Cuộc đời thổ tả may mà có em…

Tản mạn này được viết sau lần thứ 4 đến Cancer Care Center. Nằm suốt 6 tiếng vói 5 bịt thuốc + 1 bịt nước biến được chuyền vào,,,,It’s OK.
1.
Một lão già với cuộc dời thổ tả, da sẹo miễng lựu dạn chày sần sụi trên lớp đùi non, và ngực rách toạt bởi những ngày tàn khốc của chiến tranh. Một lão già đang ngoi ngóp đầu giữa biển xế như ngày nào ngoi ngóp khi hụt chân vào hố bom trong đêm đột kích, Ngoi ngóp mà vẫn ương ngạnh. Ngón tay nay, cắp mắt này. Ta thấy lòng đau ta ngữa tay. Những ngón tay cứ gõ mõ hoài, mà tiếng gõ như hồn ai chuông gọi. Một chữ đánh lên trật xuống xuống. Vô phương để cục máu đắp ụ tan đii để triều chữ dâng tràn, Vậy mà cứ gõ.Vậy mà mắt cứ trừng. Không thấy thì Zoom in 200 %.
Ngày xưa, ngoi ngóp trong biển lụt của những cánh đồng Háo Lễ, An Cữu, Tân Dân, Nho Lâm… Bây giờ ngoi ngóp trong biển của cuộc đời xế bóng. Ngày thanh niên lặn lội trong biển đen. Thì bây giờ trong biển tối. Thấy bạn toe tét cười, má hồng hào như hồi xuân, thấy bạn lưng không còm, chân đứng thẳng mà mừng. Bạn là người may mắn trong lúc đời tôi sắp phế thải.Chân tôi vẫn bước, dù rất chậm, tay vẫn cầm, dù rất mong manh, mắt vẫn trông, dù hình sương bóng khói. Nước đã tràn bờ, nghe chừng tiếnggọi đò thất thanh đâu đây xé vọng.
Nhưng không sao, mặc dù hôm qua ta là người cuối cùng trong phòng Cancer Care Center ở Iselin NJ này. Ai cũng ra về. Còn ta thì nhìn hoài bịt thuốc. Hạt mưa trên lá bây giờ là hạt mưa cứu rỗi chuyền vào cánh tay ta.
Sau đó cô tiếp tân gọi UBER mang ta về nhà đúng 3 giờ chiều. Cảm thấy đói. Làm một tô cơm với canh lạnh. Cảm thấy ngon. Như vậy xem chứng sự diều trị có vẽ “work”. Chẳng bù ngày đầu, cũng một cách, và chừng ấy bịt thuốc, đã hành ta đến ngất ngư tơi tả.
Nhận một lá thư của người độc giả viết về Thơ Tình Tuổi 80:
Đ𝒊 𝒍𝒂̀𝒎 𝒗𝒆̂̀ . 𝒕𝒉𝒂̂́𝒚 “𝒒𝒖𝒂̀” 𝒂𝒏𝒉 𝒈𝒐̛̉𝒊 𝒄𝒉𝒐. 𝒎𝒖̛̀𝒏𝒈 𝒒𝒖𝒂́, đ𝒐̣𝒄 𝒗𝒐̣̂𝒊 𝒎𝒂̂́𝒚 𝒃𝒂̀𝒊 𝒕𝒉𝒐̛ 𝒕𝒓𝒐𝒏𝒈 ” 𝒕𝒉𝒐̛ 𝒕𝒊̀𝒏𝒉 𝒕𝒖𝒐̂̉𝒊 𝒕𝒂́𝒎 𝒎𝒖̛𝒐̛𝒊 ” 𝒄𝒂̉𝒎 đ𝒐̣̂𝒏𝒈:
𝑪𝒖𝒐̂́𝒊 𝒄𝒖̀𝒏𝒈 𝒕𝒐̂𝒊 đ𝒂̃ đ𝒆̂́𝒏 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒎𝒊̀𝒏𝒉…
𝒎𝒂𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒖̛́𝒄 𝒂̆𝒏 𝒕𝒐̂𝒊 𝒏𝒂̂́𝒖 𝒄𝒉𝒐 𝒎𝒊̀𝒏𝒉
đ𝒖́𝒕 𝒗𝒂̉𝒐 𝒎𝒊𝒆̣̂𝒏𝒈 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒖̛́𝒄 𝒂̆𝒏 𝒕𝒐̂𝒊 𝒏𝒂̂́𝒖
𝑴𝒊̀𝒏𝒉 𝒉𝒂́ 𝒎𝒊𝒆̣̂𝒏𝒈 – 𝑻𝒐̂𝒊 𝒄𝒖̃𝒏𝒈 𝒉𝒂́ 𝒎𝒊𝒆̣̂𝒏𝒈 𝒕𝒉𝒆𝒐 !
Quả thật, quá càm động !!!
Rán 𝒂̆𝒏 𝒏𝒈𝒉𝒆 𝑩𝒂̀
Đ𝒆̂̉ 𝒕𝒐̂𝒊 𝒓𝒐̂́𝒕 𝒄𝒉𝒐 𝑩𝒂̀ 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒄𝒐̂́𝒄 𝒏𝒖̛𝒐̛́𝒄
Đ𝒆̂̉ 𝒕𝒐̂𝒊 𝒍𝒂̂́𝒚 𝒌𝒆́𝒐 𝒄𝒂̆́𝒕 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒄𝒐̣𝒏𝒈 𝒃𝒖́𝒏 𝒅𝒂̀𝒊

𝑩𝒂̀ 𝒃𝒊𝒆̂́𝒕 𝒍𝒂̀ 𝒕𝒐̂𝒊 𝒕𝒉𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝒃𝒂̀ 𝒃𝒊𝒆̂́𝒕 𝒃𝒂𝒐 𝒏𝒉𝒊𝒆̂𝒖 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 ?

A̲n̲h̲ ̲T̲H̲T̲ :

𝗖ó 𝗻𝗴ườ𝗶 𝗻à𝗼 đã 𝗸ế𝘁 𝗵ô𝗻, đã 𝘀ố𝗻𝗴 𝘃ớ𝗶 𝗻𝗵𝗮𝘂 𝗹ạ𝗶 𝗸𝗵ô𝗻𝗴 𝗺ơ 𝗻𝗵ư 𝘁𝗵ế ? !!!

𝑷𝑮𝑯

2.

MA NỮ

Cruise mang người ra biền xanh lơ, ăn uống thả dàn, muốn tạo cho người đi là lạc vào thiên đàng hạ giới giúp họ quên đi những phiền lụy của cuộc sống.

Ai lại không ham.
Nhưng tôi thì chỉ biết mơ. .
Giấc mơ không bao giờ có thực khi đi đâu cũng dùng walker, và những bệnh nan y mang trong mình. Thêm một người thân yêu nằm trong nhà dưỡng lão. Sao mà bỏ đi được.

Để mấy nàng ma nữ thành Đồ Bàn lúc đại đội 405 thám kích lất đồi tháp Bánh Ít là mái nhà hậu cứ của mình, đông long mạch thành Chiêm mà trả thù.

Có khi đơn vị trở về chỉ còn một nửa quân số, tả tơi tơi tả.

Và hơn nửa thế kỹ sau, lại tim đến tên cựu trung đội tham kích vì hắn đảlàm ô uê tháp Chiêm, để trả thù:

Người ta coi tháp linh thiêng
Mang hoa mang quả hương đèn cúng kiêng
Còn ta bát kể thần linh
Mang poncho ngủ trên nền tỉnh bơ
Có khi nằm ngủ mộc mơ
Thấy ma bóp cổ đè mà giao hoan
Bâ𝑦 𝑔𝑖𝑜̛̀ 𝑚𝑎̂́𝑦 𝑐ℎ𝑢̣𝑐 𝑛𝑎̆𝑚 𝑠𝑎𝑢
Vẫn còn ma 𝑛𝑢̛̃ đoài ta ra tòa
H𝑎𝑖 𝑡𝑎𝑦 ma 𝑏𝑜́𝑝 𝑐𝑜̂̉ già
𝑇𝑎 𝑢́ 𝑜̛́ 𝑡𝑎 𝑙𝑎 𝑙𝑎̀𝑛𝑔 ℎ𝑒𝑙𝑝 𝑚𝑒 !
𝑅𝑜̂̀𝑖 𝑡ℎ𝑖̀ 𝑛𝑎̀𝑛𝑔 𝑛ℎư ℎ𝑜̂̀ 𝑙𝑖
𝑉𝑎̀𝑛ℎ 𝑛𝑔𝑜𝑎̀𝑖 𝑏𝑎̉𝑦 𝑐ℎ𝑢̛̉ 𝑣𝑎̀𝑛𝑔 𝑡𝑟𝑜𝑛𝑔 𝑡𝑎́𝑚 𝑛𝑔ℎ𝑒̂̀
𝑇𝑎 ú ớ ta 𝑣𝑎̂̃𝑦 𝑣𝑢̀𝑛𝑔
𝑇ℎ𝑜𝑎́𝑡 𝑟𝑎 𝑛ℎ𝑎̀𝑜 𝑥𝑢𝑜̂́𝑛𝑔 𝑐ℎ𝑖𝑒̂́𝑐 ℎ𝑎̂̀𝑚 𝑐𝑎́ 𝑛ℎ𝑎̂𝑛
𝐻𝑎̂̀𝑚 đ𝑎̂𝑢 𝑐ℎ𝑖̉ 𝑐𝑜́ 𝑡ℎ𝑒́𝑝 𝑔𝑎𝑛𝑔
𝐾𝑛𝑜𝑐𝑘𝑜𝑢𝑡 𝑐𝑜𝑛 𝑚𝑎̆́𝑡 𝑔𝑖𝑎̀ 𝑐𝑜̀𝑛 𝑡𝑟𝑎̆𝑛𝑔 ℎ𝑜𝑎
3.
NỬA ĐÊM BÒ HỎA LỰC
Nửa đêm tôi bị té nhào trên nền khi vấp phải bàn máy cắt. Tôi khỗng thể ngồi dậy để tìm một chỗ vịn. Lại không có thân nhân. Đã quen quá quen một cảnh sống trơ trọi, tự mình giải quyết những việc của mình. Tôi nằm trên nền. Thử co dôi chân, nhưng không thể co được. Cái bàn cái ghế ở sát bên mà tay tôi không với lên.
Nhưng tôi không dành nước mắt cho những chuyện này, Nước mắt tôi dành cho em. Cái rũi ro này không phải là một bất hạnh. Chỉ có em. Suốt 10 năm, em không ngồi dậy, liệt tay liết chân thì té làm gì. Còn tôi thì may mắn.
Bởi tôi vẫn còn trí tuệ, vẫn còn bộ não,
Trí tuệ và bộ nào ấy em đã bị thất lạc. Em không nghe tôi thầm thì bên tai em: Y, ơi, tôi thương em lắm. Em có thương tôi thì hãy nhìn tôi, đừng nhìn một cõi nào khác.
Chính vì tri tuệ dã nhắc tôi nhớ lại bài học bò hỏa lực trong quân trường Thử Đức xa xưa: Bò ngữa. Bò sấp khi đạn réo trên đầu.
Tôi cũng bò đây. Hai chân dù yếu nhưng củng đẩy được cà mông tôi di chuyển.
Tôi lê tới bàn làm việc. Đêm tôi sẽ dành tát cả thì giờ cho Mai Thảo. Vì TQBT sắp ra một giai phẩm mang chủ đề về ông.
Nhà văn Mai Thảo đã chết từ lâu.
Nhưng ông không phải để lại chúng tôi những bó hương đèn để tưởng niệm khi đốt lên mà để lại cả một hàng hàng lớp những trang viết, trang sách, trang truyện, trang tùy bút để chúng tôi cứ nghĩ răng ông vẫn còn sống..Thanh nhả, im lặng, dịu dàng, hiền lành, cao sang, thơm lừng trên từng giòng từng chữ….
“𝑽𝒂̀ 𝒕𝒐̂𝒊 𝒍𝒂̣𝒊 𝒏𝒉𝒊̀𝒏 𝒕𝒉𝒂̂́𝒚 𝒉𝒐̣, 𝑻𝒉𝒂̂́𝒚 𝑯. đ𝒊 𝒗𝒆̂̀ 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒃𝒐́𝒏𝒈 𝒏𝒖́𝒊, 𝑻𝒉𝒂̂́𝒚 𝑻. 𝒏𝒈𝒐̂̀𝒊 𝒍𝒂̣𝒊 𝒅𝒖̛𝒐̛́𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒈𝒂̂̀𝒎 𝒄𝒂̂̀𝒖. 𝑽𝒂̀ 𝒍𝒖̛̉𝒂. 𝑽𝒐̛́𝒊 𝒕𝒐̂𝒊, 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒂̉𝒊 𝒃𝒐̛̉𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒎𝒐̂̃𝒊 𝒕𝒊̀𝒏𝒉 đ𝒂̂̀𝒖 đ𝒐̛̀𝒊 𝒕𝒂𝒏 𝒗𝒐̛̃ 𝒏𝒂̀𝒐, 𝒗𝒂̀ 𝒄𝒖̃𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒐̂𝒏𝒈 𝒃𝒐̛̉𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒎𝒐̣̂𝒏𝒈 𝒕𝒖̛𝒐̛̉𝒏𝒈 𝒗𝒂̀𝒐 đ𝒐̛̀𝒊 𝒕𝒂̀𝒏 𝒉𝒖̃𝒚 𝒏𝒂̀𝒐, 𝒎𝒂̀ 𝒄𝒉𝒊́𝒏𝒉 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒌𝒉𝒖𝒐̂𝒏 𝒎𝒂̣̆𝒕 𝒃𝒂̆̀𝒏𝒈 𝒉𝒖̛̃𝒖 𝒏𝒊𝒆̂𝒏 𝒕𝒉𝒊𝒆̂́𝒖 𝒃𝒂̂𝒚 𝒈𝒊𝒐̛̀ 𝒄𝒉𝒂̣̂𝒑 𝒄𝒉𝒐̛̀𝒏 𝒗𝒂̀ 𝒙𝒂 𝒍𝒂̉𝒏𝒈 𝒐̛̉ 𝒑𝒉𝒊́𝒂 𝒃𝒆̂𝒏 𝒌𝒊𝒂 𝒎𝒂̀𝒏 𝒍𝒖̛̉𝒂, 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒈𝒊𝒐̛́𝒊 𝒕𝒖𝒚𝒆̂́𝒏 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒄𝒂́𝒏𝒉 𝒓𝒖̛̀𝒏𝒈 đ𝒐̂́𝒕 𝒓𝒂̂̃𝒚 𝒄𝒉𝒂́𝒚 đ𝒆𝒏, 𝒍𝒂̀ 𝒃𝒊𝒆̂̉𝒖 𝒕𝒖̛𝒐̛̣𝒏𝒈 đ𝒂̣̂𝒎 𝒏𝒆́𝒕 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 𝒄𝒖̉𝒂 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 𝒕𝒉𝒆̂́ 𝒏𝒉𝒂̂̀𝒖 𝒏𝒂́𝒕, 𝒏𝒉𝒖̛̃𝒏𝒈 𝒕𝒐̛̀ 𝒓𝒐̛̀𝒊 𝒍𝒂̉ 𝒕𝒂̉ 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 𝒄𝒖̉𝒂 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒕𝒓𝒊 𝒏𝒉𝒐̛́ đ𝒖̛́𝒕 đ𝒐𝒂̣𝒏, 𝒎𝒂̂́𝒕 𝒎𝒂́𝒕 𝒕𝒐𝒂̀𝒏 𝒗𝒆̣𝒏 𝒗𝒂̀ 𝒍𝒐̛́𝒏 𝒍𝒂𝒐 𝒏𝒉𝒂̂́𝒕 𝒄𝒉𝒐 𝒎𝒐̣̂𝒕 đ𝒐̛̀𝒊 𝒏𝒈𝒖̛𝒐̛̀𝒊, 𝒏𝒈𝒂𝒚 𝒕𝒖̛̀ 𝒑𝒉𝒖́𝒕 𝒌𝒉𝒐̛̉𝒊 𝒉𝒂̀𝒏𝒉. 𝑽𝒐̛́𝒊 𝒎𝒐̣̂𝒕 𝒔𝒐̂́ 𝒃𝒂̣𝒏 𝒏𝒈𝒂̀𝒚 𝒙𝒖̛𝒂, 𝒗𝒐̛́𝒊 𝒉𝒐̣, 𝒕𝒐̂𝒊 đ𝒂̃ 𝒄𝒉𝒆̂́𝒕. 𝑽𝒐̛́𝒊 𝒕𝒐̂𝒊, 𝒉𝒐̣ 𝒄𝒖̃𝒏𝒈 𝒗𝒂̣̂𝒚. 𝑽𝒂̀ 𝒄𝒉𝒊̉ 𝒄𝒐̀𝒏 𝒄𝒂́𝒊 𝒉𝒐𝒂𝒏𝒈 𝒕𝒂̀𝒏 𝒄𝒖̉𝒂 𝒄𝒂́𝒏𝒉 𝒓𝒖̛̀𝒏𝒈 𝒑𝒉𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 đ𝒐̂𝒏𝒈 𝒌𝒊𝒂, 𝒔𝒂𝒖 𝒌𝒉𝒊 𝒕𝒓𝒂̣̂𝒏 𝒍𝒖̛̉𝒂 𝒕𝒉𝒐̛̀𝒊 𝒕𝒉𝒆̂̉ đ𝒂̃ 𝒕𝒓𝒂̀𝒏 𝒒𝒖𝒂..”
Có thể là hình ảnh về 1 người
Nhu Khong

