Hành trình thi ca Bích Khê (3 bis):

Lưu ý:
Bài 3 (posted hôm qua)   chỉ là một bài tiểu luận  + tản mạn mà Bích Khê viết lúc 18 tuổi.  Chúng tôi  đã phạm nhiều lỗi chánh tả khi đánh máy. nên chưa phổ biến ra công cộng.
Mặt khác, Mắt dạo này quá yếu, nên đánh máy lõi nhiều.
Vui  thôi mà.

__________

Năm 1937….

Tiểu sử của Bích Khê   cho biết là vào năm 1937, ông bi  bệnh phổi:

“Năm 1937 Bích Khê bị bệnh phổi, sau khi điều trị trở về, lên sống trên núi Thiên Ấn thuộc Quảng Ngãi, tiếp tục sáng tác, rồi lại xuống biển, và lang thang trên một chiếc thuyền quanh các ngã Sa Kỳ – Trà Khúc. Năm 1938, lại cùng chị vào Phan Thiết mở trường dạy học, được vài năm bị thực dân Pháp đóng cửa.”
(nguồn: Internet)

Vậy thì năm 1937 là năm có một dấu ấn rất  đậm.  Ít ra nó cũng là năm mang vào tâm hôn nhà thơ một cú “xốc”,  do từ những con vi trùng Kock.
Nó cũng là năm khởi đầu cho một sự thay đổi  toàn diện của hành trình thi ca của Bích Khê.
Nó là cái mốc  ranh giới giữa cũ và mới..
Qua 4 tác phẩm  của ông để lại cho đời, một được xuất bản vào năm 1939 là Tinh Huyết, còn lại nằm trong dặng bản thảo, chúng ta thấy có một thi phẩm mang tên là  “Dòng thơ cũ” (1931-1936)”.

.Điêì này chứng tỏ  chính năm 1937 là một ải thi cho hai bờ cõi thi ca. Một là bên này và một là bên kia. Bên kia là đạo. Bên này là đời. Bên kia là mộng. Bên này là thực. Bên kia là phần trên, và bên này là phần dưới. Không liên hệ. Không gắn bó.

Tại sao lại là năm 1937 ? đó là năm ông  đóng của một mình trên núi Thiên Ấn. Có thể ông  “ngộ” ra về  những hạt trân châu long lanh của thi ca. Có thể ông là một người lính  trong một đội ngũ của giòng thơ mới gồm Xuân Diệu, Chế Lan Viên, Hàn Mặc Tử, Huy Cận, Lưu Trọng Lư, Thâm Tâm… Hay có thể ông bị chìm ngập trong ảo ảnh của những đám mây lạ khi ông  ở  núi.
Vậng, núi thì cao. Mà cao  mây thì thấp, và sương thì dày. Mông mênh, nhẹ , mỏng. TRời hoàng hôn thì đẹp lắm. Có thể ở núi ông thấy một tấm thảm vàng bát ngát khi mặt trời hoàng hôn tắm cả một vùng bình nguyên dưới thấp mà  làm bài Hoàng Hoa chăng…

Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy;
Chim yên neo mình ôm xương cây.
Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:
Đông nam mây đùn nơi thành xa…

Tôi không biết  tôi nghĩ có đúng không . Nhưng tôi biết một điều là chính tôi đã từng trải qua những giây phút ngất ngây khi ở  trên những ngọn núi, ngọn đồi của Bình Định hay cao nguyên…

 

 

 

 

 

Hành trình thi ca của Bích Khê (2)

 

Ngay sau khi  Lê Tràng Kiều  đăng bài giời thiệu về thơ Bích Khê (Lê Mộng Thu)  trên Tiểu Thuyết thứ Năm  số 30 (11-4-1939) :
…Mới đây, các bạn đã được say sưa nghe tiếng Tỳ bà thần ảo. Hãy im, nay tác giả Tỳ bà sẽ cho ta nghe hai khúc ca nữa. Khúc Hoàng hoa và khúc Nghê thường…”

thì Lê Ta (một bút hiệu của THế Lữ)   dùng những lời lẽ nặng nề, một mặt công kích Lê Tràng Kiều, một mặt hạ giá  những bài thơ mà Lê Tràng Kiều giới thiệu,   kết tôi là bắt chước thơ Xuân Diệu :

( Lê Ta, Tin văn vắn, Ngày nay số 162, 20 tháng 5, 1939)

Giận cá chém thớt ?

