên giường cố ngủ thêm, nhưng mắt ráo hoảnh. Lại bật dậy, pha cà phê, uống đắng. Và lại bắt tay vào việc quen thuộc. In bìa TQBT số mới. Lần này chơi sang làm một phụ bản màu trên giấy láng. Và in thêm một số tập thơ Quán để tặng. (Bạn trẻ ớ Pháp, tôi cám ơn bạn đã hỏi, tôi vẫn nhớ nhưng lu bu quá, chưa có dịp ra bưu điện để gởi tặng bạn). Và in thêm Truyện từ Văn, truyện từ Bách Khoa để kèm theo một số tập TQBT gởi đến một độc giả ở Georgia. Anh muốn có những số thiếu.

Không thể ngờ là căn bệnh đã biến mất lúc nào không hay. NHớ đến Blog, lâu không post. THám kích ngày xưa vượt sông bằng phao poncho, giây thừng kéo từng người một đến bờ,  bò sát đến mục tiêu, nằm chờ rạng sáng mới ào vào tấn kích. Thấy cây đa bỗng  nhớ tới cây đa bên cầu trong một bài văn của Võ Phiến.. Nó đã thức dậy trong lòng một người lính trận. Chỉ khác chăng là không phải để chiêm ngưởng nó qua ngòi bút của VP mà là để bảo vệ nó, gìn giữ nó.
Những đọan thơ rời, ngỡ như thất tán vậy mà giờ đây vẫn còn có mặt:
Thị trấn nằm hai bờ quốc lộ
Vỉa hè loang lở đường mương con
Những quán bên đường nghèo trống gió
Những cô hàng buồn như tản cư

 Bồng Sơn mùa nước dâng sông Lại
Ngày sủng loang trên những mảng dừa
Mặt trận đổ theo bìa Đệ Đức
Nghe cận kề lửa hướng Tam Quan
Bồng Sơn, mây ám toàn tin dữ
Chiều chưa buông, quận đóng năm giờ
Giặc chiếm cận sơn, người chạy loạn
Còn bên cầu, trơ trọi cây đa

Cây đa. Có mặt khi nào nhỉ
Có phải nơi này là quê hương
Có phải mỗi con người trôi dạt
Cất trong tim:  bóng mát thiên đường
Cây đa. Vươn giữa trời bi lụy
Những thổ thần hoang lạnh lư nhang
Lửa cháy Trường Lưu, đò đã chặn
Chị ra sông, ơi ới đoạn trường

 Cây đa. Ngàn rể đâm lòng đất
Như tấm lòng người với Bồng Sơn
Đa bám làng, tôi đi bám đất
Đất và làng, thương quá quê hương…

Quán: Đôi mắt TAM QUAN

Đường ra tiền phương, xe dừng chợ phố
Ghé thăm cô hàng, đốt thuốc tình si
Gọi ly xây chừng, pha thêm đôi mắt
Đôi mắt xứ dừa, đôi mắt Tam Quan

Đôi mắt của em xanh màu dừa xanh
Tôi về Tam Quan, nhớ em gái nẫu
Nhìn em, nhớ ngày tôi qua vườn cũ
Uống trái dừa xiêm nước ngọt tận lòng

Tôi về Tam Quan, ngược lên đèo Nhông
Theo những vòng lăn chiếc xe mười bánh
Ơi người Tam Quan, da em quá trắng
Bắt tôi bồi hồi mỗi bận hành quân

(trích Quán – Thư Ấn Quán tái bản 2013)

*chú thích tranh vẽ:  chụp lại từ bìa tạp chí Thời Tập trước 1975. Tranh sơn  dầu của Họa sĩ Lê Tài Điển

Quà văn chương đặc biệt nhân mùa Tạ Ơn

Nhân dịp Mùa Tạ Ơn, nhà xuất bản Thư Ấn Quán in lại thi phẩm QUÁN của Trần Hoài Thư.  Sách được in bằng lọai giấy đặc biệt RISE LINE MARQUE 24 và sẽ biếu tặng với chữ ký của tác giả để làm kỷ niệm văn chương. Muốn có sách, xin  email  với địa chỉ rõ ràng  về:
tranhoaithu@yahoo.com

Trân trọng thông báo
Nhà xb Thư Ấn Quán

Bia Quan

 

Lang thang… Quán với Trần Hoài Thư

Người viết: Nguyễn Lệ Uyên

bo bon

Một thời lang thang với quán cùng bạn bè.
(từ trái qua phải) Phạm Ngọc Lư – Trần Hoài Thư –  Nguyễn Lệ Uyên – Phạm văn Nhàn (hình chụp vào khỏang 1969) tại Tuy Hòa ?