MÁU TÔI

𝗧𝗵𝗼̛̀𝗶 𝘁𝗿𝗲̉
𝑲𝒉𝒊 𝒃𝒊̣ 𝒕𝒉𝒖̛𝒐̛𝒏𝒈 𝒐̛̉ 𝑸𝒖𝒊 𝑵𝒉𝒐̛𝒏
Đêm nay, đêm trừ tịch
Ta xuống đồi đầu năm
Xuất hành về Qui Nhơn
Chúng ta cùng xông đất

Hai chân ta dẩm bước
Từng vuông phố thân quen
Phố ơi, phố mến thương
Đợi ta về phố nhé
Dù garant phát một
Dù oằn nặng khẩu Bar (*)
Dù địch xài AK
Dù quân ta quá ít
Ta phải về phải chiếm
Phải chiếm lại Qui Nhơn
Những vĩa hè trống trơn
Những ngôi nhà vắng chũ
Quân tiến vào cõi dữ
Mắt tai tìm lũ ma
Ma núp ở trong nhà
Làm sao mà tìm được ?
Chợt đạn trên cao điểm
Nả xuống đường như mưa
Như tiếng pháo đầu năm
Mừng diều hâu (**) về phố
Đại bàng kêu ta nhổ
Khẩu đại liên trên lầu
Ta và tiểu đội trừ
Ào qua đường, như bão
Đạn địch đan như pháo
Ta nằm dưới cây xăng
Bên ta người truyền tin
Máy sôi lời dục dả
Chưa đầy năm phút đã
Ta nghe rát và đau
Máu dầm đề tuôn mau
Loang góc đường góc phố
Như vậy ta đã ngã
Như vậy ta bị thương
Cám ơn thằng Bắc quân
Run tay không trúng đích
Em ơi, xin ly nước
Ta khát quá, lại đau
Nhịp tim ta đập mau
Nó mừng ta sống sót
Đằng sau nhà bỗng thấy
Đám VC chạy làng
Muốn trình với đại bàng
Xin trực thăng truy kích
Mà tội đám lính Bắc
Phải sinh Bắc tử Nam
Thôi thì ngày đầu năm
Làm lành ta được phước…
𝐓𝐇𝐎̛̀𝐈 𝐗𝐄̂́ 𝐁𝐎́𝐍𝐆
𝐑𝐮́𝐭 𝐦𝐚́𝐮 𝐭𝐡𝐮̛̉ 𝐧𝐠𝐡𝐢𝐞̣̂𝐦

Máu của ta sao cứ trào đầy ống nghiệm
Hết ngày này sang ngày khác, kim đâm…
Sợi gân xanh chi chít những dấu bầm
Là những viên gạch dọn đường ra nghĩa địa

Họ vẫn làm thơ

NHÂN MỘT SỐ BÁO SƯU TẬP…
Những người viết trẻ. Cụm từ chỉ những người trẻ làm thơ viết văn ở ngoài vòng đai, ngoài hàng rào SG, trước 1975. Họ sáng tác trong những diều kiện khắc nghiệt. Nhưng họ giúp cho nền văn học thời chiến bừng rộ. Không có họ là không có Khởi Hành, Văn, Văn học. Hãy nhìn bìa tạp chí Văn Học số 157 năm 1972, cách đây nửa thế kỷ:
Với Hoàng Lộc, Luân Hoán, Trần Dzạ Lử, Viêm Tịnh, Hạ Huyền Hoa… Chỉ có Huy Trâm là ơ SG. Còn lại tất cả đều ở ngoài tiền tuyến, hay ngoài vòng đai SG.
Nửa thế kỷ sau – 2022 – họ vẫn có mặt trong giòng sông văn học VN. Họ có mặt bởi vì chữ nghĩa văn chương không bao giờ bỏ họ. Và họ không phải thợ mà bỏ chữ nghĩa. Họ là “NHÀ”. Trái tim họ vẫn gióng lên tiếng ngân, lời vọng. Ngày xưa là tiếng đạn pháo. Ngày ngay là tiếng vọng sâu thẩm của kiếp người. Những dấu chân vẫn tiếp tục in vết trên bãi phù sa văn học VN.
 
Phụ chú hình ảnh:
Hình bìa nguyệt san Văn Học số 157 năm 1972
thơ Luân Hoán : Về nằm lại nơi mới cưới
thơ Viêm Tịnh: Biệt Ly, em, và tình sầu
thơ Hoàng Lộc: Vẽ mệt mõi của chàng lảng tử
Thơ Trần Dzạ Lữ: Bữa cơm ngoài chiến Trường
Thơ Hà Huyền Hoa: Ở trại tiếp cư

TƯƠNG HUYỀN: Cao Bá Quát, kẻ phá đám trước cuộc đời

(Tư liệu)
(THT chụp và đánh máy)
Giai phẩm Văn Học số 160

Có hai nguồn dư luận về cuộc nổi loạn của Cao Bá Quát :

I.Có người cho ông là kẻ bất mãn công danh. Mỏi chân đuổi theo một chút hư danh không bao giờ bắt được, ông phẫn chí đi theo Lê Duy Cự, cuộc nổi loạn của Cao Bá Quát chỉ là cái thế cuối cùng của Cao Bá Quát thực hiện giấc mơ công hầu mà dù đã trả giá bằng tài hoa của ông, triều đình nhà Nguyễn vẫn mãi từ chối.
Lời giải thích này không hợp với một bản tính khinh bạc đến cùng cực như Cao Bá Quát. Ngay trong văn chương của ông, trong Tài Tử Đa Cùng Phú, trong Hoành Sơn Vọng Hải Ca, người ta thấy biểu hiện rõ rệt tư tưởng khinh miệt công danh, coi công danh phú quý hay tất cả những của cải khác ở đời này là bèo bọt phù du. Dĩ nhiên khi còn trẻ Cao Bá Quát cũng như Nguyễn Công Trứ, cũng như tất cả những nho sĩ khác, đều đã chọn sự thi đỗ làm quan đề mở đầu sự nghiệp nhập thế của mình, nhưng ở Cao Bá Quát, khuynh hướng nhập thế không có tính cách quyết liệt như ở Nguyễn Công Trứ, và công danh cũng không quyến rũ, không thiết tha đến độ xô đẩy Cao bá Quát vào con đường nối loạn.

2.-Nguồn dư luận thứ hai cho rằng Cao bá Quát là một chiến sĩ cách mạng. Một người đang làm quan bỗng nhiên từ bỏ chức tước mang quân chống lại triều đình, bị bắt giết, được mệnh danh là cách mạng, lốí giải thích này thực là dễ hiều. Nhưng xét lại tư tưởng Cao bá Quát và một ít lai lịch còn lại trong các giai thoại về đời ông, chúng ta thấy Cao Bá Quát chính là một mẫu người hư vô, không thích tự đặt cho mình những vấn đề xã hội, chính trị để tìm cách giải quyết. Bản chất Cao Bá Quát là cá nhân, nỗi bất mãn của ông cũng có tính cách cá nhân, phát xuất từ bản ngã ông và cũng qui hướng về đó, chứ không phải bắt nguồn từ những bất công trong xã hội để có thể đưa Cao bí Quát vào con đường cách mạng.
Vậy phải hiểu thế nào về sự nổi loạn của Cao Bá Quát ? Sinh ra dưới ngôi sao của một thiên tài, ngay từ đầu đã dùng thiên tài của mình để khinh miệt vua chúa, phỉ báng cuộc đời, cuối cùng nổi loạn để nhận lấy một cái chết thê thảm, tâm hồn Cao bá Quát như vẫn còn ôm ấp một cái gì u ẩn, không nói ra được với thời đại ông, và cũng chưa kịp giải bảy với hậu thế. Hơn một trăm năm sau cái chết của ông, bây giờ chúng ta vẫn chưa hiểu nổi ông muốn vươn đến một cái gì trong đời, nỗi thù hận nào đã nung nấu niềm kiêu hãnh của ông đến độ vỡ tung ra thành một trái núi lửa, sự bất mãn nào đã khiến một pho sĩ như ông trở thành một tướng giặc ? ? ?
Càng giải thích chúng ta có cảm tưởng càng làm Cao bá Quát xa chúng ta hơn, càng làm tâm trạng của ông bí mật hơn, và càng khiến Cao bá Quát cô đơn hơn trong cái chết của ông. Cao Bá Quát là một trường hợp hợp khó hiểu nhất của văn học Việt Nam.


“Ngã diệc tri phi ninh tác ngã” ..

Lời nói đó của Cao Bá Quát Có thể phát biểu lập trường của ông trong cuộc đời. Đó là lập trường của một người nhứt định trung thành với chính mình. Trước sự hợm hĩnh của các quan trường, trước sự ganh tị của bọn quan lại triều đình, trước thái độ câu chấp hẹp lượng của nhà vua, trước đòi hỏi eo xèo của cơm áo, Cao Bá Quát đã quyết định tự chọn chính mình, chọn tự do của ông, dù cái tự do đó thực là phù phiếm vô ích. Sự lựa chọn đó dĩ nhiên đầy đau đớn, thực ra, có sự lựa chọn nào lại không mang ít nhiều đau đớn nhưng cũng thực anh hùng vì CaoBá-Quát sẽ phải trả giá bằng cái chết của chính mình. Chính vì thế, không có một sức ly-tâm nào có thể đưa sự lựa chọn đó ra bên ngoài bản ngã của ông nghĩa là về phía xã hội hay về phía một hạnh phúc vật chất nào đó ở đời, như khi người ta bảo ông bạo động vì một lý tưởng cách mạng hay vì bất mãn công danh. Cuộc nổi loạn của Cao-bá-Quát rốt cuộc qui về bản ngã của ông “ninh tác ngã”. Chính theo chiều hướng tâm đó, chúng ta sẽ phân tích thái độ bạo động của Cao-Bá-Quát.
Cao-Bá-Quát mang sẵn trong tâm hồn ông đầy đủ đủ bản chất của một người tài tử, rất nhiều tài hoa, một tâm hồn sầu cảm lãng mạn, và luôn luôn hướng về một lý tưởng thanh quý.
Bản chất đa cảm của Cao-Bá Quát biểu lộ trong từng mối liên hệ nhỏ nhặt hàng ngày của ông. Đi ngoài đường, gặp đám ma, ông chợt bùi ngùi xót xa khi nghĩ lại số phận chung của tất cả mọi đời người, thương cảm cho người chết và cho cả chính mình cũng đang ràng buộc với cái chết, buồn rầu vì tính cách phù du, vắn vỏi của đời sống :
– Thấy xe thiên cổ xịch đưa ra, không thân thích lẽ đâu khóc mướn.
Tưởng sự bách niên đừng nghĩ lại, não can tràng nên phải thương vay.

Đi đường gặp người đời, Cao Bá Quát tỏ ra xúc động và hình dung tiều tụy của người nghèo, hối hận mời mọc bằng những lời lẽ thật chân tình.

Ôi thôi bác ngưng lệ
Cùng ta dùng bữa chơi
Trăm năm trong quán trọ
Ung dung nào mấy ai”.

Đối với vợ con Cao Bá Quát vẫn nghĩ đến trong những ngày lãng du của ông, bằng một thứ tình cảm thực bình dị mà tha thiết nồng hậu :

Vườn xưa thu quạnh, ta buồn lụt
Quạ rộn chiều sa, vợ lệ rơi.

Chính ở đây ta mới thấy tâm hồn đa cảm của Cao Bá Quát. Cuộc đời lạc phách giang hồ, bước đường sương gió vẫn không làm phai nhạt trong tâm hồn người du tử chút tình nhà, khi ông nghĩ đến cảnh đời túng thiếu có xèo của vợ con giờ này, có lẽ đang ngồi khóc trong buổi chiều thể lương ở làng quê. Tâm hồn đa cảm đó chắc hẳn là bản chất di truyền của giòng, họ Cao, nên khi bị bắt Cao đã bồi hồi xót thương thế nhi, cỏ hoa, đèn sách.
Bản chất sầu cảm của Cao Bá Quát biểu hiện rõ rệt nhất trong tình yêu với giai nhân. Mang cốt cách của một người hào hoa, nỗi đam mê, của những người tài tử còn truyền lại trong mạch máu, chúng ta chưa quên tâm hồn say đắm của Phạm Thái, Cao Bá Quát nghĩ đến, nói đến giai nhân bằng những lời tha thiết tình tự, bằng thứ ngôn ngữ cao sang nhứt của tình yêu.

“ Uầy kia ai như mây tuôn, nước chảy, như gió mát như trăng thanh:
Lơ lửng khéo trêu ngươi chi mãi mãi “
Hay:
Trót yêu hoa nên đan díu với tình
Mái tây hiên nguyệt gác chênh chênh
Rầu rĩ lắm, xuân về oanh nhớ.
Chính vì mang một trái tim nhiệt thành như thế, Cao Bá Quát là một người dễ xúc động, dễ đau khổ, dễ thất vọng trước những ngang trái của đời. Vì thế, có thể nói, chính cái nhiệt tình của Cao bá Quát là một yếu tố ngăn trở, khiến cho ông khó sống ở đời.
Cùng với lòng nhiệt thành, một yếu tố ktác, cũng nội tại trong tâm hồn Cao Bá Quát, càng làm cho ông khó hòa mình vào những hèn mọn của thế tục. Đó là một phần cách cực kỳ thanh quý luôn luôn tự nâng niu mình, không nỡ để bước chân thô bạo của cuộc đời dẫm lên tâm hồn. Điều đó biểu lộ rõ rệt qua ngôn ngữ Cao-Bá Quát. Thực vậy, thơ của Cao Bá Quát là một thứ ngôn ngữ quý phái nhất của văn học Việt Nam. Khác với Nguyễn Công Trứ, ông nói đến giai nhân bằng nột giọng thực trang trọng, thực thanh nhã, tình yêu với Cao Bá Quát là nhớ nhung thăm thẳm, là cơn sốt của những thần tiên, tương tư nhau, chứ không phải là một tiệc hoa mũm mĩm, liễu biếc dạo hôn mời mọc như với Tướng-Công-uy-Viễn. Ngay khi nói đến nỗi nghèo, Cao Bá Quát vẫn giữ gìn ý tứ. Giọng tuy buồn bà ray rứt nhưng vẫn kín đáo trang trọng, bình như không muốn đề cho đời nhìn thấy nỗi tủi nhục của mình :

Gió trăng rơi rụng đề cái quyên gầy.
Sương tuyết hắt hiu làm con nhạn ỷ võ.

Chính ở đây ta thấy sự khác biệt sâu xa giữa hai nền đạo đức của Hàn Nho Phong Vị Phú và Tài Tử Đa Cùng Phú trong cái nghèo, Nguyễn Công Trứ không ngần ngại biểu lộ nỗi khao khát Thực tế về giàu sang, sự phú quý vẫn có một sức mạnh nào đó có thể dỗ dành tâm hồn Nguyễn Công Trứ đừng nản, đề gắng vượt ra khỏi những ngày khốn khổ tủi nhục:

* Khó ai bằng Mãi thần Mông chính, cũng có khi ngựa cởi dù che…

Cao Bá Quát ngược lại, tỏ ý khinh miệt ngay từ đầu những danh lợi thấp hèn, khinh miệt con đường ngắn nhất mà thế nhân vẫn đi trên đó để tìm đến công hầu:

Ngán nhể kẻ tham bề khóa lợi, mũ cánh chuồn đội trên mái tóc, nghiêng mình đứng chực cửa hầu môn.
Quản bao kẻmang cái giảm danh, áo giói lên trùm dưới cơ phu, mỏi gối quỳ mòn sân tướng phủ.

  • Với một bản ngã mạnh mẽ, vững vàng được rèn luyện già dặn bằng những kinh nghiệm của đời, Nguyễn Công Trứ không câu nệ rằng sống ở đời phải giữ những bàn tay sạch. Muốn cần thận phải chịu bùn lấm, phải nhận lấy một phần cát bụi của đời, để vượt lên cao. Đời như một cuộc viễn trình, mỗi người đều là kẻ độc hành, phải thừa nhận cát bụi để có thề đi hết con đường của mình. Vì thế có một lần da diết nào đó, Nguyễn công-Trứ đã tính đường “cơ tắc” hoặc “cùng tư.”

Đạo đức của Hàn Nho-Phong Vị Phú là một thứ đạo đức thực tiễn, của những người muốn sống, muốn làm lên một cái chi có ích cho đòi, hơn là ôm một chút lòng cô trinh cho đến chết. Nguyễn-Công Trứ đã nhận tất cả hèn mọn của thân phận làm người để trở nên lớn lao, to tát hơn, đó là một thái độ sống thực, can đảm mãnh liệt, nhưng cũng chính vì thế, một vài người câu chấp đã có cớ để trách ông.

Cao Bá Quát không chấp nhận quan điểm đó, không phải vì ông là người câu chấp, thiển cận nhưng chính vì Cao Bá Quát từ trong bàn sinh, đã mang ý thức của một thiên thần, không thể nào quên đôi cánh trắng của mình để sa sút xuống sông lẫn lút với người đời:

– Nào kiếp chữ Đồng câu tạ, nỡ hoài chén ngọc dễ trần ai ?