Xin nhớ là bài chửi của Lê Ta  chỉ xuất hiện vào ngày 20/5/1939, sau khi Tiểu Thuyết Thứ Năm có bài giới thiệu của Lê Tràng Kiều.  Lý do lLê Ta cho là thơ Lê Mông Thu bắt chước Xuân Diệu chỉ dùng vần Bằng.
Tuy nhiên, trước đó, Tiểu Thuyết Thứ Năm đăng bài Tỳ Bà cũng toan âm bằng, thì Lê Ta không hề   dả động !
Hay là ông  “giận cá chém thớt” ? vì không thích Lê Tràng Kiều nên những gì mà Lê Tràng Kiều cho là thơm, thì đối với Thế Lữ đều là hôi cả !

Ôi, thời nào cũng vậy.

 

 

 

Hành trình thi ca của Bích Khê (1)

Người viết:  Trần Hoài Thư

Nhà thơ Bích Khê sinh năm  1916 mất năm 1946, tên thật là Lê Quang Lương. Ngoài bút hiệu Bích Khê, ông còn ký bút hiệu Lê Mộng Thu.

Hầu hết những trang mạng khi  đề cập đến bút danh Lê Mộng Thu, đều viết bút hiệu này chỉ dành khi nhà thơ sáng tác thơ Đường Luật ( tiêu biểu là WIKIPEDIA).

Thật sự là không phải vậy. Bài  “Hoàng Hoa ” (đăng trên Tiểu thuyết thứ Năm, ký Lê Mộng Thu) là một  chứng dụ điển hình:

……

Lam nhung ô! màu lưng chừng trời;
Xanh nhung ô! Màu phơi nơi nơi.
Vàng phai nằm im ôm non gầy;
Chim yên neo mình ôm xương cây.
Đây mùa Hoàng hoa, mùa Hoàng hoa:
Đông nam mây đùn nơi thành xa…

Trái lâi, bút hiêu Bích Khê  có khi được dùng cho thể thơ Đường Luật.

Xin đơn cử hai bài thơ Đường Luật ký Bích Khê, được  đăng trên báo Sài Gòn ngày 1 tháng tư, 1934, lúc ông 17 tuổi:

 

hay bài thơ họa “tiễn chị Ngọc Sương”  đăng trên  báo Saigon  số 227 ngày 4-2-1934.  Ngọc Sương là chị ruột của Bích Khê cũng là một thi sĩ:

 

Hay là loại thơ đường   vịnh công ơn của tổ tiên trong việc chống đuổi ngoại xâm, bảo vễ bờ cõi:


(bao`Sài Gòn số 199 ngày 31-12-1933)

Mục đíc h của việc trích dẫn một số bài thơ Đường luật (có chứng liệu đàng hoàng)  này là :

1/  nói rõ về sự sai lầm của những  blogger kể cả Wikepedia mà từ trước đến nay chưa có ai lên tiếng.
2/  Muốn chứng minh về  một thời kỳ mà thi tài Bích Khê  bừng rộ  chói sáng như hào quang.  Thời kỳ ấy là thời kỳ  sau khi  những con vi trùng lao bắt đầu tấn công.
Mà cái mốc là năm 1937.