Đôi khi, ta bất chợt nghe một câu hát, lòng bỗng dậy lên chút bùi ngùi, nhớ nhung về chốn cũ xa xôi. Đôi khi, ta bất chợt đọc một câu thơ, đầu óc mụ mị bỗng nhòe nhoẹt vết lăn trên đường. Và dường như thấp thoáng đâu đó, có những phút giây ta hối hả cùng bạn trong khói sóng mông lung và, những xao xác cô đơn đến vô cùng tận, một mình bên quán nhỏ dọc đường…

Thời trai trẻ, những tình cờ đến đi như chút gió cuối mùa hiu nhẹ buổi xế trưa, thì đâu có chi lạ lùng? Nay, đã qua tuổi “tri thiên mệnh” khá xa, lại vô cớ bồi hồi vì hình ảnh ẩn dụ trong một câu thơ; những lướt thướt âm thanh trong một bài hát, đã cảm thấy chạnh lòng, huống chi lòng đang chùng xuống, mắt mênh mông một vùng khói trắng?

Có phải vậy không?

Tôi không biết. Có điều “chiều nay sương khói lên khơi” khiến lòng quặn thắt, cồn cào một chút thương nhớ vu vơ, không hiện ra hình hài rõ nét. Rồi nữa:

Mưa
Đưa ta về ngồi lại
Trong quán nghèo năm cũ,
Trống không
(…)
Thưa chị có gì sao chị khóc
Ngoài trời mưa vẫn nhỏ rưng rưng.

Nhạc điệu hiu hắt trong Thuyền Viễn Xứ ngày nào của Phạm Duy cùng mấy câu xa vời lay lắt âm thanh những giọt mưa không rơi xuống đất Khi Qua Chương Thiện của Trần Hoài Thư nghe đến nao lòng, đến hiu hắt như nửa khuya nghe khúc Dạ Cổ Hoài Lang.

Tôi đọc Quán của Trần Hoài Thư với tâm trạng bất định đó. Đọc Quán trên dặm đường dài lang thang mang theo nỗi u uất, chán nãn. Đọc đi đọc lại trong quán bên đường chờ mưa tạnh, đọc trên căn gác nhỏ nhà bạn qua đêm, đọc ven cánh rừng chỉ còn những lùm bụi thấp, lúc chờ cơm trong quán nhỏ bên đường… Và, ngay cả trong giấc mơ!

Đọc mãi rồi chợt thấy như đang theo bước chân anh ta trở về vội vã sau những chuyến hành quân. Đó là những chuyến ra đi bất toàn của tuổi trẻ. Ra đi và trở về, rồi lại ra đi. Giữa sự sống và cái chết chỉ cách nhau một đoạn ngắn, rất ngắn, trong những lần hành quân. Vội vã ra đi và vội vã trở về. Trở về để vội vã bên cốc cà phê, tìm chút hơi ấm quạnh quẽ, như thể đó là chốn bình yên. Nhân vật không hình hài kia tự đánh lừa mình, hay chính xác là tạm tách mình ra khỏi thế giới thực tại anh ta đang lăn cuồng chìm ngập để tìm chút cảm giác gần gũi trong đời sống bình thường chưa một ngày ôm trong tay một cách trọn vẹn. Có gì là ghê gớm, là cao xa với chỉ một cốc cà phê hay cô hàng nước bên bếp lửa? Cái khác hơn, điều anh ta khao khát hơn chính là chút hơi ấm, là đôi má au hồng đã bị chiến tranh giật khỏi tầm tay. Sự mất mát kia chính là nỗi cô đơn tận cùng, để phải kêu lên tha lỗi cho tôi, xin cuộc sống bình thường yên ả tha lỗi cho những xáo động mà thế hệ anh đang phái hứng chịu :

Thèm vô cùng, hơi ấm cốc cà phê
Thèm vô cùng. Cô hàng đôi má au hồng
Chụm nồi nước sôi bên bếp lửa
Tha lỗi cho tôi…

Buông một tiếng, rớt xuống, rớt dài tuổi trẻ trong nỗi hoảng loạn vô cùng mà đáng ra, tuổi trẻ không phải cam chịu những đau đớn tủi nhục đến vậy; mà đáng ra cái thế giới nhiễu nhương, loạn cuồng kia phải lên tiếng xin lỗi tuổi trẻ của anh, của chúng ta đã phung phí trong cuộc chiến tranh tương tàn, phi nhân mới phải. Giả định như, tuổi thanh xuân không phải hứng chịu, đối mặt với sự sống và cái chết trong gang tất, thì liệu chàng tuổi trẻ có kêu lên thảng thốt, rằng:

…và một niềm tủi thân cô đơn
Khi người tôi yêu sợ thành góa phụ

Có một thời, trong văn chương đều đồng loạt kêu lên: phi lý, buồn nôn, nổi loạn… và được giải thích: đó là hội chứng làm dáng của đám trí thức nửa vời là bắt chước, nhai nhá lại những J.P. Sartre, A. Camus, F. Sagan… một thứ tư tưởng bi quan không đáng làm người. Đó là những cái nhìn lỗi phạm của người lớn đã an vị, nặng tính bảo thủ, ngun ngút đạo lý phong kiến cũ kỹ, mà nếu như họ cũng bị tung ra chiến trường cầm súng và bóp cò, nhìn thấy máu đổ, nhà cháy, tan hoang xơ xác những cánh đồng chết chóc, cảnh dân nghèo bồng bế chạy loạn, họ sẽ nghĩ gì?