Vì ý thức bản thể mình là băng tuyết, phầm cách mình là chất ngọc, Cao bá Quát nhất định chọn sự trong sạch tuyệt đối. Dù sự nguy khốn của hoàn cảnh, dù đời bạc đãi, hất hủi, ông vẫn bảo vệ sự trong sạch đó cho tới cùng không thể đánh đổi nó đề lấy những tặng phầm phi nghĩa của cuộc đời.

Đói rau rừng, thấy thóc Chu mà tra, đá Thủ dương chởm chởm, xanh mắt Di nằm tốt ngáy 0 0. Khát nước sông, trông dòng đục không vỏ, phao Vị Thủy lênh đênh, bạc đầu Lã ngồi câu ho khụ khụ.

Đạo đức Tài tử Đa Cùng Phú muốn đưa con người đến tuyệt đối. Tác giả của nó đã chọn tấm lòng cô trình làm căn bản để giải quyết những vấn đề của đời mình. Đó là luân lý của con cò trắng trong ca dao, khi thất thế, thà chọn cái chết đau đớn còn hơn là phải dầm mình trong nước bần.
Ngày xưa có một người cô trung đã phải tìm cái chết ở dưới Sống Mịch La vì không thể rửa chân khi nước sông Thương Lang đục. Đó là Khuất Nguyên, Lương Khải Siêu đã nói về ông như sau:
-” Đầu óc Khuất Nguyên chứa lại nguyên do mâu thuẫn nhau, một là lý tưởng thì cực kỳ cao thượng, hai là cảm tìn, thì cực kỳ nhiệt liệt “
Lời phán đoán đó có thể đúng với cả Cao Bá Quát. Chính cái mâu thuẫn nội tại ấy của tâm hồn đã khiến Khuất Nguyên cũng như Cao Bá Quát khó thể sống ở Đời, vì đã mạo hiểm dấn thân vào một sự lựa chọn có tính cách chung thân, hoặc là chọn Đời, hoặc là chọn chính Mình. Như trong thiên Bốc Cư, Khuất Nguyên đã bị kẹt trong cái thể lựa chọn đó.

“… Nên bừa giẫy cỏ lau đề hết sức làm ruộng chăng ? Hay nên giao du với kẻ sang để cầu danh ? Nên nói thẳng chẳng kiêng gì gì đề nguy thân ? Hay nên theo thói tục cầu giàu sang để sống cầu thả ? Nên liêm khiết chính trực để được trong sạch chăng? . Hay nên tròn trĩnh, trơn tru như mỡ như da để được như cái cột bóng ? Nên ngang nhiên như con ngựa thiên lý chăng ? Hay nên lênh đênh như con vịt ở trên mặt nước cùng nhấp nhô với sóng để bảo toàn lấy thân ? Nên chạy qua với loài ngựa kỳ, ngựa ký chăng ? Hay nên theo cái vết của loài ngựa hèn, nên cùng bay với loài chim hoàng hạc chăng ? Hay nên cùng tranh ăn với gà vịt ? Đường nào cát, đường nào hung ? Bỏ đường nào, – theo đường nào ?…

Đó cũng chính là những vấn nạn đã đặt ra cho Cao bá Quát khi sống với xã hội của ông, cùng với sự suy đồi của một ý thức hệ cằn cỗi, đã mất hết sức sống, quan quyền nhà Nguyễn, thay thế vào đó một đẳng cấp gồm bọn nhà nho hương nguyện, – giá áo túi cơm, để củng cố ngai vàng của họ. Chính bọn hủ nho đó, đã xu phụ với chế độ phong kiến, lạc hầu thời bấy giờ đề , bảo vệ lẫn nhau trong một thế cộng sinh giả tạo. Vì thế, chúng tìm cách loại trừ những kẻ nào có thể phản động lại quyền lợi bất chính của chúng. Cuộc đời thăng trầm của một kẻ sĩ có thực tài, dù thái độ rất mềm dẻo khôn ngoan, như Nguyễn Công Trứ là một bằng chứng hùng hồn về điều đó. Đến lượt mình, Cao bả Quát cũng sẽ dự vào ván bài đã bày sẵn trước mặt, sự lựa chọn đã được minh định một cách dứt khoát, hoặc bỏ rơi phầm cách đề a – tòng theo xã hội đó, hoặc từ chối mọi hợp tác bất chính để bảo vệ lấy cái phương danh” của mình. Đường nào cát, đường nào hung; ? Bỏ đường nào theo đường nào ? Cao Bá Quát đã minh định rõ ràng thái độ vào đời của ông :

  • Khéo ứng thù những các quan trên,
    Xin bái ngảnh cùng anh phường phố. . .

Nghĩa là, cũng như Khuất Nguyên, Cao Bá Quát đã chọn con đường hoàng vương để đi trên đó, dù biết rằng con đường đó sẽ không đưa đến hạnh phúc, sẽ không đưa đến một thỏa hiệp nào với cuộc đời, dù biết rằng con đường đó sẽ đưa đến Hư vô và những ai đã chọn con đường đó sẽ không để lại một cái gì ở đàng sau, ngoài ra một cái tên rất phù phiếm:

Khét mùi thế vị chẳng thà không,
Thơm nức phương danh nên mới khổ.

Người khác có thể nói rằng, Cao Bá Quát thiếu thực tế, Cao Bá Quát không khôn ngoan bằng Nguyễn Công Trứ trong nhận thức về số phận làm người. Nhưng không một ai có quyền nghi ngờ sự trung thành tuyệt đối với nhân phẩm. Cái tên Cao bá Quát, dù chỉ là bèo bọt vô nghĩa, ông sẽ bảo vệ nó bằng bất cứ giá nào trước những bạo lực của cuộc đời luôn luôn muốn vùi dập nó. Luân lý của Tài Tử Đa Cùng Phú, như luân lý của Khuất Nguyên, như luân lý của A.Malraux, bây giờ, chính là hiện tượng luận của niềm kiêu hãnh.
Nhà phê bình Trúc-Khê nói về Cao Bá Quát đã xếp ông vào hàng những người “Kiêu hãnh quá trớn”.
Phân đoán đó sẽ không phát biểu nồi con người sâu thẳm của Cao Bá Quát nếu hiểu chữ kiêu hãnh hoàn toàn theo nghĩa luân lý. Phương diện đạo đức, kiêu hãnh là một tánh xấu, một nhìn nhận quá đáng về chính mình, và gì thế tự đặt mình vào ngôi vị cao cả nhất giữa mọi người.
Hắn rằng Cao Bá Quát không tránh được khuyết điểm đó. Câu nói nổi danh của ông hồi còn đi học. Trong thiên hạ có bốn bồ chữ, một mình ta chiếm hết hai bồ… đã được nhiều người nhắc lại một cách khó chịu. Nhưng đó cũng chính là ngôn ngữ của Nễ Hanh, của Lý Bạch đời xưa. Người ta chưa quên những lời lẽ ngông ngạo của Nễ Hanh khi phê bình tài năng bọn tả hữu Tào tháo, và lời tự giới thiệu của ông khí ra mắt Tào Tháo.
“Thiên văn, địa lý, không chuyện gì là không thông. Tam giáo, cửu lưu học thuyết xưa nay, không một điều gì là không hiểu. Trên có thể giúp vua làm sự nghiệp Nghiêu Thuấn, dưới có thể sánh với Đức Khòng-Tử, Nhân Uyên, há có thể đem ra luận chung với người đời sau. Người ta cũng không thể quên Lý Bạch, đã bắt Cao Lực Sĩ. Kiêu hãnh hình như chính là một dấu hiệu kỳ dị của các thiên tai ở đó, biến họ thành một kiểu người đặc biệt, đời gọi là cuồng sĩ. Nhưng ở Cao Bá Quát, niềm kiêu hãnh còn mang một bản chất sâu xa hơn là dấu hiệu của cuồng sĩ. Cần phải phán đoán nó trên nền tảng của siêu hình học hơn là chỉ căn cứ trên đạo đức học. Từ khi tố giác, được bản chất bèo bọt tầm thường của đời ( chính tư tưởng Phật giáo và Lão Trang, cùng với xã hội, Cao Bá Quát đã giúp ông nhận thức điều đó), và đồng thời, cũng nhận chân rằng chính những bèo bọt vô nghĩa đó tập hợp thành những bạo lực mù quáng luôn luôn đe dọa bản ngã ông, Cao Bá Quát quay lại với chính mình, tựa vào bản ngã mình để lấy sức chống lại cuộc đời. .

Chính cái ý thức mãnh liệt về bản ngã, nguyên sẵn có ở những thiên tài (như vừa nói trên) đã buộc Cao Bá Quát phải có thái độ rõ rệt, dứt khoát trước cuộc sống, và dĩ nhiên không cho phép ông sống ấm ớ, ba phải như những người khác, cũng không cho phép ông cúi đầu làm thành trước những gì trái tai gai mắt của cuộc đời. Do đó, Cao Bá Quát phải trả lời cuộc đời bằng thái độ cười cợt, chế riểu, miệt thị… Kiêu hãnh là thái độ phủ nhận cuộc đời, trong thái độ đó Cao Bá Quát phải trở về với chính mình để tìm một cứ điềm, để tìm một nguồn suối giá trị giúp ông đứng vững, khi tất cả những giá trị ở ngoài đời đều đã sụp đổ. Cao Bá Quát không còn tìm thấy chỗ đứng ở đó nữa:

Sống nghĩ lại trần ai không đếch chỗ.

Nhận rõ được chân tướng hèn mọn của đời, Cao bá Quát càng thấy cần phải quay trở về níu chặt lấy bản ngã mình như Narcisse trong thần thoại Hy Lạp xưa, Cao Bá Quát cúi xuống chiêm ngưỡng hình ảnh của mình nâng niu phim cách thanh quý của mình trước, những bạo hành của cuộc đời. Niềm kiêu hãnh của Cao Bá Quát chính là một cách thể đề ông bảo vệ cho giá trị của mình và cũng là một phương sách để ông phản công trở lại, nỗi thù hằn của cuộc đời đối với ông, nỗi thù hằn đó biểu lộ rõ rệt trong những thất bại cay đắng của ông trong việc thi cử làm quan. Chính nỗi thù hằn đó mà cuộc đời đã ném vào trán ông, khiến ông nhận thấy bản thân mình đang lâm nguy.

. Do đó, chứng bệnh Narcisse mà ông đã mang sẵn trong bản ngã từ khi ta đời, ngày càng trầm trọng hơn, và rốt cuộc biến Cao Bá Quát thành một kẻ phá đám trước cuộc đời.

Có thể nói rằng bản chất mối tương quan giữa Cao bá Quát và cuộc đời là một phủ nhận, một cuộc trả đũa dài hạn. Cùng với thái độ phá phách của ông, Cao Bá Quát đã nhận về phía cuộc đời những vố nặng nối kết lại để thành lịch sử đen tối của đời ông, từ cảnh nghèo đa diết ông đã sống gần suốt cả đời thanh niên trong Tài Tử Đa Cùng Phú đến những khóa thi hội bị đánh bóng một cách vô lý, mười năm giang hồ lạc phách hoài phí tài hoa, tuổi trẻ trở về kinh làm một chức quan nhỏ vô danh, bị đầy vào Đà Nẵng, cuối cùng bị đầy lên mạn ngược làm một ông đồ gõ đầu trẻ trong một phố huyện khỉ ho gà gáy. Giữa bản ngã Cao Bá Quát và cuộc đời có một đổ vỡ không hàn gắn lại được, giữa ý thức Cao bá Quát và cuộc đời có một cuộc chiến tranh âm thầm nhưng càng ngày càng khốc liệt, và ngay trong chính ý thức Cao Bá Quát có những tấm thảm kịch do chính bản ngã ông trình diễn, trong những vai bị thảm và luôn luôn đòi chiến thắng. Chính từ những tấm thảm kịch đó đã mọc mầm và lớn lên rất nhanh, ý thức nồi loạn của Cao Bá Quát.
Lần bị đày lên làm giáo thự ở Sơn Tây là một biến cố đau đớn nhứt trong đời Cao bá Quát. Cuộc đời hiện ra trước mặt ông như một cuộc đày ải vĩnh viễn, như một cái gì rất bỉ ổi và bị đát, vì một cách âm thầm đã phủ vây bản ngã ông không ngô thoát, kìm hãm và đe dọa sẽ tiêu diệt dần dần niềm kiêu hãnh của ông. Chính trong những giờ ba hoa với dăm đứa học trò ngu si nửa người nửa ngợm, trong những buổi chiều nằm vùi vã trên chổng tre trong một căn nhà tồi tàn nào đó, chính trong những ngày những tháng chếnh choáng với bóng say của mình trên những triền dốc của núi đồi, Cao Bá Quát có đủ thì giờ để cảm thấy một cách sâu xa nỗi Suy-vong của đời ông, để chiêm nghiệm hết trò chơi đểu của định mệnh và rút ra một bản kết toán vô vọng về đời ông.

Ngày xưa, cùng với tuổi trẻ ngông cuồng, Cao Bá Quát từng nuôi nấng tâm hồn mình bằng hình ảnh của một tương lai lộng lẫy:

Để ta đeo vòng thư kiếm, quyết xoay bạch ốc lại lâu đài,
Để ta gánh vác giang sơn, quyết ném thanh khâm sang cẩm tú

Bây giờ…Tất cả sự nghiệp chỉ là ba gian nhà trống, nỗi tủi nhục hiện thân một cách trắng trợn không che dấu : “Một thầy, một cô, một chó cái…”
Ngày xưa, cùng với buồng gan háo hức vào đời, với niềm tin cậy vào tài hoa quán thế của mình Cao Bá Quát mang cả vầng trán trẻ trung, bướng bỉnh ra thách đố với số mệnh với lời nguyền sẽ tự tay kiến tạo lấy cuộc đời:
Rửa buồng gan du tử nhơn nhơn, giương tay tạo ráp xoay cơn khi số. . .
Bây giờ, cả sự sống chỉ còn thu nhỏ lại trong chuyện áo cơm, trong khuôn khổ hèn mọn của chiếc rưỡi cải lương vàng, và đành làm một loài ngựa hèn quen đường trường đề tự an ủi bằng một tấm cỏ khô :
Trói chân kỳ ký tra vào rọ
Rút ruột tang bồng trả nợ cơm…
Ngày xưa và bây giờ. Có một cái gì nghịch lý giữa hai thời gian đó, có một mâu thuẫn xót xa giữa lý tưởng Cao bá Quát và thực tế, giữa bản ngã Cao Bá Quát và cuộc đời, khiến cho khi so lại, Cao Bá Quát không khỏi bàng hoàng tủi thân :
– Ngã dục đăng cai sữa
Hạo ca ký vân thủy
Hữu rớc nãi vì tư
Phàm sự đại đô nhi.

Bản dịch quốc văn:
“Ta muốn lên ngọn cao
Hát vang, mây nước dậy
Hẹn thề mà được đâu,
Phàm việc đều như vậy.”

Đó là khuôn mặt sầu chán của Cao Bá Quát trong những ngày sống đày ở miền núi. Như lời của Trúc Khê “ Nhiều lúc một mình bạo bực, ông tự thương cho cái tài chí của mình không có chỗ đem dùng ra được, từng mượn lời Không Phu Tử đề than thở : Mạc ngã tri dã phù ! Mạc ngã tri dã phù !
Chính từ nỗi uất ức sầu chán đó tâm hồn Cao bá Quát đã lớn lên bằng một cơn quật khởi. Trước sự gây hấn của định mệnh, trước những bạo hành của cuộc đời, trước tình thế đã đến lúc quyết liệt buộc phải có thái độ, Cao Bá Quát đã chọn làm một người bất khuất. Đã mang sẵn trong cốt cách tài tử của ông, một tâm hồn ngang tàng, cao rộng, Cao Bá Quát không thề sống dấm dúi mãi để nhìn cuộc đời dẫm đạp lên niềm kiêu hãnh của ông. Nói như ai :
– Sông to không làm thế nào mà thu bờ hẹp lại để vừa ý kẻ muốn lội qua.
Núi cao không làm thế nào mà rút được ngọn tháp xuống để chiều lòng kẻ muốn trèo chơi…
Cho nên, cũng như cái xe to, không thể thu nhỏ bánh đà tạm đi qua đường hẹp.
Ý thức nổi loạn được nung nấu nhiều ngày bằng lòng thù hận, đã chín mùi vỡ ra thành một thái độ bạo động, dưới hình thức của một cuộc cách mạng phù Lê. Thực ra, cách mạng chỉ ra một cái cớ để cho niềm kiêu hãnh của Cao bá Quát.

Trong một vở kịch A. Camus, Caligula,một ý thức nổi loạn đã gào thét ;

  • «Trần gian này không thể chịu được. Vì thế, tôi cần phải có một cung trăng, hay một hạnh phúc, sự bất tử, hoặc một cái gì điên rồ khác, miễn nó không thuộc trần gian này”.