 

 


Văn số 64 (15-8-1966) chủ đề nhà thơ Bích Khê

Bạn thấy tôi miệt mài cuộc chơi. Miệt mài cùng chữ nghĩa. Miệt mài cùng trí tuệ. Tôi sợ như Y. một ngày, chắc thì quá buồn cho cài blog này.
Đừng nghĩ là tôi cần nhiều người đọc. Tôi đã bị mấy cái mỹ từ phù phiếm ấy dụ dỗ lừa gạt rồi. Tôi lảm cho tôi, trước hết.
Đêm qua, khi từ nursing home bước ra ngoài bãi đậu xe, tôi lại thấy một vì sao lạ ấy. Lạ bởi vỉ nó một mình côi cút. Nó nằm về hướng Nam. Và bị hơi sương làm ánh sáng nhập nhòa. Tôi đã đứng yên trong cõi đêm. Hôm qua, và bây giờ, đúng 50 năm cho khoảng cách thời gian, có gì thay đổi không ?. Thay đổi lắm chứ. Từ một thanh niên bây giờ là lão già. Từ một ngọn đồi Bánh Ít ở Bình Định và giờ là một viện dưỡng lão – mái trọ cuối đời của một kiếp người- thì dĩ nhiên là thay đổi. Ngày xưa thèm lăm : Chao ơi nồi bánh đêm trừ tịch, để rồi giấc mơ sẽ không bao giờ có, thì bây giờ lại muốn tảy trần tất cả… Nhưng có một cai chung cho hôm qua và bây giờ, Đó là văn chương. Đó là nỗi xúc động bật òa trong tâm hồn tôi, đễ mỗi ngày tôi vẫn làm thơ viết văn, mỗi ngày tôi sống và suy nghĩ và viết. Như cách đây 50 năm đúng. Cho dù, con quái vật hung hiểm của chiến tranh ngày xưa cũng như của tuổi già bây giờ không tha bất cứ một ai.

Tự thưởng

 

Thời trẻ tuổi:

Cô hàng chợ Huyện mơ gì nhỉ
Mà sao im lặng như tương tư
Tôi biết đêm rồi không chó sủa
Và tôi cũng dệt những  cơn mơ…

Tôi thưởng cho tôi từng hớp một
Cốc sành ấm lắm, sớm  tinh sương
Tôi thưởng cho tôi,   trời sắp mọc
Tôi thêm một ngày  sống sót bình an

Bây giờ…

Giờ đây  thằng trẻ nay già lão
Tôimang con  đến quán một mình
Không  cô hàng,  không ly xí nại
NHƯNG VẪN CÒN  TRANG CHỮ HỒI SINH…

Bạn đến thăm khi chiều sắp tắt

Chiều sắp lặn  rồi sao  bạn  không chịu  về rừng
Lại  đến vườn nhà ta  gặm cỏ  ?
Hôm nay là ngày đầu thu, cỏ  thì xác xơ  không còn xanh nụ
Lá cũng nhuốm vàng hết   màu lục diệp xanh tươi
Có gì để mà thưởng thức  hỡi bạn  tôi ?
Hay  là   bạn  đến để  chia  mừng  cùng ta ngày sinh  thằng con  lên 18   ??

Đấy con ta  hôm nay đã tròn trịa lắm
300 trang wow,   xinh xắn lắm, như mơ !

Bạn nghe gì không, tôi vừa   submit   một lần cả ba máy in
Đấy, tiếng  trompette kèn đồng
cất lên cùng   những trang  mực còn  toner nóng hổi
Máy ơi máy ơi,  gắng đừng chớp đỏ
Gắng đừng  nằm vạ đình công
Để ta còn  dịp để khoe  với bạn  lòng
R8àng ta có thêm một đứa con  được ra đời  mang tên 86….

flipbook Văn số 153 : trong nỗi buồn vàng..