Chỉ có tuổi trẻ sống và cam chịu mọi tai ương mới thấu đạt nghĩa lý bi thương một cách ngọt ngào những nổi loạn đắng cay trong suốt đời trai trẻ.

Rượu quý, mời nâng lên mà nốc
Đời này tuổi trẻ mà trăm năm
Tha lỗi khi ta gào hét
Là ta điên cuồng
Muốn nổ xác thân

Quá quắt. Khó chấp nhận. Không thể tha thứ. Giới đạo đức trưởng giả đã kêu toáng lên như vậy. Rượu quý là thứ mỹ tửu, đã vậy thì phải bồ đào mỹ tửu dạ quang bôi, cớ sao lại nâng lên mà nốc? Rượu mà nốc thì có khác chi đám bụi đời, loại giang hồ tứ chiến, thứ lang bạt bất cần đời!

Thế hệ Trần Hoài Thư là vậy đấy. Họ biết rất rõ điều họ làm và trách nhiệm với nó và ngay chính bản thân; cũng bởi giản dị một điều: tuổi trẻ mà trăm năm? Đó là câu hỏi tra vấn hay tiếng kêu thầm kiến giải đời thanh xuân vì ai gây dựng cho nên nỗi này.

Không thể khác được. Cái tuổi trẻ dẫu chẳng ai muốn ngông nghênh kia cứ lăn tròn, lăn tròn theo ánh hỏa châu, tiếng đại bác cùng những đêm bụi bờ nằm kích trong màn đen dày đặc. Họ không thể nhàn hạ, không thể thong dong ngắm sao trời, nhẩn nha nhìn những giọt cà phê rơi trong đáy cốc mà lại nốc một cách hối hả.

Nốc cạn cà phê, ném tàn thuốc lá
Mau kịp khởi hành, để kịp giờ G.
… Nhà ai còn đèn, chào nhé ta đi…
… Gặp bạn giữa đường, chửi thề mấy tiếng
Pháo dội rền vang, tiếng nói mất còn…  

Nhưng chất ngông nghênh khi nốc mới chỉ là những hành vi ý thức thứ cấp, do thói quen khách quan, không thể có cách hành sử khác hơn. Nhưng một khi chiến tranh ngày càng khốc liệt thì chất ngông nghênh cũng tăng lên theo cấp số nhân.

Tội lỗi mấy đường ngã bảy ngã năm
Đái trước cửa lầu then cài kín cổng
Cột điện mấy hàng chong đèn lính khổ…

Đọc mấy câu này, tôi chợt nhớ truyện ngắn Bí Đái của Kinh Dương Vương trên tập san Văn. Một truyện ngắn độc đáo. Nhưng khi KDV cho nhân vật giải thoát được cái chất lỏng kia ra thì nó cũng chỉ là những vận hành sinh học sau một thời gian dài bị rối loạn trật tự thông thường. Còn ở đây, những anh chàng tóc dài râu ria đứng đái trước cửa cột điện mấy hàng chong đèn lính khổ rõ ràng sự đái có ý thức hẳn hoi. Tôi không nói đó là sự phản kháng tích cực hay tiêu cực của những người trong cuộc, là sự so kè về những bình an hay bất toàn, chỉ biết những người trốn trại về thành, ngực đỏ chiến thương kia chẳng khi nào có lấy một chút yên bình: thân xác đang ở phố, nhưng một phần của nó, hai tai vẫn phải dỏng lên và nghe xa xa vọng về những tràng nổ chậm. Cái lỗ tai ấy lại điều khiển não bộ, để sau đó phát ra những tín hiệu: chiến tranh còn dài hãy cố ăn chơi. Cái ngạo mạn, khinh bạc ấy có vẻ như thứ vũ khí tự vệ cuối cùng cho các chàng tuổi trẻ?