Lời đó có thể diễn xuất tâm-trạng u-uất của Cao Bá Quát một trăm năm về trước, trên những triền dốc chênh vênh của đời ông, đã đưa ông đến thái độ nổi loạn. Bị dồn vào thế bí, Cao bá Quát phải tự đi tìm lấy cho một lối thoát cho bản ngã ông. Cái mà Cao Bá Quát đi tìm người ta có quyền mệnh danh một cách khác nhau. Có người cho là một bất tử, người khác cho là một cơn điên rồ. Nhưng dù thế nào đi nữa cuộc nổi loạn của Cao bá Quát đã tiêu biểu cho thái độ phủ nhận tuyệt đối trước bản chất xuân động phi lý của cuộc đời. Nó đã cụ thể hóa cuộc mạo hiềm của trí thức Việt Nam trên con đường chinh phục Tự Do, thứ tự do bi thảm chi có thể được mặc khải trong thái độ con người tự chọn Cái Chết của mình như Nguyễn Du đã thể hiện trong cái chết của Từ Hải. Cuộc nổi loạn của Cao Bá Quát đã mang tất cả ý nghĩa trọng đại của sự lựa chọn đó. Cho nên, nếu ông đành chịu tiếng làm một bề tôi bất trung của nhà Nguyễn chính là vì ông muốn trung thành đến cùng với Chính-Mình “ ninh tác ngã”như lời tuyên ngôn của Cao Bá Quát trước cuộc đời.

Huế I-II-65
TƯƠNG-HUYỀN

.

Mặt trận miền đông bắc

Ngày bắt đầu bằngnhững trái bom tí hon mang nhiệm vụ truy kích địch ở trong mật khu tôi
Nhiệm vụ ngay xưa tôi vẫn từng làm
Chỉ khác là bãi chiến
Ngày xưa là quê hương
Bqây giờ chinh là linh hôn thể xác là sức sống
Ngửời ta nói thuốc đáng đã tật
Ở đây không phải là thuốc đắng mà là thuốc truy kích, thuốc nhảy diều hâu, thuốc tiêu diệt
Càng đau dớn bao nhiêu càng hy vọng bây nhiêu
Giot linh duợc ơi
Hãy thế ta một thời làm linh thám kich
Cứ bắn cứ đâm cứ thọc lưởi lê
Bọn dịch mày tinh ma lắm
Ổ hầm sâu lúc nhúc như giòi bọ
Thoả thuê với những cơn hút maú say mèm
Suốt hai giờ bình yen với từng giọt từng trái bom nhỏ thành giọt nước
Dịch bắt đầu ló dạng
Những chốt những hầm hố mai phục cuả địch từ lâu bây giờ nhờ các thằng con phát hiện ra
Rồi lưu đan quăng tay
Rồ tiểu liênquạt liên hồi
ta càng đau, có nghĩ là ta sắp thoát tai ương
Toi kêu rên la dau quá
Cả ngươi run lên bần bật
IY tá chạy báo cáo với bác sĩ
Bác sĩ đến
Bỉnh dưỡng khi sẳn sàng
cả người tôi nóng ran.
như bị tra tấn hành thích
Quả súc tân công quá chừng mãnh liệt
Bác sĩ kêu rut ông chuyền thuốc ra khỏi cánh tay tôi
Cả thân người tôi vsẫn còn tiếp tục run từng đợt
Sau chứng 15 phút,
Mộ lát cô y tá hỏi tôi
Ông cảm thấy đỡ chưa
Tôi trả lời: Đỡ rồi
Ông muốn tiếopn tục không
Tôi gật đầu
Vâng
Rồi ông chuyền lại tiêt tuc nhọ giọt thước vào cánh tay
Quân cưu viện đã toan thắng
Bởi vì tôi cảm tháy lòng tôi nhẹ hỏm phơ phói
.
Tôi dấu mọi ngươi là tôi có khách đắc biệt tới thăm
trong khi bạn bè chia vui cùng tôi ngày Thư quán bãn thảo lên 100 tuổi
Chiến đấu để đạt só 100 khởi đầu cho một sự bại trận
Bằng những kỳ hẹn chuyền thuốc vào người
để níu kéo sức sống trong tuyệt vọng
May mà tôi còn có só 100
dược kiến tạo bởi một cây gậy ngừời và hai vòng tròn cùa bánh xe lăn
Mà một kiến trúc sư đại tài chế cho tôi
Dể tôi đẩy xe tinh đi
Để tôi đẩy em đi
băng cây gậy thần với hai vòng xe lăn kỳ diệu
Có thể là hình ảnh về 1 người, cỏ, cây và đường

À ru Tiểu Phượng

Trong cuốn hồi ký 52 năm theo thầy học đạo và phụng sự – Hồi ký của Sư cô Chân Không, có đoạn nhắc đến tinh thần dấn thân phục vụ xã hội  của nữ dịch giả, và triết gia Phùng Thăng:

“Chuyến đầu tiên không có thầy (Nhất Hạnh – tòa soạn chú thích), tôi rủ được Công Tằng Tôn Nữ Phùng Thăng. Phùng Thăng có gương mặt rất thanh tú, dáng người thanh lịch, nhìn em mặc chiếc áo năm thân mầu nâu cùng đi cứu trợ với tôi ở những vùng xa xôi bom đạn như vầy tôi rất cảm động và thầm khâm phục cô công chúa bé dễ thương chịu khó này. Em nói với tôi là em rất ưa tên Phượng, nên sau này lấy chồng sinh con, Phùng Thăng đã đặt tên cháu là Tiểu Phượng.”

(nguồn: Langmai.org)

Và Phùng Thăng đã toại nguyện. Chị kết hôn với Trần Xuân Kiêm – nguyên chủ tịch Tổng Hội Sinh Viên Huế-, cho ra đời cháu bé gái xinh đẹp như thiên thần, đăt tên cho con là Trần Nguyễn Thường Nga và được đặt thêm bút danh là Tiểu Phượng.

Chúng tôi sưu tập được 3 bài thơ. Bài thơ thứ nhất của Nguyễn Đức Sơn: “Đêm thăm bạn sắp đẻ ở Di Linh.” .  Một sô người bảo người bạn đó là Phùng Thăng. Một số nói không phải. Đối với tôi, người đó là một mẫu hình Phùng Thăng.

Bởi vì một bài thơ hay là một bài thơ vượt thời gian, không gian , gần gũii với số đông.

Nó không còn giới hạn ở vị trí cá nhân mà bung ra cho tập thể..

Hơn nữa cuộc đời của Phùng Thăng có nhiều điểm rất giống như bài thơ của NĐS. Chị ở Di Linh. Chị đẻ con cũng ở Di Linh. Vộ chồng chị là bạn thiết của NĐS.

Với tôi, tôi vẫn cho bài thơ này là NDS làm cho PT.

Cũng như Linh Phương, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Luân Hoán, Cao Thoại Châu … Họ đã làm cho tôi, cho tuổi trẻ của tôi.

Nào ai cấm ?

 

 

Đêm thăm bạn sắp đẻ ở Di Linh



Sắp đẻ ở Di Linh cây cối chào chị
Sắp đẻ ở hư không rừng và chị ôm nhau hát
Tôi giấu mặt đi ven hồ lạnh giá
Căn nhà gỗ phần mộ thanh xuân
Những ván thông dày đặc gỗ quan tài
Của tóc của chị của tình nhân
Của dương cầm bỏ phế đúng một năm

Sắp đẻ ở Di Linh cô đơn hùng dũng
Chị thu mình như một con mèo mun
Chị thu mình như một vũ nữ Ba Lan
Chị thu mình như một dĩa hát cũ

Oh, my tormented heart
Buổi chiều chết trên cây thánh giá
Hãy quên tôi như một mũi tên
Hãy quên tôi như một loài chim đêm

Anh đưa chị về đây để tự vận
Chị thổ huyết ba lần tôi chứng kiến
Khi rừng già thấp xuống thấp xuống
Buổi sáng chị tắm sương mù
Buổi chiều chị đốt cỏ để hong đời chị
Hiu hắt như đời tôi chị đứng lên
Hai mươi bảy năm tuột mất thanh xuân
Ôi nắng vàng dòng thác Gougah
Rừng và chị ôm nhau hát
Sẽ đẻ ra một đứa con
Rừng và chị ôm nhau chết ./.

 

 

Bài thơ thứ hai: Bài ru Tiểu Phượng. Bài thơ đươc sang tác sau khi TP chào đời.

BÀI RU TIỂU PHƯỢNG (1)

 

 

Ru con giọt lệ âm thầm

Hãy ngoan giấc ngủ thiên thần trong nôi

Ru con mộng dạt bên trời

Lênh đênh tiếng hát nẻo đời tử sinh

Ru con ngủ giấc thanh bình

Một con phượng nhỏ trên cành chiêm bao

Ngủ đi con, giấc ngọt ngào

Môi xinh hãy hé nụ chào phương đông

Ngủ đi con, ngủ giấc hồng

Gió mây viễn mộng mở lòng bao la

Ngủ đi con, giấc ngọc ngà

Lá xanh sương đã sớm sa giọt buồn

(1) Thư cho tiểu phượng – Tuyển tập nhiều người viết: Linh Thoại, Phùng Thăng, Nhất Kiếm, Thiên Tứ

Bài thơ thứ ba của Nguyễn Dức Sơn : “Tặng bé Thường Nga hai tuổi”, Thường Nga là tên thật của Tiểu Phượng (  Tân Văn số 11 tháng 3-1969)


Bài thơ làm lúc  Tiểu Phượng mới hai tuổi. Và niềm mơ ước của thi sĩ Nguyễn Đức Sơn đã thành sự thật. Tiểu Phương đã không lấy chồng bởi lẽ bé và mẹ bị quân Kmer Đỏ chôn sống vào năm 1975 sau khi cáp duồng 500 dân Việt Nam ở đảo Thổ Châu..

(hình chụp hai mẹ con Phùng Thăng – Tiểu Phương năm 1972 khi PT dạy tại Bảo lộc. Lúc bé Tiểu Phương 6 tuổi)

 

Năm 1973, Phùng thăng dịch tác phẩm của Simone Well mang tựa Kẻ lạ ở thiên đàng, bởi vì chị đã từ chối thiên đàng. Chị muốn sông vơi địa  ngục.   Điều đó xã ra năm 1975. Chị Phùng Thăng khỏi cần chọn địa ngục thật như Simone Weil đã chọn. Polpot đã chọn dùm. Và cháu Thường Nga cũng vì không muốn  lấy chồng, nghe theo lời dặn của nhà thơ tiền bối NĐS  nên cũng chết chung lấp chung một huyệt. Cà hai mẹ con  đã dọn sẵn cho mình một nỗi hành hình đau đớn nhất, thảm khốc nhất. …
Đúng như lời tiên tri của Nguyễn Đức Sơn trong bài thơ thứ nhất: Hai mẹ con Phùng Thăng bị chôn sống cùng ôm nhau chết tại một khu  rừng  dừa ở Cao Mier6n:

Rừng và chị ôm nhau chết

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Con mắt trong thơ Cao Đăng Khánh

1.

Cao Đông Khánh bỏ lại chiến trường một con mắt. Phải hay trái, ông không nói. Và trận đánh nào, ở đâu, tại sao ông lại bị nạn, ông không kể ra, dù một giòng ngắn ngủi. Chỉ biết trong phần tiểu sử, ông ghi là mất một con mắt vào nắm 1964 ( năm ông 23 tuổi).

Nhưng qua thơ ông, có một câu nói về lần bị trọng thương xãy ra ở Huế:

tôi con thú liếm vết thương đã cũ
hai lần được tạm dụng trong hoàng cung em
lần thứ nhất, tôi trọng thương ở Huế
lần thứ hai này, đứa con thất lạc của lương tâm
(tr. 115, Tôn nữ lưu vong)

Chúng tôi không dám khẳng định Huế là nơi ông bị thương, nhưng với con mắt giả thì chắc chắn:
Mở cửa trại tế bần nhân loại lấy con mắt giả đập nát giữa bàn rượu khuya khoắt

Cái cửa sổ linh hồn ấy đã hoàn toàn khép lại, vĩnh viễn sau năm 1964. Nó chỉ được  mở ra trong thơ ông bằng tất cả những gì tha thiết nhất.
Thật vậy, trước tháng tư 75, với nhà thơ, đôi mắt SG là đôi mắt bất tử, là đôi mắt có hạt châu, hay đôi mắt im lặng như bức tranh, hoặc đôi mắt  đại dương xanh thẩm:

đôi mắt như là hạt châu ngó nhìn trên dưới như trời sáng trăng (153)
…..

Em xinh đẹp như sự im lặng. Im lặng chỉ có đôi mắt em. Im lặng chỉ có đôi môi em. Im lặng chỉ có ánh nồng của tóc. Im lặng chỉ có thân thể em trong chỗ không có phong cảnh. Và đen và màu sắc. Hợp lại thành câu hát một đời người trên nền tảng của em xinh đẹp như sự im lặng ánh sáng tạo được để em cầm đuốc bước ra làm lực sĩ nhan sắc. (284)

….

Nàng có chất rượu trong chiếc kẹo bọc chocolat,
có đôi mắt tròn như biển xanh ở chính giữa trời mây trắng

(tr.9)

Đôi mắt bốn mùa mưa gió ôn hòa (281)

Để rồi sau tháng 4 nắm 1975, đôi mắt dành cho nỗi chờ đợi đến  mõi mòn thắt ruột thắt gan mà người dân miền Nam đã dành cho người thân của mình ở Suối Máu hay ở bất cứ một trại cải tạo nào :

tôi một bữa đợi em mòn con mắt
Từ Suối Máu em về xanh như lá cây
(Uẩn tình kẻ xa xứ)

hay dành cho Saigon, Nhà bè, Gia định, NGã Tư Bảy Hiền:

tôi một bữa ngồi yên như bàn ghế
nắng rọi trong đầu những trắng bao la
còn đôi mắt tôi ở Nhà Bè ở Gia Định
Ngã Tư Bảy Hiền ly nước mía, má, môi (139)
(Uẩn tình kẻ xa xứ)

Con mắt bấy giờ trở thành con mắt điềm chỉ:

lỗ nào em nói cho anh
lỗ kim khí lạnh lỗ nhìn giới nghiêm
lỗ châu mai lỗ đồng tiền
lỗ con mắt ngó em điềm chỉ anh

(14 kiểmduyệt khúc ở Saigon)

Trong khi đó, máu lịch sử  vẫn tiếp tục chảy từ những lỗ thị giác phế thải:

Lịch Sử vẫn tiếp tục chảy
máu
từ lỗ thị giác phế thải

Phế thải có nghĩa là bỏ đi, không còn dùng, vất đi..  Thường dùng để chỉ máy móc hay vật dụng.
Vậy mà nó vẫn hiện diện ở cái  thị giác của một số người.  Đó là cái lỗ phế thải, vì nó thấy rặt một màu bất biến. Cái màu máu  đỏ  tươi, đỏ thắm !

Đó là cái màu máu mà Trần Dần đã thấy:

Tôi bước đi không thấy phố thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ

Dù vậy,  chân nhà thơ  vẫn bước. Còn với nhà thơ Cao Đông Khách  thì  khác: Kinh hoàng  như thể viên đạn bắn vào trí não!

viên đạn trong đầu tao nổ bay phất phới ngọn cờ đỏ máu mắt (141)

2.

 

Cao Đông Khánh đã mang hình ảnh con mắt vào thơ ông  rất nhiều bằng những ẩn dụ, biểu tượng, ví von.  Có lẽ ông bị mất một con mắt nên càng thấy cái giá trị của thị giác chăng?