Thư Quán Bản Thảo số 86   tháng 10-2019 saắp đến  sẽ  có chủ đề: Trần Phong Giao và những người viết trẻ.
Để quí bạn hình dung ra  đội ngũ  này và tại sao Văn lại thường xuyên thực  hiện tuyển tập thơ văn của những người viết trẻ, chúng tôi  upload Flipbook   Văn số 153  ngày 1-5-1970,  với chủ đề mang tên  bài thơ của nhà thơ Hạc Thành Hoa  có mặt trong tuyển tập.
Xin  vui lòng click để đọc toàn bộ nội dung:

TRONG NỖI BUỒN VÀNG – VĂN  số 153 – Tuyển tập những người viết trẻ

Nhận định văn học 101

TRong thời gian qua, tôi  chủ tâm tìm đọc những bài nhận định về văn học miền Nam trong thời chiến.  Càng đọc càng thấy lòng bất ổn. Hình như những người  trong lảnh vực lý luận phê bình  ở trong nước mà tôi được đọc đều có một cái nhìn rập khuôn, nếu không nói là theo đuôi, hay có cái nhìn “lé”  xem nền văn học miền Nam là nền văn học đô thị.  Ngay cả những người viết sau này. Họ thích rà con chuột hơn là chịu nghiền ngẩm vào thư viện lục chồng sách báo cũ.

Tại sao là đô thị? Tại sao không phải là  ngoài vòng đai? Tại sao không phải là  toà soạn lưu động theo chân người viết ? Tại sao không phải là những quán bên đường,  đủ chỗ cho một baì viết gởi về SG? Tại sao không phải  là An Lộc, Bình Long, là Quảng Trị, là Chu Pao, Dakto, Tân Cảnh? Tại sao cứ lấy cái nhóm Sáng Tạo từ năm 1956-1961 để chụp cho cái chiều dài văn lộc đầy những cây số chi chít lỗ đạn? Tại sao không chịu đọc một số báo Văn vào những năm chiến tranh ác liệt nhất, để xem sức nóng của bom napalm và hỏa tiển 122 ly ảnh hưởng thế nào cùng với hơi nóng của thơ văn? Chứ  cứ nhấp con chuột, google search trên mạng, hay vớ phải một hai cuốn sách, rồi thêu dệt, phóng bút, liệt kê theo kiểu English 101, thì học sinh trung học nào   cũng có thể làm được….

Tại sao là Sáng Tạo, Hiện Đại, Nghệ Thuật lại chết, mặc dù  được tài trợ dồi dào ?
Tại Sao Văn lại vững, lại sống?
Tại sao Khởi Hành lại sống  ?

Mời bạn đọc một doạn trong nhật ký được đăng trên tạp chí Văn Học số  42 tháng  7-1965 dưới nhan đề: Những bức thư gởi về hậu phương của một người lính (trang 100- 108)

Đọc Văn học số 42

Ngày 17 tháng 8.

Trưa qua tụi Cộng kéo về một tiểu đoàn đóng ở đầu ấp gần rừng. Nhưng chúng không tấn công, chỉ bắn sơ sơ rồi thôi. Và bây giờ bọn anh cũng chịu không biết chúng còn ở đó hay đã đi. Chỉ biết chúng đã bắt được anh chàng thư ký của Đại diện xã. Chắc anh chàng tội nghiệp này bị chém băng đầu rồi. Chiến tranh này tàn nhẫn kinh hồn. Bây giờ địch kể như đã kiểm soát hoàn toàn quãng giữa đồn anh và thị trấn, lính xanh leo cả mắt, không dám nhẩy dù về tỉnh như dạo trước nữa. Không biết tụỉ chúng đe dọa ra sao mà không ai dám nhận mua hộ báo hay bỏ hộ thư nữa – thư này chưa biết ngày nào mới đến tay em. Anh vẫn tiếp tục ho nhưng sức khỏe bình thường, uống cà-phê và hút thuốc vẫn thấy ngon. Như vậy vẫn còn nhiều thú vị.