Nhưng anh đạo đức và đầu cơ chiến tranh lại lên tiếng “ăn chơi kiểu chi mà lọa rứa?”. Không “lọa” sao được khi những người rừng luôn phải di chuyển, luôn bị những mối nguy nan rình rập. Những lần ăn chơi chỉ là những phút giây hy hữu, ít ỏi. Và mỗi lần tạm buông cây súng là mỗi lần những anh chàng lính khổ lại được dịp và hối hả khám phá mọi điều mới mẻ mà không lạ ở chốn khói bom chưa bén tới. Có thể, với người khác, da trắng mắt xanh chỉ là mắt trắng da xanh tầm thường, nhưng những con người tóc dài râu ria vừa từ nơi lửa đạn trở về dẫu mắt cô nàng có hơi chột, da cô nàng có hơi đen nhẻm, xám ngắt thì vẫn tỏa ra những nét đẹp dịu dàng, bởi đơn giản các anh chàng chưa hề nắm giữ ôm ấp nó trong vòng tay, bởi lính nhiều hơn dân:

Đôi mắt em xanh màu dừa xanh
..Ơi người Tam Quan, da em quá trắng…
…Quận lị tiêu điều lính nhiều hơn dân

Đó chỉ mới là cái nhìn trong những ngày gieo neo khốn khó, nhưng khi ở xứ người, một nơi chốn bình an thì ông cũng bật rung lên cùng một giọng điệu, cung bậc của kẻ luôn lạc loài, người xa lạ:

Ghé lại Dunki gọi cốc cà phê
Cô hàng mắt xanh nhìn ra ngoài cửa sổ

Màu mắt xanh kia có gì là khác nhau và da em quá trắng, có chi là mẫu số chung cho những ngắm nhìn trong thoáng chốc, ẩn chứa trong những câu thơ mới thoạt nghe như khẩu ngữ. Khẩu ngữ mà bàng bạc chất thơ, quay quắt trong tâm thức của cô đơn, lạc lõng, khổ đau bất tận…

Nhấp theo từng hớp nhỏ héo hon
Của một người thua trận lưu vong…

Cứ một giọng điệu như vậy, Trần Hoài Thư thả mặc tâm trí trôi đi, giữa hiện tại là quá khứ và trong chốn quá khứ mịt mù khói sương kia là một hiện tại phi hiện tại, là một cuộc sống của mộng, tưởng, có không. Lúc ở Chinatown thì tưởng rằng Chợ Lớn, ngồi ở Ikea mộng về hai ngả, những Cần Thơ, Chương Thiện, Pleiku… trong những ngày rong ruổi biên khu… và đôi khi là những phút dừng chân ngắn ngủi.

Hỏi em, em xa xứ
Hỏi anh, anh xa nhà
Mời em vào quán vắng
Uống thêm màu mây xa…

Tính nhất quán trong Quán của Trần Hoài Thư chính là nỗi cô đơn, mất mát. Ở quê nhà trong thời kỳ đỏ lửa ông là kẻ cô đơn trong một thế hệ cô đơn. Rồi khi tạm trú xứ người, nỗi cô đơn càng bùng vỡ mạnh mẽ hơn, mất mát lớn hơn.

Em nơi nào, ở nơi nào nhỉ
Trời đã giêng rồi, em biết không
Tôi qua Nữu Ước ngày không độ
Gọi cốc cà phê, lạnh nỗi lòng
Lạnh thêm nỗi nhớ trùng trùng
Tìm đâu hương cũ giữa dòng viễn khơi.

31 bài thơ trong Quán, chính là quán đời của Trần Hoài Thư, chính là nỗi cô đơn của ông, là những mất mát năm tháng.

Quán là Trần Hoài Thư.

Trần Hoài Thư là Quán trong suốt hành trình tìm kiếm những bất toàn cho riêng mình.

Nguyễn Lệ Uyên
(Lập Đông Quí  Sửu 2009)
Trích Trang sách và những giấc mơ bay – tập I (Thư Ấn Quán, 2010)
Nguồn: Tác giả gửi

Quán, Trần Hoài Thư – Thư Ấn Quán xb – Hoa Kỳ 2008


Tiểu sử Trần Hoài Thư

Sinh năm 1942 tại Đà Lạt, Giáo sư trung học Trần Cao Vân, Tam Kỳ. SQ chỉ huy đơn vị thám kích SĐ 22/BB, phóng viên chiến trường tại Quân Đoàn 4. Tù cải tạo 4 năm. Vượt biển định cư tại Hoa Kỳ năm 1980.

Thơ truyện xuất hiện đều đặn trên các tạp chí Bách Khoa, Văn, Vấn Đề, Văn Học, Ý Thức, Thời Tập…

Trần Hoài Thư có bút lực rất mạnh mẽ. Trước 75 đã xuất bản 4 tập truyện. Sau 75 có 12 tập truyện và 5 tập thơ xuất bản. Hiện chủ trương tạp chí Thư quán bản thảo và nhà xuất bản Thư Ấn quán tại Hoa kỳ.

(Nguồn: Sangtao.org)