  • tình yêu như hạt bụi xót con mắt tôi đui mù, không thấy ( t. 304)
  • hỏi thăm con mắt trời gần/ đã qua khu phố lạnh ngầm lênh đênh  (t. 293)
  • tại anh con mắt từng phần/ tại môi tươm mật tại gần mà xa (t. 294)
  • cặp mắt Chử Đồng Tử (t. 311)
  • con mắt Lý Phù Dung hoa duyên hải nở tím nắng mới (t. 285)
  • trí nhớ con mắt đui bừng sáng (t. 285)
  • đôi mắt minh tinh mãi mãi cho người khác. (t. 283)
  • mỗi con mắt một chân trời (t. 280)
  • con mắt tản cư (t. 164)
  • con mắt lòn lõi (t. 133)
  • con mắt màu hắt hiu (t. 119)
  • mắt có khảm xà cừ nên người thiển cận (t. 114)
  • một hạt kim cương định cư trong mắt cái cuộc đời này lóng lánh lạ lắm (t. 102)
  • Em tiện dùm cho anh một lỗ hỗng trong con mắt  (t.244)
  • có linh hồn con mắt ở bên trong (t. 246)
  • con mắt có chân trời phía trước/ những chân trời con mắt tiếp theo/em tóc ngắn môi đường da mật/có chân trời con mắt kế bên anh (t. 246)
  • ở với đám đông mù nửa con mắt/ Còn con mắt kia mai mốt ra riêng ( t.242)

 

KHANH THANH

HÔM NAY BÀY ĐẶT KHÁNH THÀNH
LƯỢC ĐỒ VĂN HỌC BỘ DÀY 1700 trang
Cám ơn hai tập nặngchình
Bìa rách, giấy rách, chữ mở chữ lu
Lật từng trang scan từng tờ
Tiểu đoàn sâu mọt phất cờ thoát thân

TÔI ĐẾN THĂM EM VÀO MÙA LỄ

Tôi đến thăm em vào mùa Lễ
Tôi kể về một người quen
năm nay 90 tuổi
vửa lấy chồng
đám cưới mang đồ đầm
nhảy cha cha cha
em che miệng cười khúc khích
tôi kể ba sống lại rồi
hòi con Y, ở đâu tao đi thăm
Mình gạt nước mắt ba ơi
Tôi hỏi em còn nhớ bài hát nàokhông
ca cho tôi nghe đi
Giọng em cất lên
“Mùa đông đan áo”
Lời hát không còn lên bỗng xuống trầm mà đều đều,
May mắn nó vẫn còn nằm trong bộ nhớ
**
Bây giờ lại thêm một mùa lễ lại về
Em đã hồi phục
Má trở lại tươi hồng
Trán không nhăn
Mái tóc vói chùm đuôi gà đen nhánh

.
Bây giò em trở thành con búp bê
“Oh my darling, oh my darling
Oh my darling, Clementine
You are lost and gone forever”
Emà có nghe tôi hát không
Con búp bê nhắm mắt mở mắt của tôi
Con búp bê có mái tóc cột đuôi gà mun đen vì gội đầu bằng nồi bồ trầm luân khổ nạn của tôi
Để tôi dược yêu dấu chải đầu
Xoa bóp bờ vai
Để tôi đẩy xe búp bê đi
khi nàngChementine của tôi trở lại
***
Dứa bé khi ôm con búp bê vào lòng
hát à ơi
Nó đang tập một ngày làm hiền mẫu
Còn tôi đẩy búp bê em đi
Hhành lang vọng về tiếng dương cầm
Chúc mừng

tôi là người hạnh phúc nhất

Và con tim tôi cũng trổi dậy làm thơ tình Tuổi Tám Mươi”
Bài thơ “Một Chữ”:

Khi thời gian cướp của tôi gần hết
Mỗi ngày tôi vẫn đẩy xe tình
Mắt tôi lòa, ừ, thì tôi zoom in
100 chữ đánh sai, tôi chỉ cần một chữ
Một chữ mà tôi mang vào hơi thở
Khi tôi buồn, khi quá đổi cô đơn
Một chử nằm lòng, giữa nhớ nhớ quên quên
Một chữ viết đầy trên trang nhật ký
Tôi đi đứng khó khăn, xiêu xiêu đổ đổ
Nhưng những ngón tay tôi còn nắm chặc tay em
Và khi em phát ra từ hai bờ môi câm
một tiêng là tôi như hồi sinh trở lại
Tôi cung vậy, bêm em, tôi thầm thì một chữ
Từ lúc quen em đến lúc xế chiều
Nghe máu thanh xuân đang chảy lại trong người

Vầng trăng bỏ lại

VẦNG TRĂNG BỎ LẠIt
tản mạn
Trăng là của chung. Nhưng đối với người thi sĩ, trăng không còn là của chung nữa mà là của riêng.Xin hãy cho tôi giữ làm của riêng cho tôi:
Nửa đêm, như thể ngày xưa ấy
Mấy thằng trải chiếu dưới đêm trăng
Trăng sáng phơi trên hàng kẽm lạnh
Rồi chảy vào bát rượu bâng khuâng
{Thơ THT)
Đêm vườn sau, còn tôi với trăng
Trăng vì lạnh, nên mờ không đủ sáng
Tôi cũng lạnh, nhưng lòng tôi rất ấm
Lâu lắm rồi, tôi không có bạn, trăng ơi
Đêm vườn sau, con dế gáy mỏi mê
Tiếng rụng nhẹ, một lá khô từ giã
Tôi đứng yên, và ngẩn ngơ, nín thở
Nghe vô cùng, gần gũi của vô biên
Và hình như tinh huyết của càn khôn
Đã lai láng cả một vườn không ngủ
Dịu dàng nhé, âm dương đang kết tụ
Và muôn loài đang âu yếm, sinh sôi…
Đêm vườn sau, còn tôi, với trăng
Trăng đang thức, lõa lồ không manh vải
Trên tàn lá sồi, trăng lai láng chảy
Trên người tôi, cũng vậy, chảy giòng trăng…
(thơ THT trích từ thi tập Ô Cửa)
Trăng đến với tôi khi người khác ngủ. Trăng soi dẫn đường tôi đi. NTrăng làm hàng người  di chuyển đổ bóng xuống trên đường đất màu trắng như bánh tráng, để người thi sĩ nín thở thấy mình hòa nhập vào cõi trăng mà quên đi cõi dữ:
Nửa đêm có lệnh di quân
Vầng trăng trên ấy vội vàng đuổi theo
Cánh đồng vàng cũng vươn vai
Con đường đất cũng chở trăng đi cùng
Đất trắng phủ thảm màu trăng
Thấy những bóng hình người lính nhấp nhô
Vậy mà tôi lại đành đoạn bỏ trăng mà đi. Đêm ấy trăng không lớn lắm, nhưng trắng vừa đủ sáng để soi chỗ sông giao tiếp với biển. Hai bên là hàng dừa nước. Thuyền không dám chạy bằng máy tàu mà là chống, chèo vì tại đây có một đồn công an. Tôi đã dùng can nước để múc một can dự trử. Tôi thấy tôi múc cả trăng. Xin đừng nghiêm khác biện giải comment còm. Hãy cho thơ mọc. Hãy cho thơ hiển linh. Hãy cho thơ ca ngợi màu trăng vì đời thì quá ảm đạm.
Khi ra đầu vàm trăng mới mọc
Khi ra cửa biển trăng theo sau
Múc vội can nước trăng theo vào
Uống vội hớp nước nghe mằn mặn
Không biết vì nước hay vì trăng ?
Ở cửa biển vị nước có vị mằn mặn là dĩ nhiên. Nhưng mà tại sao vị như là vị mặn của nước mắt. Hay là trăng khóc ?. Vì sắp mất đi một đứa con của quê hương

ĐẸP

ĐẸP

tản mạn THT

Niềm vui nở búp mọi mùa. Người thi sĩ có đất đai vườn tược để trồng niềm vui ấy.
Người thi sĩ không có mùa xuân, mùa hạ, mùa thu mùa đông. Người thi si chỉ có một muà hạnh phúc.
Nếu so sánh một ngừoi đi thăm Vịnh Hạ Long hay đi du hành bằng cruise, và một người lính do quân
trong một đêm trăng, ta sẽ thấy sự khcác nhau rất xa. Mội đàng là cảnh tượng biển trăng hùng vĩ làm
người thi sĩ phải ngây ngất, cảm thấy mình nhỏ bé lại. Một đàng như một kẻ lội trong môt biển trăng
mênh mông không biết đâu là bến bờ. Con đường làng, trăng biến màu đất sét thành màu bánh tráng.
Và trăng soi bóng người lính trên đường di chuyển. Trăng làm cánh đồng đã vàng nay dát cả một lớp
nhũ kim bao la bát ngát. Khác với người du khách,   bài thơ cuả người linh không phải ca ngợi cảnh tương hùng vĩ mà là đôi mắt

long lanh ánh trăng:

Đêm trăng qua làng em
Dừng quân bên hiên nhà nhỏ
Trăng lung linh trên tàn vú sữa
Xôn xao gió gọi thì thầm
Em nhìn lên bầu trời vô tận mênh mông
Tôi kể em nghe về chùm Hạc Trắng
Tháng giêng bầu trời đầy sao lấp lánh
Con hạc bay về thăm lại quê hương
Em thấy gì không, đuôi nó dị thường
Vì sao sáng giữa hằng hà tinh tú
Vì sao sáng đang cùng nhau nhảy múa
Như cả bầu trời mở hội hoa đăng
Em nhìn lên, đôi mắt long lanh
Tôi bắt gặp thêm hai vì sao yêu dấu
Em mười lăm, hết giêng mười sáu
Tôi hứa trăng tròn trở lại thăm em +

Bây giờ tôi bỏ làng cũ lưu vong
Bỏ những đêm qua vườn xưa hương cau hương bưởi
Bỏ ngọn gió thì thầm trên tàn vú sữa
Bỏ con hạc trời trở lại hằng năm
May mà tôi còn có hai vì sao xa xăm…

(Con đường trăng, trong Ô Cửa, thi tuyển THT, tái bản nhiều lần)


Câu hỏi:
Ai là người hạnh phúc ?

Thi sĩ bụi

1. Lâu thật lâu không làm thơ. Lý do bận làm Thư Quán Bản Thảo số 99 chủ để Tưởng nhớ những bạn bè đã khuất và tạp chí Chỉ Đạo.
Nay bảo đã được phổ biến. Thở phào. Và thơ lại chảy.

Mời đọc bài thơ mới:

Mở cửa

Ta mở cửa nhà mời bạn bè tới viếng thăm
Nhà dù chật, nhưng tình ta không chật
Nhà láng giềng đã họp bầy picnic
Chẳng lẽ nhà thơquay lưng  với trái tim cùn
Khi vào nhà dừng bày đặt cởi giày
Bởi lão già mấy năm sống như người đạo sĩ
Bụi thì bẩn, mang vi trùng lây nhiểm
Nhưng ta vẫn an toàn chẳng covid cô vi

Khi bạn hiền ta Luân hoán còn xem hạt bụi trổ thơ (1)
Thì bụi cũng mang hồn thơ đến viếng
Có nghĩa lý gì khi ta đứng trên đỉnh gió
Gió ào ào bụi thốc kích ngày đêm
Da ta dày, lớp lớp bụi quê hương
cơn gió nồm Nam vu vù bay đầy trời bụi trắng
Bụi trắng áo quân trắng lên đầu tóc
Thêm bùn non sơn phết bộ treilli
Ngaỳ đầu lên rừng gió rít u  u
Gió cuốn bụiithay nhau chào mừng khách mới
Mưa vần vũ mưa tối trời tổí đất
Buị vũ vần mờ mịt sáng chiều hôm
Lính  làm  ở thành quần aó thơm tho
Còn ta buị mù phết hồ dán  thêm lớp vãi

Vậy mà không bao giờ lính than lính thở
Bởi chung quanh có đồng đội chịu cùng
Ghé quán bên đường gọi cốc xây chừng
Thấy loang loáng bụi rừng thêm gia vị

***
Lại một ngày nữa chờ đến mòn hơi
Lũ bạn ta đâu. Có thằng vừa mất
Nhà của ta mở hoài đợi khách
Không thấy khách đâu chì những tin buồn
May mà sáng nay có người viếng thăm
D8ang ở bên hè nhởn nhơ gặm cỏ
Nai đến viếng là nhà đâu có khổ
Giàu lộc đất trời giàu lộc trần gian
Lộc của bạn bè không gặp mà quen
Lộc của nghĩa tình những ngày khốn khó
Lộc hoan hỉ trên từng bàn chân tập bước
Lộc mừng vui ở chiếc gậy reo vang
Hãy gắng nắm tay , dù những sợi gân câm
Gắng nắm lại, để giữ gìn ta nhé…

Để ta có thể ra xe và vững lái
Về thăm mợt người thân dấu của ta
Hiện đang ở trong lò khổ nạn trầmluân

(1) Cám ơn đất đá trổ thơ, lòng ta hạt bụi vu vơ bám hoài – thi phẩm của Luân Hoán

Sự Mầu Nhiệm của Nghệ Thuật

Tản mạn của Trần Hoài Thư 

The Most SHOCKING Audition of All Time! Blind Autistic Singer Kodi Lee on America's Got Talent - YouTube
Kodi Lee

1.
Lúc chưa có đại dịch ồ ạt tấn công quả đất, thế giới mạng xôn xao về chuyện một thí sinh của chương trình “America’s Got Talent” đã làm chấn động những người yêu nghệ thuật qua sự diễn xuất tuyệt vời có một không hai của chàng. Đó là Kodi Lee, 22 tuổi, mù và bị chứng tự kỷ (autism). Autism là căn bệnh về thần kinh não bộ, ảnh hưởng phần lớn ở tiếng nói (communication).
Thú thật tôi đã xem biết bao nhiêu lần về cái video này. Cứ mỗi lần xem là mỗi lần muốn rưng rưng!

Có phải đây là một ân sủng mà Thượng đế đã dành cho người bị mất mát quá nhiều chăng? Mù đã là một sự bất hạnh khủng khiếp rồi, huống hồ lại thêm chứng autism.
Và cái ân điển này chính là âm nhạc. Chính âm nhạc đã cứu Kodi Lee như lời của thân mẫu chàng nói trước ban giám khảo khi giới thiệu về con bà:
“Through music and performing he was able to withstand living in this world. When you’re autistic, it’s really hard to do what everybody else does. It actually has saved his life, playing music.”

Trên trang này có nhiều lần tôi đã nói lền niềm cảm tạ nghệ thuật, đặc biệt là âm nhạc. Nó đã giúp Y. giúp tôi. Cứ mỗi lần Y. lên cơn, là mỗi lần tôi mở youtube cho Y. nghe bài Chùa Hương, Tóc Mây, hay những bài thơ của TTKH qua giọng ngâm của Hoàng Oanh. Không phải lần nào cũng có hiệu quả. Nhưng phần lớn chúng giúp cho Y. giảm cơn mê loạn, bão từ từ rời xa để trôi ra biển. Và Y. đắm chìm trong cõi âm nhạc. Y. nín thinh. Đôi mắt đăm đăm nhìn vào màn ảnh nhỏ.
Sau một hồi, là Y. lim dim mắt.

Dưới đây là một bài thơ và bài văn tôi làm vào cuối năm 2018, để nói lên sự mầu nhiệm của nghệ thuật:
NGỦ
Với em bây giờ một vạn lời kinh
Cũng không bằng Hà Nội Ngày Tháng Cũ
Một vạn lời cầu nguyện
Cũng không bằng một giấc ngủ
Để em quên đi những khổ nạn cuộc đời
Em có hay là tôi cũng ngủ rồi
Nhưng cuối cùng cũng sẽ thức cùng nỗi buồn khủng khiếp

2.
Ông bác sĩ chuyên khoa tâm lý hỏi Y.: Bà ăn được không? Bà ngủ được không? Bà có thấy ác mộng không? Chiến tranh VN có ảnh hưởng đến bà không? … Tôi đứng bên, dịch những câu hỏi của ông ta. Nhưng Y. cứ nhìn chăm chăm vào ông, đôi mắt vô hồn. Tôi biết Y. đâu có bao giờ hiểu câu hỏi để mà trả lời. Y. đã mất cái ý thức hay nhận thức. Bây giờ tôi đại diện Y. để trả lời ông. Ông lại hỏi tiếp: Thú vui của bà là gì? TV? Đọc sách?

Trời ơi, ông làm như Y. là một người bình thường. Tôi lại trả lời: Nhà tôi rất thích âm nhạc, hội họa… Cách đây một năm, nhà tôi lên cơn la gào, bảo bạn bè tôi đến nhà lấy hết những bức tranh của bả hết rồi. Tôi chỉ còn cách là chụp hình những bức tranh ấy để làm bằng cớ. Bà rất yêu tranh ảnh. Cũng như âm nhạc hay những folk song… Khi cho bả ăn xong là tôi mở tablet để bả nghe nhạc… Một đỗi bả ngủ. Ông bác sĩ nghe xong liền rà iPhone mở một bản nhạc Việt. Có lẽ ông search google “Vietnamese song”. Ông đưa iPhone đến trước mặt Y. hỏi: Bà thích không. Y. nhìn chăm chăm chăm vào iPhone, bỗng buột miệng: I like classic music. Danuble bleue… Tiếng Mỹ tiếng Pháp trộn chung. Ông bác sĩ ngẩn ngơ. Tôi lại thay mặt nói với ông về sở thích của Y cũng như về sự mầu nhiệm của nghệ thuật. Có lẽ tôi là sư phụ của ông. Bởi ông chỉ có bằng cấp. Và tôi thì có kinh nghiệm. Bởi cái bằng cấp này chẳng giúp gì một người bệnh như Y. Làm sao hiểu cái não bộ bị “damaged” nghĩ gì. Ông cũng đã từng nói job của ông là nói chứ không phải cho thuốc mà. (My job is talking not giving medecine). Nhưng tôi không nói. Nói cũng vô ích. Tôi có thuốc. Làm sao ông biết có một phương thuốc mầu nhiệm là nghệ thuật mới có thể giúp bệnh nhân trong lúc này. Và làm sao giúp tôi còn đứng vững đôi chân khi suốt ngày nước mắt thấm lạnh trước những cơn điên loạn tội tình của người bạn đời. Làm sao ông biết tôi lịm thiếp trước một câu thơ hay ngây ngất trước một ý tưởng trong cuốn tiểu thuyết “L’homme qui voyagea seuil” của CV Gheorghiu….

3.
Nghệ thuật không phải là món ăn ngon lạ hiếm. Nghệ thuật không phải là đi xem Chùa Hương, Vịnh Hạ Long, Vạn Lý Trường Thành… Chúng là hình ảnh. Chúng chẳng mang gì cảm xúc như khi ta đứng trên đinh đồi hỏa lực ở Tân Cảnh, mây làm oai đụng ta, nhưng rẽ làm đôi xuôi chiều tiếp tục tái giang hồ. Va sương thấm dày đầu tóc. Để một ngày sương núi ấy biến thành cước trắng. Những thứ đó thật bình thương nhưng thật vô cùng cảm động làm sao!