Trung đội phó vừa bước vào lều cho biết có tiếng chó bắt đầu sủa dữ dội. Anh nhìn qua khe vách, trời tối đen vì vẫn chưa  có trăng. Đại đội trưởng đã cho lệnh tắt hết đèn nhưng anh vẫn muốn viết thật nhiều cho em bởi vì không hiểu sao hôm nay, từ lúc đánh mất chiếc khăn quàng xé ở vạt áo dài của em trong lúc rút quân vào đồn, anh thấy nhớ em kỳ lạ. Nhớ theo một thứ  tình cảm buồn buồn. Bây giờ  anh hiểu nỗi buồn của em ngày ấy khi em đánh mất chiếc nhẩn đính hôn anh đeo vào ngón tay em một ngày đã lâu. Đại đội trưởng vừa cho lệnh báo động và đang gọi anh khe khẻ ngoài cửa lều phía sau lưng. Anh hôn em thật nhiều trước khi gấp tờ thư vào túi áo để xách súng ra ngoài. Trời vẫn tối đen. Đêm nay có trăng nhưng là trăng lên muộn. Hôn em một lần nữa.

.Đến đây nhật ký chấm dứt, bằng một ai tín đăng trên báo: “chúng tôi đau đớn báo tin cùng thân bằng quyến thuộc biết: Chuẩn Úy Trần Đăng Kim  đã hi sinh vì tổ quốc ngày 17 tháng 8 năm 1964 tại Bình Chánh. Bà quả phụ Trần Đăng Kim và con”

Vậy văn học thời chiến là văn học gì ?

_

 

(Văn học số  42)

 

 

 

Khỏi cần….

Khỏi cần chuông nhà thờ rung vang  chúc phúc
Chỉ cần một  hớp cà phê
Và đôi má đỏ hồng au của cô hàng cà phê  chợ Huyện
bên bếp lửa buổi sáng sớm tinh sương
là chao ơi, ta thấy cả thiên đàng !

Khỏi cần khoe nhạc hòa tấu, nhạc thính phòng, mozart, chopin,,,
Chỉ cần một tiếng  gáy đầu tiên  của một chú ca sĩ gà  cất lên ở đầu thôn
và sau đó rộn ràng cả ngàn ngàn ca sĩ khác  ở đầu làng cuối xóm
để  đôi chân ta luống cuống
Lòng ta hân hoan
Cám ơn Thượng Đế  đạo diễn
Bản hợp tấu về sự bình an
dành riêng cho những đứa con vào sinh ra tử

Khỏi cần trống kèn piano hay violin
Với  bốn sợi  dây thép điện thoại làm dây
Với ván hòm làm mặt
Để người   tù binh run cung bậc
nhắm nghiền bấm tê  trên những nốt nhạc không lời
Để bát nước nhãn lồng
Và bình thuốc lào
chuyền nhau
làm ấm thêm  tình  anh em khổ nạn  !

Qui nhơn. ngày về – truyện viết sau 1975 của THT

Đôi lần cũng thèm trở thành một tên du thủ. Áo pull giày rách và ra đi. Đi đâu cũng không cần biết nữa. Ghé một thành phố nhỏ thăm bạn bè, cơm áo cơ hàn rồi lại lên đường. Góc nhỏ có cô hàng cà phê, buổi sáng đốt thuốc, và ấm lòng mùi cà phê nguyên chất. Và nụ cười của em, cái liếc mắt tinh nghịch của em, cũng đủ làm say nồng thằng đàn ông tứ chiếng. Và biết rằng, cuối đường, áo trắng của em ẩn hiện, và xa xôi, sương phủ mờ mái lầu ngã Sáu, nghe vọng lại tiếng chuông nhà thờ gần mé biển. Nghe như xào xạc từng chiếc lá, nghe như tiếng gió cũng cuống quít sợi tóc mai, nghe như bờ vú còn phập phồng sau màn vải mỏng. Nghe như câu thơ của Hoàng Gỗ Quí còn mê đắm… trần gian: Em đi dáng mỏng như là gió. Phơi tuổi vàng ta trên ngọn cây.

Continue reading “Qui nhơn. ngày về – truyện viết sau 1975 của THT”