4.
Nghệ thuật. Hôm qua tôi post một bài tôi viết cách đây 18 năm về một buổi chiều chủ nhật trong quán cà phê Mỹ, trong đó tôi có đề cập đến vai trò quan yếu trong đời sống tinh thần của con người:
Cám ơn nghệ thuật đã cho đời lên hương lên phấn. Cám ơn nỗi vui nỗi buồn nức nở rưng rưng đọng theo từng giọt nhỏ âm thanh quyện vào tim vào óc. Nghệ thuật. Phục vụ nhân sinh hay vị nhân sinh. Không cần thắc mắc. Không cần bận tâm. Chỉ biết ta đang ngây ngất. Chân ta đập theo. Tim ta cũng đập theo. Như theo một nhịp luân vũ. Mùa xuân.

Và bây giờ thêm một lần tôi cảm tạ nghệ thuật. Nó là tiếng ca của Út Trà Ôn qua Gánh Nước Đêm Trăng, Tình anh bán chiếu… Nó là Con đường Cái Quan hay trường ca Mẹ Việt Nam… Nó là những video về Mùa nước nổi, về sông nước quê nhà…. Khi cái tablet đặt trên bàn bệnh nhân, sau khi bát chén, dĩa muỗng thu dọn, và sau những cơn cuồng nộ như bão cấp 10, thì tiếng ca cất lên. Người bệnh tự nhiên yên lặng, mắt chăm chú nhìn vào màn ảnh nhỏ… Tôi thì ngồi cạnh, chờ hết bài để bắt qua một bản nhạc hay một chương trình khác vì tay Y. không thể một mình làm được. Những lúc như vậy, tôi cũng để hồn vào tiếng nhạc lời ca… Có khi tôi lim dim ngủ quên…
Tôi bỗng thương hại ông bác sĩ tâm lý khi mở iPhone chọn bài Trường Sơn Đông Trường Sơn Tây. Bởi ông không hiểu nghệ thuật là gì…

Trần Hoài Thư

Đạp

Vì là vùng địch và núi nên trực thăng không đáp hay hạ thấp trên bãi bằng phẳng để chúng tôi được dễ dàng khi nhảy xuống, trái lại, nó chỉ cách mặt đất khoảng chừng 7, 8 feet để tránh bụi, tránh mỏm đá, và nhất là những viên đạn từ xung quanh băn tới. Muốn vậy, con tàu phải hạ thấp rất nhanh, và sau đó bốc thẳng lên cao, khiến chúng tôi muốn gãy ống quyển khi chạm vào đât đá. Nhất là toán trưởng . Phải đợi 4 người lính ngồi hai bên hông tàu nhảy trước rồi hắn mới nhảy. Một mặt chong chóng quay khủng khíếp một mặtnhin xuông lạnh cẳng. Ai dám vỗ ngực đâm đầu nhảy ra khỏi lòng tàu. Năn nỉ phi công hạ tàu thấp ư. Còn lâu, Hăn cũng rét muốn thoát khỏi nơi naỳ càng sơm càng tốt mà.
Hăn chỉ biết cách đạp tôi ra khỏi lòng tàu. Chẳng cần nễ nang dưới kia là vực, là buị gai hay triền nuí lổm chổm đá.
Bài học nhảy diều hâu tại Sư Đoan 1 Kỵ Binh Không vận Hoa kỳ không có màn dạy đạp kiểu naỳ. Trên chiến trừòng VN, có lẽ tay nhà thơ THT (không ai phong chức mình, thì mình tự phog cho minh vậy) là kẻ được nếm bài học “đap” naỳ. Hắn giữ gìn như báu vật, để thỉnh thoang kể lại cho đám Mỹ nghe, khiến chúng trợn mắt. Và thỉnh thoasng viết laị. Khônng biết có ai có kinh nghiêm như mình khiông. Có chứ. Nhưng toàn là người Thượng người Nùng nguời nông dân thất hoc, kẻ đào ngũ, ai lam thơ viết văn như hắn ?.
Thanh niên ra mặt trân nhiệm vụ của họ là cầm súng giết thù chứ họ không cầm viết. Còn những người người viết được thi mấy kẻ nào chịu ra mặt trận ? Nhà văn nào chịu sống và viết trong khói lửa? Nhà văn nào chịu rời bỏ Saigon để phục vụ ngoài tiền tuyến ?
Trong “Người lữ hành cô độc” , nhà văn Georghiu đã dùng lời viên đại tá cục trưởng cục tuyên truyền thuộc quân đội Lỗ Ma Ni thời đệ nhĩ dhế chiên để nói về tệ trạng này, trong :
“Nhìn này, tôi đã viết ra tên của anh,” đại tá nói. “Tôi cần những nhà báo đích thực trong đơn vị của tôi. Tôi cần những nhà báo tài năng. Cho đến nay, tôi đã nhận hai nghìn người, không có gì khác ngoài con trai, cháu trai hoặc anh em họ của các tướng lĩnh, bộ trưởng, nhà công nghiệp hoặc nhà ngoại giao Romania. Tất cả họ đều đến cục của tôi để không phải ra mặt trận trong trường hợp chiến tranh. Họ áp đặt cho tôi, tôi phải giữ họ. Nhưng tôi cần một vài phóng viên chuyên nghiệp, ít nhất là mười, những người gánh trên vai hai nghìn người vô dụng này”. ( p. 80)
Đó là ở Lỗ Ma Ni thời đệ nhị thế chiến. Còn ở miền Nam, thì sao ?
Viết ra khiông phải xấu về QLVNCH, mà muốn chứng tỏ thực trạng naỳ là thực trang chung của bất cứ quân đội nào. Viết ra, vi chẳng có ai viết. hay viết bậy, viết láo, viết cường điêu. Viết ra bởi vì nhìn hai ống chân như hai ống sậy để mà thương chúng vô tận . Dù có khi phải cười mếu:
Ta té lăn cù rơi xuống vực
kính ta đã rớt, ta mù đui
mù đui, ta đứng, vai như gánh
một cỗ quan buồn quá hắt hiu
Thật vậy, đôi chân ấy bị lịch sử còng, bị những hòn đá tảng đè nặng. Bị Đạp một cách không thương xót, hay lội trong đầm sinh mặc những con đỉa trâu hút maú no nê… Tôị cho chúng. Chúng là hai cây cột nhà giúp thân tôi khỏi xiêu đổ, vậy mà an toàn. đi đứng hiên ngang hùng dũng ngay trong thời tang hoang bi nghiệt nhất..
Nhưng trái lại bây giờ chẳng có ai đạp, ai còng, ai bắt khuân khối đá tảng vậy mà:
Và ta bị đạp thêm lần nữa
Bằng đôi chân của kẻ vô hình
Ai đạp ? thân ta giờ muốn ngả
Kính không rơi mà chân bước ngập ngừng….
(Hình : Toắn Thám kich nhảy trục thăng , lâý từ NET)
,
Có thể là hình ảnh về 4 người và ngoài trời

Giúp vợ đi vệ sinh

Tay này giữ vai bà
Tay kia cầm giấy sẵn
Bà đừng lo té ngã
Cứ thong thả tôi chờ

Cứ hít vào thở ra
Cho lòng mình thanh thản
Cho nỗi buồn khổ nạn
Trút ra khỏi tay chân

Con ve kêu mùa hè
Lòng tôi kêu mùa hạn
Em ơi, em hãy rặn
Cho nỗi buồn trút ra

Hòn đá ân nhân

Những ngày qua tôi hay nghe bài Phiến Đá Sầu của Diệu Hương. NHạc hay, ý lạ. Nó có ý nghĩa triết lý cao siêu nhưng gần gủi với thế gian. Nó ít nhiều thay mặt nói dùm cái tâm trạng của những ckẻ đau khổ vì tình yêu…
Trong Phiến Đá Sầu đá và người đồng hành, đông cảm, đồng sầu,đồng bâng khuâng:
Trăm năm như ngàn năm. Người cùng đá bâng khuâng.
 
Còn tôi, đá không phải phiến đá sầu để mà bậng khuâng mà là người ân nhân, là vị bồ tát cứu khổ cứu nạn, để tôi nương nhờ, tránh trăm ngàn đầu đạn, nghe rít, thấy những tia lửa xẹt lên khi những đầu đạn đồng trúng vào đá, rồi tức tối dộ ngược, để lại trên đá những bọt sủi bốc khói…
 
Nếu có phép mầu gì anh ước được bay về
Lên lại ngọn đồi Kỳ Sơn tìm hòn đá tảng
Anh sẽ đứng thật nghiêm và chào tay kính cẩn
Cám ơn vô cùng một hòn đá ân nhân
Chác em sẽ cau mày:
– đá đâu phải là người sao lại bảo ân nhân ?
Vậy thì anh hỏi em:
– có người nào giúp anh thoát nạn ?
Em có bao giờ thấy một người nào chắn đạn ?
Em có bao giờ nhìn những khói đá bốc lên
Và trăm ngàn tialửa hồng tức tối xẹt cuồng điên
khi những đầu đạn AK cố tiim người mà giết
 
Tha lỗi cho anh, khi em bâng khuâng cùng đá
Lá anh cúì đẫu thâm tạ hỏn đá ở Kỳ Sơn

NƯƠNG TỰA NHAU QUA TIẾNG HÁT..

.
Tiếng hát, ôi tiếng hát. Khi miệng mở lời. Khi âm thanh trầm bổng, khi nhịp điệu êm ái, khi cung bậc được định nghĩa, là âm nhạc bắt đầu. Nhưng bắt đầu từ trái tim. Để nhạc sĩ truyền đạt tấm lòng. Để người hát truyền đạt đến người nghe hay cho chính mình. Để đời được thi vị hơn, hoan lạc hơn. Để nỗi buồn ta có thể nương tựa, hạnh phúc ta có thể được chia chác với đời.
Hãy thử nghĩ nếu không có âm nhạc và tiếng hát, đời quả là buồn tẻ biết bao !
Hãy nghe đâu đó, trong rừng, tiếng chim hót líu lo. Không phải hót một mình, mình nghe. mà hót gọi đàn, gọi bạn, gọi tình. Vì tiếng súng hết rồi. Vì đạn bom cũng ngưng rồi.
Loài người bắt đầu trả lại rừng cho chim muông cầm thú.
Nhưng có khi chim cũng sợ không hót.
Chim sợ bởi vì khi không có đám người đói khát xâm chiếm rừng. Bất kể thời tiết nắng mưa, ngày ngày đám người vào mật khu tàn phá. Tràm con, tràm mẹ, tràm cha. Tràm rui, tràm mè, tràm cột. Họ đốn tất cả, không chừa một mống. Tiếng búa vang dội cả một vùng. Có khi bọn người la gào, cùng nhau đuổi một con sóc trên cành cao. Sóc nhảy chuyền từ cành này sang cành khác. Bọn người cũng không kém, dưới gốc, vừa hét hò vừa rung cây. Chỉ đáng thương cho con thú nhỏ bé vô tội, với bộ lông màu nâu pha lẫn màu huyết dụ rất mượt mà, đã phải quá kinh hoàng, rơi nhào ngay xuống biển nước. Có lẽ sợi dây thần kinh của nó bị đứt như người trong hầm bị bom dội phải long óc, hộc cả máu mồm chăng.
Như vậy, làm sao để còn nghe cái âm thanh bay bổng líu lo của những con chim rừng ?
Dù vậy, chim cũng có chỗ khác để mà đến, để tiếp tục hót.
Còn đám người kia, thì không có chỗ để mà đến. Bởi họ là tù nhân.
KHông đâu.
Bơi vì chúng tôi còn có những người thân yêu khác, cất lời. Bởi vì chúng tôi còn có những thời bất diệt khác, để tiếng hát cứu rôi chúng tôi.
Em yêu dấu. Cho dù em không phải là danh ca để mọi người ngưỡng mộ, nhưng em có anh, người thính giả độc nhất này,
Cho dù âm thanh xa xua cao vút đã trở thành khàn đục tội tình. Cho dù nhưng lá vàng thôi rơi rụng hay những vòng bánh lăn trên xe lộ mỹ không còn mang theo lời ru của em dành cho anh, nhung trong hồn anh, những lời ca tiếng hát ấy là miên viễn, chảy dài một giòng trường ca tình yêu. bất diệt…
I)
TIẾNG HÁT TUÔI TRẺ
Tiếng hát tuổi trẻ. Người con gái 17, 18 tuổi đang cất lên, chạy lướt như những đám mây xanh hồng trên một bầu trời bát ngát cao rộng. Ở một khu rừng kia, dưới những tán cây xanh ngắt xumn xuê, trên lớp lá vàng trăn trở, có ai đang ngồi hát:
“Thu đi, cho là vàng bay, lá rơi cho đám cưới về… Ngày nai, người em nhỏ bé…”
Tiếng hát và thiên nhiên đang hòa tấu. Tiếng hát đã lướt thướt cùng tiếng gió vi vu và tiếng sóng đìu hiu vọng lại. Tiếng hát đã chảy như những giọt lệ ngà ngọc thấm lạnh vào con tim người con trai. Người con gái vẫn hát. Dường như cảm thông cùng nàng, trời đất đã dừng lại. Những đám mây trắng thôi trôi về biển khơi. Cây cối im lìm trong phút chốc. Và rồi, một cơn gió lớn thổi đến: muôn lá vàng rơi rụng trên đầu, xung quanh hai người. Người con gái bỗng dưng bật khóc. “Lá rơi – cho đám cưới về ngày mai người em thỏ bé…” . Nàng đã thấy rõ những chiếc lá của mùa thu đang chia buồn cùng nàng. Đến nỗi người con trai phải van :
– Em đừng hát bài buồn như thế nữa. Anh van em…
Đôi mắt ngấn lệ, người con gái cúi đầu:
– Em cũng không hiểu tại sao.
(Tiếng hát, tạp chí Thời Tập năm 1972)
2.
TIÊNG HÁT VỢ CHỒNG
….Một đàn chim vừa bay qua, về hướng Tây. Những cánh vỗ nhịp nhàng in đậm trên nền trời đầy ráng vàng. Vài người gánh lúa đang trở về trên đường đê. Chàng nói với vợ:
“Hát cho anh nghe bài Nương Chiều đi em”
“Anh muốn nghe em hát sao ?”
Rồi nàng bắt đầu cất tiếng. Đôi mắt nàng nhắm lại. Guơng mặt nàng trông thật trang nghiêm và thành khẩn. Chiều ơi. Lúc chiều về gặt lúa nương khoai. Trâu bò về dục mõ xa xôi, ơi chiều. Chiều ơi…. Nàng dựa vào vai chàng đắm chìm trong tiếng hát. Thời gian như ngừng lại. Không gian như ngừng lại. Một cánh cò ở đâu vụt bay lên. Và phía xa, những bóng người gánh lúa đang qua chiếc cầu khỉ. Một con ếch nhảy xuống rạch, tiếng kêu bõm. “Chiều ơi… Chiều ơi…Chiều ơi…”Chàng châm điếu thuốc. Những sợi tóc của nàng mơn man trên má chàng. Chàng nghe cả hơi thở của nàng nữa.
Chiều ơi. Cảm tạ đất trời. Cảm tạ người nhạc sĩ. Cảm tạ em. Hạnh phúc trong tầm tay, phải không em. Tại sao cứ mơ những điều hoang tưởng. Tiếng hát của nàng cao. Chưa bao giờ chàng lại nghe nàng hát tuyệt vời như thế.
“Em hát hay quá. Chưa bao giờ anh nghe em hát hay như lần này”
“Như vậy anh thưởng cho em cái gì?”
Chàng nắm bàn tay vợ, khẽ bóp nhẹ. Hai người không nói một đỗi. Họ đang cố hưởng những gì họ đã có. Nhưng sự thật lại trở về. Bởi vì đôi mắt của nàng lại rớm lệ.
“Em lại khóc nữa”
Chàng nói.
“Ngày mai anh đi. Biết khi nào anh mới trở về cùng em. Cùng con”
Rồi nàng lấy bàn tay chàng đặt trên bụng.
“Anh sẽ về. Em tin anh đi. Anh sẽ về mà. Thế nào chiến tranh cũng chấm dứt”
“Anh tin như thế ư?”
“Vâng. Anh tin. Người ta đã ngồi vào bàn hội nghị rồi”
Chàng nói, nhưng rõ ràng lòng chàng cảm thấy không ổn. Những lời đầy cay đắng của thằng bạn chàng trên núi vẫn còn vang bên tai:
“Hội nghị. Nội cái bàn tròn, bàn vuông, bàn chữ nhật cũng mất cả tuần lễ để bàn, trong khi mỗi ngày mỗi giờ ở đất nước này biết bao nhiêu thanh niên hai miền đã nằm xuống. Mày còn tin hội nghị hay sao?…” Hải ơi, mày có lý. Nhưng tao biết phải nói làm sao với vợ tao. Tao sợ những giọt nước mắt của nàng.
“Khi lên trên ấy anh nhớ giữ gìn sức khoẻ nghen anh”
“Anh nhớ”
“Đừng uống rượu nhiều nghen anh”
“Anh hứa”
“Đừng thức đêm nhiều nghen anh”
Tội nghiệp nàng không hiểu. Muốn ngủ mà không dám ngủ. Không muốn uống rượu mà phải nốc cả thau. Hoàn cảnh đã làm tuổi trẻ thanh niên già như quả đất, em làm vợ lính em lại không hiểu sao.
“Anh nhớ khấn Quan Thế Âm Bồ Tát cứu khổ cứu nạn mười lần khi ra trận nghen anh”
“Anh hứa”
(trích Mùa Xuân Ly Biệt, Văn học số 151 năm 1971)
3.
TIẾNG HÁT TRÊN XA LỘ MỸ
Còn lại hai vợ chồng già. Xa lộ
Đi về, buồn ngủ, đường lại xa
Vợ tiếp chồng
lái cho chồng ngủ
Gió lộng ngoài
gió lộng u u
Mắt ta vẫn ráo, sao không ngủ
Xe vẫn lao vào chốn tối đen
Trong cõi vô cùng yên lặng phủ
Em cất lời, bài hát quê hương
Xe vẫn lăn đều không than thở
Lời ca vẫn tiếp tục lênh đênh
Đêm vẫn đêm dài đêm không ngủ
Người vẫn đi về cùng cõi mông mênh
(Ngày vàng, Ô Cửa, 2003)
4.
TIÊNG HÁT TRẦMLUÂN
Rồi đến thời cách ly, khi sự thăm viếng chỉ giới hạn 15 phút, 2 tuần 1 lần, khi mà hệ thống thần kinh bị xáo trộn, vậy mà vẫn hát cho tôi nghe trong lần viếng thăm mới đây… khi tôi hỏi: Mình nhớ bài hát nào không, hát cho tôi nghe đi. Hỏi để mà hỏi, nhưng không tin Y. nhớ. Vậy mà Y. hát Giọng hát khàn đục, như thể đọc bài học thuộc lòng, hay bài kinh tụng. Y. say sưa hát. Ngay cả lúc người trợ tá đẩy chiếc lăn vào cửa vì hết giờ, Y. vân còn  ngoái cổ  hát lớn:
Ai qua miền quê binh khói,
Nhắn giúp rằng nơi xa xôi:
Tôi vẫn mơ lùm tre xanh ngát
Tim sắt se cảnh xưa hoang tàn
Bao nhiêu ngày vui thơ ấu
Bao nhiêu lều tranh yêu dấu
Theo khói binh lều tan tre nát
Theo khói binh lòng quê héo tàn
Y, dã sống lại rồi, Tôi cũng sống lại rồi. Chúng tôi vẫn nương tựa nhau bằng tiếng hát. Tiếng hát ngày nào vỗ về cùng cõi lênh đênh của tôi, hay ru tôi vào cơn huyển mộng, thì bây giờ tiếng hát làm chứng cho một sự hồi sinh. Màn trí nhớ không xám hăn, mà lóe lên ánh bạc lóng lánh của lời ca. Trái tim già của tôi cảm động biết chừng nào. !

Mộng và thật

Mộng và thật
Hai tuần trước. tôi gọi 911. Cám ơn tôi đủ tỉnh, để bấm số di động, KHối đá như dè nặng đầu, miệng muốn thốc, cơn lốc chóng mặt càng lúc chàng gia tăng sức mạnh. Và trời ơi, những bãi phân đen ngòm dầu cặn như điềm chẳng lành…
Lại một lần nữa, vào căn phòng cấp cứu tại JFK. Không ai biết. Không ai hay. Không tin nhắn. Tôi bây giờ là tôi, một đinh mệnh đang chờ lên bàn mỗ, bàn chụp, bàn hút máu.
Trận xoáy lốc trong đầu càng lúc càng dữ dội, Và khi người y tá chuẩn bị đồ nghề như ống hút nước biển, máy đo tim, máy đo áp huyết, Thì tôi ộc. Ộc nghiêng ộc ngửa. Ộc rồi nghỉ. Rồi ộc lại. Chừng một thau máu đen lai láng trên giường, trên nền.
Ôi, tôi biết giờ cuối cùng đã đến. Nhưng tôi không sợ. Bởi tôi đã xổ ra hết những ô uế khỏi con người tôi để rất nhẹ tấm thân mà ra đi.
Bác sĩ trù đưa tôi lên phòng ICU – phòng dành cho bệnh nhân đang ở tình trạng nguy kịch.
Nhưng lạ kỳ, áp huyết, nhịp tim, độ đường không thấy dấu hiệu của sự nguy hiểm.
Bác sĩ quyết đinh không đưa tôi vào phòng ICU nữa.
Tôi dấu tin tôi vào bệnh viện. Bởi một khi họ biết, thì facebook đầy những giòng thương hại, cầu nguyện, và đau lòng hơn nữa là cái hình một lão già hấp hối với ống nilon như cái xác không hồn.
. Bởi hình chụp không nói lên đựợc sự thật. Sự thật của một người mang niềm vui khi thấy những ô uế bẩn thiu3u trong người y xổ ra, để chuẩn bị cho một cuộc tẩy trần…,
Sau bốn ngày nằm bệnh viện tôi được xuất viện. Không ai đón. Không ai giúp. Tôi trở vè căn nhà tôi trong chiếc xe mươn tù online.
Chàng tài xế tốt bụng dìu tôi từ xe đến cửa nhà.
Và gởi lên FB một bài thơ ngắn:
Một khung trời cửa nhỏ
Ngày mở ra thiên thanh
Cây và lá xanh xanh
Xanh và xanh bất diệt
Trời quét lên vệt trắng
Sắp lóa nắng vào phòng
Tiếng gọi đò: wake up
Mái chèo đập ván thân
Ộc, ộc. ộc, ộc, ộc
Hãy trút ra bẩn nhơ
Để cõi lòng nhẹ tơ
Đẻ thơ không vướng uế
Chỉ tội cho em . Mỹ
Cuống cuồng lấy khăn lau
Ộc, ộc, ộc , em ơi
Bàn tay cho tôi vịn
May có khung cửa hẹp
Ngày mở ra thiên thanh
Cây và lá xanh xanh
Xanh và xanh bất diệt
Trên hình, thấy một khung cửa màu xanh.
Cám ơn khung cửa sổ. Nhờ nó tôi mới biết một cánh rừng màu xanh bên ngoài. Nhờ nó tôi thấy con mang niềm lạc quan hy vọng,
thay vì những giòng chữ ai oan sầu bi, phúng điếu trước đây. Tuy không được tiếp trợ băng bịch nước biển, nhưng khỏi cân, màu xanh kia đã tran trề dục liệp, và ozone rồi.
Để 3 ngày sau, với chiếc walker, kèm thêm bọc kim chỉ và trên 800 trang sách rời, tôi đến công viên cách xa nhà nửa mile. Đó là cách physical và occupational therapy tốt nhất, vừa tập tay chân, vừa hít thở ozon. Đến nơi. chọn một băng ghế, nghỉ. Xung quanh vắng lặng người. Chỉ là màu xanh. Cỏ, cay lá, và mây trời. Lại lấy sách ra khâu. Ngón tay dường như mạnh hơn khi xỏ vào xấp “signature” (tập sách con). Chắc có bạn sẽ quở: “Ngừng tay đi, người mới xuất viện.”. Nhưng thưa bạn. ngưng thì làm gì đây. Chăng lẽ trầm tư hay nhớ đến những hình ảnh băn bè phì mập, chung quanh là đầy đàn cháu nội ngoai, mà tủi thân, ao ước?
Khi mũi kim đâm xuyên trang giấy, kết nối lại với nhau, nó mang hai ý nghĩa: Khâu vá nhưng linh hồn và mang nó ra khỏii quan tài văn học sử.
Đó không phải niềm vui thiết thực hay sao? Cần gì nhắm mắt trầm tư trán nhăn má hóp, nhiều khi nghĩ mà không tìm ra lời giải.
Có phải vậy không ?

CẢM và NGHĨ

I
Mẫu đối thoại dưới đây giữa hai bệnh nhân truyền nhiểm ở vào thời kỳ cuối, trong vở kịch “Buổi hòa nhạc cuối cùng” của Thanh Tâm Tuyền, viết năm 1957, mà bậy giờ xem như tuyệt tích, được một cựu thám báo sư đoàn 22 BB  tìm ra, đánh máy lại. (Vở kịch dày khoảng 100 trang đăng trên nguyệt san Chỉ Đạo.) Chúng ta sẽ thấy sự khác biệt giữa cảm và nghĩ:
Châu .- ( cử chỉ tức giận ) Nghĩa là ông cũng nghĩ như họ là phải tránh tôi, tránh một con bệnh truyền nhiễm, lao phổi đến thời kỳ thứ ba. Tôi là người mắc bệnh, không phải là con rắn độc. .
Chính .- (mở mắt) Bà đừng nóng nảy. Tôi nghĩ như họ là phải tránh bà, con bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, nhưng tôi cảm không thể xa bà, tôi cảm và tôi không cần cái nghĩ. Bởi vậy tôi có thể, khi bà cho phép, tôi dám ghé sát vào hơi thở bà. Cái nghĩ bảo tôi những gì tôi không biết, nhưng cái cảm làm tôi rung động. Bà có nhận thấy điều đó không ? Bà không nên cáu kỉnh với họ. Họ chỉ mới nghĩ thôi. Còn tôi, tôi cảm cơ mà !
Châu .- Nhưng ông có hứa rằng đừng bao giờ ông đề cải nghĩ thắng cải cảm không ?
Chính . – Cần gì phải hứa. Chỉ khi một trong hai chúng ta nhắm mắt, ta mới thấy e ngại. Còn cả hai con người này thì chúng là hiện thân của cảm.
…..
II
Vâng, giống như Chính, dám ghé sát vào hơi thở của người bệnh lao nặng, tôi cũng vậy, với  người tình nhân.  Đó là lý do tôi cho ra đời: Thơ tình tuổi 80.    Bởi lẽ thơ bắt nguồn từ rung động, tức từ cảm. Và khi rung động cuộc đời càng lồng lộng ý nghĩa, càng đẹp đẽ não nùng. Tuổi già xác lá vàng mục thành màu thắm thanh xuân. Nhịp tim yếu nay thành rộn ràng.

Xin đăng vài bài để chúng tỏ:

1.
Walker này, trái tim này
80, tôi vẫn ra vào với em
Vẫn buồn đôi mắt nhấp nhem
Vẫn vui như thể vành khuyên gọi tình
Tay tôi cố giữ bóng hình
Lỡ chim bay mất, tôi một mình, buồn không…

2.
Một năm giờ mới ngồi bên
Ngón xương siết chặt ngón tình không buông
Ngoài trời nắng ngập hành lang
Trong này tình ngập cõi lòng già nua

3.
Một năm giờ mới đứng sau
Chiếc xe một chỗ chở người tôi yêu
Xe lăn bánh, bánh lăn đều
Tôi nương xe, tôi đẩy đời tôi theo
Bây giờ không cần walker
Xe em tôi tập đi và tập yêu…

4.
Một năm mới gặp mùi quen
Xông lên từ mái tóc đen ngạt ngào
Người ta dùng thuốc nhuộm đầu
Riêng em nạn khổ nhuộm màu đen mun
Tỏa hương ngây ngất lạ lùng

5.
Bây giờ dầu đã cạn rồi
Muốn refund mà tiếc đời vui ghê
Vui ghê, bước một thì lê
Bước hai thì lết, Gout đòi, stroke kêu
May còn chiếc xe tình yêu
Xe em ta vịn để dìu đời nhau
Để chia cùng những khổ đau
Cho kiếp sau, hết nợ nần em ơi
THT

 

Một khung cửa nhỏ

Một khung trời cửa nhỏ
Ngày mở ra thiên thanh
Cây và lá xanh xanh
Xanh và xanh bất diệt
Trời quét lên vệt trắng
Sắp lóa nắng vào phòng
Tiếng gọi đò: wake up
Kim chích liền không ngưng
Ộc, ộc. ộc, ộc, ộc
Hãy trút ra bẩn nhơ
Để cõi lòng nhẹ tơ
Đẻ thơ không vướng uế
Chỉ tội cho em . Mỹ
Cuống cuồng lấy khăn lau
Ộc, ộc, ộc , em ơi
Bàn tay cho tôi vịn
May có khung cửa hẹp
Ngày mở ra thiên thanh
Cây và lá xanh xanh
Xanh và xanh bất diệt

MỘ MÌNH

MỘT MÌNH !
Trưa nay tôi đến Viện một mình. Chỗ parking dành cho người tàn phế không còn chỗ trống nên tôi phải đậu xe hơi xa cửa viện. Câu hỏi được đặt ra là tôi có nên dùng walker hay không. Nếu dùng thì gặp ít nhiều trở ngại trong việc đẩy xe hay chờ đơi người trợ tá đẩy xe ra ngoài vườn hoa… Cuối cùng tôi quyết định không dùng walker. Tôi sẽ như môt người bình thường dù bước đi chậm hơn, dù leo lên bậc tam cấp khó khăn hơn.
MỘT MÌNH !
Vâng tôi sẽ chúng tỏ răng con rùa, con chó già này sẽ đến mức. Tôi quen với “một mình” rồi. Chiếc phản đen tuổi thơ đã lụt ngập nước mắt của một vì sao côi cút. Một mình. Tôi không cần ai thương hại tôi, kể cả má. Tôi thây màn võng mô của đôi mắt má xám xịt, hiện lên những sợi gân đỏ huyết. Tôi băm môi, để má tát vào mũi, để hai giòng máu cam tuôn ra xối xả khi ngoan cố không xin lỗi. Một mình. Tôi làm sao biết chính một mình mà trời vô lượng, vô bờ vô ngã vo minh hư vô ấy đã giúp tôi bỏ đi cái võ Tran quí Sách, mà thành Trân Hoài Thư.
Vâng một mình, tôi chưa một lần có ai ban cho hạt lệ mềm để lệ tôi, lệ người hòa trộn lại, mang xuông tuyền đải cho khối tình chàng một mình này khi tôi năm trong phòng cấp cứu hồi sinh. Một mình, tôi mang súng và cây viết làm người lữ hành cô đơn của C. V. Georghiu….Một mình, cô đơn hơn cả vì sao cô đơn trên bầu trời. Bởi mỗi năm trời vẫn động lòng cho đàn chim ô thươc bắt cầu. Còn tôi, chỉ là một con đường trăng sáng bạc, bóng tôi nửa đêm đổ hiện trên đường di quân, Nó đồng hành với tôi, nhưng nó không bao giờ tôi bắt được để giúp tôi có bầu có bạn đở buồn.
Tôi mở cửa dùm người nhân viên UPS. Anh ta liên tiếp cám ơn, cám ơn. Anh ta đâu có biết tôi là kẻ tật nguyền. Rôi vào phòng tiếp khách. Đo nhiệt độ. Ký mấy giấy tờ. Tôi hỏi cô trực: Tôi có thể vào phòng vợ tôi đẩy xe ra ngoài kia không. OK. Ông cứ vào phòng bà.
Tôi bước hiên ngang. Tay như đánh nhịp . Chân bước dài. Tôi hiên ngang hùng dũng như vị tướng duyệt binh. Và tôi tìm đến phòng mình.
Cám ơn mình, dù mình không còn nhận ra tôi, nhưng tôi biết là tôi không còn một mình nữa. Tôi vẫn có mình bên cạnh.

Ngày tình nhân

Ngày tháng của tôi cấm túc trong nhà
Hết covi, lại thêm một lần bị stroke
Nắng ơi, sao nắng làm đôi chân ta ngứa ngáy
Lâu lắm rồi mùi phở vẫn tương tư

Tôi chẳng hãnh diện gì với những chiên thương
Những tôi hãnh diện cái lưng mình đứng thẳng
Máu nóng của một thời làm quân cảm tử
Đến tuổi này, vẫn còn nóng cả châu thân

Nóng để còn bước mạnh đôi chân
Không walker, khiông cần con đưa tay vịn
Nóng để làm hâm những giòng lệ lạnh
Khi cố bò, cố lết, đau quá, trong đêm

Bởi vì khi la, chỉ bốn vách rụng rời
Không ai biết mà chăng cần ai biết
Để sáng dây, a, hôm nay là ngày thứ sáu
Ngày Valentine đặc biệt của ông già

Một năm, ngày Valentine chỉ đến một lần
Còn tôi mỗi tuân ngày Tình Nhân đên ngày thứ sáu
Trên băng đá trong khuôn viên nhà Dưỡng Lão
Tôi ngắt canh hoa hồng thăm đỏ chờ người

Cho dù bây giờ nảng không còn nhận ra tôi
Nhưng tôi cũng thầm thì, bên tai nàng, rất khẻ
Ngày nhân tình tôi mang tặng mình cái hoa thắm đỏ
Tay mình liệt rồi, tôi để trên ngực áo nghe mình…

Tạp chí Chỉ Đạo (1956-1962)

Tạp chí Chỉ Đạo là cơ quan ngôn luận của Bộ Quốc Phòng VNCH.  Cá nhân viên tòa soạn  là quân nhân. Ngay cả nhà văn Nguyễn Mạnh Côn muốn có chân trong tờ báo cũng phải chịu cấp bậc Thiếu úy đồng hóa.
Báo ra mắt vào năm 1956, khổ  nửa trang giấy nhật trình. Chủ Nhiêm   Trung Tá  Nguyễn văn Châu. Riêng vai trò chủ bút có đến 3 người: Thời kỳ đầu (1956-1957) là đạii Úy Ngô Quân, thời kỳ hai từ 1958-1961 là thiếu úy đồng hóa Nguyễn Mạnh Côn và cuối cùng năm 1962 là nhà văn Kỳ văn  Nguyên…

Nhắc đến Chỉ Đạo, ta liên tưởng ngay  đến nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.  Ôngmới là người có công rất lớn trong việc khai dựng tạp chí Chỉ Đạo, biến  tạp chí quân đội này  thành một tạp chí có tầm vóc.

Chỉ Đạo là tạp chí đăng sáng tác đầu tiên của Doãn Dân (truyện ngăn “cái vòng,” 1959), và Duyên Anh (truyên “Hoa Thiên Lý”, 1959). Hai người này về sau nay dều thành danh.

Nhà văn Duyên Anh đã so sánh Chỉ Đạo với Sáng Tạo, và cho răng chính tờ Chỉ Đạo đã giúp ông thành công trên con đường văn nghiệp:,  Ông kể lại trong hồi ký ” Nhìn Lại Những bến bờ”, như sau:
…Vùng hoạt động của tôi mới chỉ là tạp chí Chỉ Đạo, tạp chí không bầy bán, muốn mua không có, tạp chí của độc giả có trình độ thưởng ngoạn cao. Tôi được độc giả chú ý nhiều từ Khúc rẽ cuộc đời. Trong cuốn Call it experience, văn hào Erskine Caldwell truyền cho những người muốn trở thành nhà văn kinh nghiệm này: Bạn hãy gửi truyện ngắn của bạn cho một tạp chí văn chương giá trị. Chừng nào người ta đăng truyện của bạn, đó là lúc bạn biết bạn có thể viết văn được. Tôi đã, bất ngờ, rơi vào trường hợp này, rơi thật nhanh nhờ nhà văn Trúc Sĩ ném tôi đúng chỗ. May mắn hơn, tạp chí Chỉ Đạo đã đăng liên tục truyện ngắn của tôi. Nếu Trúc Sĩ ném tôi vào tạp chí khác, Sáng Tạo của Mai Thảo chẳng hạn, họ, có thể, sẽ đăng truyện của tôi, nhưng không đăng liên tục, chắc chắn tôi không được độc giả chú ý nhiều. Tôi phải biết ơn Trúc Sĩ và tạp chí Chỉ Đạo. Trúc Sĩ đẩy tôi đến Chỉ Đạo, Chỉ Đạo cho tôi cơ hội thực hiện ước mơ.

NHà văn Phan Nhật Nam kể  lại về một bai thơ  mà ông không bao giờ quên bài thơ của Thủy Thủ  đăng tren nguyệt san Chỉ Đạo được  bạn ông , Phan Duy Nhân đọc trong căn phòng nhỏ  ở Đà Nẵng lúc ông mới 16, 17 tuổi::

 

Đem tình thương dựng nên đời
Không tro tàn bếp lạnh
Mỗi độ xuân sang
Rộn tiếng trẻ thơ cười..

Mắt anh rực sáng ánh lửa nhiệt tình, ngọn lửa chân thật mà người chỉ có được lúc đang tuổi trẻ – ngày chưa bị vướng bận bởi những hệ lụy, lo toan, mưu định bẩn chật của cuộc sống – khi đọc những lời thơ đằm đằm cảm xúc. Những câu thơ của Thủy Thủ (Trung úy Thái Trần Trọng Nghĩa, Binh chủng Biệt động quân, khoá 14 Trường Võ Bị Đà lạt, theo viên chỉ huy, Đại úy Phan Lạc Tuyên trốn vào mật khu cộng sản sau biến cố quân sự 11 tháng 11, 1960 do Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng cùng một nhóm sĩ quan xử dụng lực lượng nhảy dù đảo chính, lật đổ chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm), đăng ở trang đầu số Xuân Nguyệt San Chỉ Đạo của Cục Tâm Lý Chiến QLVNCH được Dinh đọc to thêm lần thứ hai, tóc anh xòa xuống trán, những ngón tay đưa lên, run rẩy cảm xúc, nhiều kịch tính.. Đám chúng tôi, tuổi 16, 17 ngồi nghe, nhìn anh thán phục, chen lẫn tự hào.
(Phan Nhật Nam: Cơn Cùng Tận Với Khổ Đau)

THƠ DUYÊN ANH tren CHỈ ĐẠO

Sáng tác thơ đầu tiên của Duyên Anh xuất hiện trên Tạp chí Chỉ Đạo vào năm 1960. Đó là bài NGƯỜI MẸ TÂY NINH. Sau đó thơ Duyên Anh xuấ hiện khá đều đặn như CON CHIM XANH TÌNH ÁI ), XUÂN MÌNH , EM BÉ

 

Bà Mẹ Tây Ninh

 

Tôi về làng Trảng sơn
Thăm bà mẹ gặp ở Sàigòn
Dạo ấy hàng dừa bên bờ ao trái hãy còn non
Và vú sữ chưa ngọt mùi vú sữa
Đến chẳng hẹn hò
Mẹ mừng vui hớn hở
Mi rưng rưng chơm chớp, dạ xôn xang
Thoáng ngập ngừng nhìn mái lá tàn hoang
Chân dừng lại: Mắt già mắt trẻ
Quê miền Đông sao mà nghèo nàn thế

Rừng nối rừng đất liền đất xác xơ
Đón mạ xanh không biết có bao giờ
Bông lúa mẩy của Cà Mau, Đồng Tháp
Đường gập ghềnh,
con ngựa gầy mệt nhọc
kéo lê xe thổ mộ vài người
Ở đây ít nói
ít cười
Buồn như nắng hoàng hôn
chầm chậm nhỏ

xuống núi Bà
mờ mịt phía trời xa
Giàn mồng tơi gió lay sụp đổ
Tiếng ru nức nở
Nhịp võng sầu tênh
Ù ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi
Nghìn xưa trăm trứng phân ly
Nghìn sau Rồng với Tiên chia hai bờ
ù ơ…

Mẹ muôn thuở đẹp thơ
Sừng sững Bà Đen, huy hoàng thánh địa
Biển có khi nào lên nguồn không nhỉ?
Mà máu đào xuôi ngược lại về tim
Máu về tim, máu đoàn viên
Anh em hận thù, anh em phiêu bạt
Mẹ xoè đôi tay tưởng chừng mất mát
Vẫn còn nguyên mười ngón
Mẹ ơi!
Đan nhau, mẹ bỗng bùi ngùi

Đất nghèo quê khổ, đời đời héo hon
Mẹ già thèm bát canh ngon
Mải mê chém giết, bầy con tuyệt tình
Mẹ Tây Ninh
Ôi, bà mẹ Tây Ninh
Con mẹ đây, người thợ gặt oan khiên
Người thợ cấy mộng mơ
giữa nơi rừng hoang,
đồng chua lầy lội

Con mẹ đây
tương lai chờ đợi
Trầy bả vai cho những bát canh già
Cuốc cày đâu, để con vỡ đất nhà
Gieo mầm sống, mầm nhân sinh mãnh liệt
Hỡi những trăm năm trải dài oanh nghiệt
Sẽ thăng hoa một hạnh phúc khôn cùng
Sẽ núi hôn đồi
biển gọi hồn sông
Sẽ lời dừa non ru ngoan vú sữa
Sẽ lục bát ngô,
ca dao lúa
Trống rộn đêm xuân ngây ngất hội đình
Con nằm nghe nắng trách trời xanh
Nghe cuộc đời hồi sinh phơi phới
Cuộc đời bao la,
nồng nàn hương mới
Đá biết tương tư,
sỏi vỡ môi cười
Mẹ ơi, tha thiết lắm rồi
Mất gì, không mất tình người Việt Nam

Ấy ai khắc khoải dặm ngàn
Về vun dân đạo, bắc giàn yêu thương
Khi hoa nhân ái rợp đường
Người quê hương với quê hương rộn ràng
Mẹ thôi buồn
Con quên mưa gió
Cửa bốn phương bỏ ngỏ
Hỏi nhau chuyện tình yêu
Con lại về thăm Trảng Lớn
Thấy mẹ nằm ngủ thiu thiu

Ruộng nhà con gái xanh mơn mởn
Bầy cháu tung tăng chạy thả diều

(1960)

 

Em Bé

Hôm nay em đi học
Mắt ngời ánh hào quang
Những vì sao mới mọc
Thắp lửa rực huy hoàng

Trang vỡ lòng thầy dạy
Đánh vần chữ Việt Nam
Con ơi, nước con đấy
Đẹp tự bốn nghìn năm

Tay mềm tô nét viết
Xanh mướt nghĩa yêu thương
Chao ôi là tha thiết
Mộng ước gởi ngàn phương

Tiếng em mùa xuân ấm
Bài quê hương loài người
Không biên thùy ngăn cấm
Không ai khóc cuộc đời

Và mai hồn thơ ấy
Cây hạnh phúc muôn thu
Xin đừng ai nỡ dạy
Em tôi nói căm thù

Duyên Anh ( 1960, tạp chí Chỉ Đạo)

 

Con Chim Xanh Tình Ái

 

Em rụt rè tháng chín
Từ tháng chín tới nay
Tâm hồn anh gói kín
Yêu em em có hay

Em hồn nhiên tháng mười
Anh ngại ngùng dò hỏi
Phải em gửi nụ cười
Cho tình anh trôi nổi

Em đơn sơ tháng một
Anh chiêm bao tình cờ
Em làm sao biết được
Trời trong anh ngẩn ngơ

Em tuyệt vời tháng chạp
Nhìn em anh ngại ngùng
Mùa xuân nào chim hót
Mùa xuân anh nhớ nhung

Con chim xanh tình ái
Bây giờ đã tháng giêng
Một mình anh mòn mỏi
Đi trên nỗi ưu phiền

(1962)

Xuân Mình

Nhà anh ở bây giờ
Mùa xuân hoa chưa nở
Chăn chiếu của người ta
Đắp hồn hoang đi trọ
Sao em năng tới lui
Vì cổng then buông ngỏ
Vì không phải bấm chuông
Vì không nuôi chó dữ
Vì em sợ anh buồn
Vườn anh trồng thương nhớ
Nuôi chim bằng tình yêu
Lồng tre ba bốn cửa
Anh lười chả muốn cài

Chiều kia chim ướt rũ
Anh nhóm lửa hong hồn
Khói làm chim cay mắt
Chim khóc anh buồn hơn
Ru chim anh khẽ thở
Thấy chim thiu thiu ngủ
Anh ngồi anh ước mơ

Nhà anh ở bây giờ
Mùa xuân hoa đua nở
Anh thôi đời ở trọ
Sẽ nghĩ chuyện làm thơ
Viết kín mươi quyển vở
Anh đan một chiếc lồng
Sơn nhiều màu rực rỡ
Nhốt kín em trong đó
Vì anh cũng biết ghen
Chim chẳng còn ướt rũ
Cuộc đời rụng trái sầu …
(1960)

 


PHAN LẠC TIÊP

CHỊ HOÀI

Chị Hoài nhìn ra ngoài cửa sổ. Nắng chiều chiếu xiên vào chỗ chị ngồi. Hình dáng quen thuộc của ông Tàu bán mía hấp, vắng bóng ba ngày Tết, hôm nay lại hiện đến. Vẫn cái giọng khàn khàn. Vẫn bước đi lần vào lối ngõ, mà hình như ông vẫn mặc cả cái áo như bao giờ ông vẫn mặc – cái áo màu đen buồn. Chị Hoài khép cửa lại, nhà nhẹ thở dài. Con mèo vừa mất một khoảng nắng để hong mình, vươn mình đứng dậy.
Tiếng rao mía hấp xa dần. Tất cả đều vắng lặng. Thời gian như dừng hẳn lại. Chị Hoài bỗng thấy lòng mình mênh mông hơn. Chị nhẹ nhàng đi vào trong buồng, nằm dài trên giường. Mắt chị mở chừng chừng như đang chăm chú nhìn một vật gì trên trần nhà, nhưng thực ra chị không nhìn gì cả. Chị vương vấn buồn. Không khí rộn ràng của ba ngày xuân vừa qua đi..
Hôm nay mùng bốn, mai mùng năm, ngày kia…
Chị hình dung thấy ông Vũ lại mỗi ngày đúng bây giờ, đạp chiếc xe máy dầu đi làm. Cô nữ phụ tá ở ngõ trong lật đật đi những bước dài như sợ nhỡ chuyến xe. Và muộn hơn chút nữa lại vẫn cái cảnh đôi vợ chồng trẻ ở trước mặt âu yếm nhau trước khi người chồng đi làm. Lại vẫn người vợ ẵm đứa con nhỏ đưa ra trước mặt chồng. Người chồng cúi thấp xuống, lấy ngón tay chở quệt vào má đứa con. Và cuối cùng thế nào cũng nhìn vợ âu yếm, rồi mới thong thả dắt xe đi.
– Đến là ghét !
Chị Hoài nói thế, nhưng ngày nào chị cũng để ý đến cảnh ấy cả. Vô tình cảnh ấy như có một sức gì thu hút chị. Đã nhiều lần, sau khi nhìn đôi vợ chồng ấy âu yếm nhau, chị quay ngay đi, và đã hứa với lòng là không bao giờ để ý đến nữa. Song nói thì nói thế, chẳng mấy chốc chị lại quên ngay và ngày hôm sau chị vẫn đúng giờ ấy để ý đến cảnh ấy của đôi vợ chồng nhà trước mặt. Chị băn khoăn không hiểu lòng mình. Chị thấy những người xung quanh chị làm chị thêm ghét họ. Chị nghĩ thế đề cố xua đuổi những hình ảnh đến ám ảnh chị. Nhưng càng cố xua đuôi, nó lại càng hiện lên rõ rệt..
Làn gió thổi nhẹ. Tấm màn cửa uốn éo bay. Chị thấy dễ chịu hơn. Chị ngồi dậy, định đi ra ngoài sân. Đã xỏ chân vào đôi dép, thế rồi chị lại ngồi lại đây và ngồi rất lâu. Hình ảnh người vợ trẻ ẵm đứa con, âu yến nhìn chồng, lại hiện lên rõ rệt.
Hôm nay mùng bốn…
Chị nói một mình để cố quên đi hình ảnh ấy. Chị nhìn ra ngoài nhà. Hai chậu cúc vàng còn tươi tắn như muốn níu lại phút tưng bừng của đầu xuân. Nhưng trên bàn, những giỏ hoa “lay ơn” đã rã cảnh rồi. Chị thở dài. Chị nhớ đến chồng con Loan – em chị – vừa bồng bế nhau về chiều hôm qua. Gớm, cái thằng Khánh sao mà kháu thế, mới chưa đầy năm tháng mà bế đã mỏi cả tay. Chị ngồi xuống bên giường, chị lại càng thấy nhớ thằng Khánh. Mới hôm qua nó còn nằm đây, hai chân nó đạp lung tung, mồm nó cử toét ra cười. Chị nghĩ, giá chỉ có một đứa con như thằng Khánh. Đã có một lần chị ẵm thằng Khánh vào lòng, chị thấy chị sung sướng hơn, nên chị đã ôm nó chặt quả, khiến nó khóc thét lên. Mẹ nó chạy vào, đỡ thằng Khánh trên tay, nhìn chị mà không nói. Chị quay đi để tránh cái nhìn ấy. Một hồi lâu, thằng Khánh đã không còn khóc nữa, chị quay lại. vẫn đôi mắt ấy bắt gặp đôi mắt của chị, nhưng ánh mắt đã dịu đi nhiều. Chị đọc trong mắt em như có nhiều ngỡ ngàng và chưa chất một niềm thương. Rồi bốn con mắt từ từ rướm lệ. Nghĩ tới đây, hình ảnh mẹ con thằng Khánh nhòa đi.Chị nằm gục đầu trên gối. Chị như nghe thấy tiếng em thở dài. Bỗng con mèo từ trên bàn nhảy xuống. Chị bàng hoàng ngồi dậy, thoáng thấy bóng mình trong gương. Mà ở kia sao mắt chị rưng rưng. Hình như chị lại vừa mới khóc. Không, chị có khóc đâu. Chị cố vui để nở một nụ cười. Chị thấy mình vô lý. Chị phân vân mãi. Chị hóa ra sợ những phút vắng lặng như thế này. Chỉ mong sao cho thấy mẹ chị đi lễ mau về. Biết thế ban sáng chị cũng đi với mẹ chị cho xong. Nhưng không hiểu tại sao bạn sáng mẹ chị bảo chị đi, chị lại từ chối. Nói thế cũng chưa đúng hẳn. Chính lúc đó chị cũng định đi, song như có một sức gì ngượng ngùng gần chị lại. Cả mẹ chị nữa, bà cũng chỉ bảo chị qua loa. Bất giác chị thấy nhở quá những mùa xuân ngày cũ ở Hà-Nội – ngày chị mới lớn. Đi đâu má chị cũng cho chị được đi cùng. Từ những cuộc đi lễ xa, cho tới lúc đi thăm bà con họ mạc. Ngày ấy đã xa quá rồi ! Đã có tới sáu, bảy năm chị không được đi theo má chị nữa. Và cũng từ đấy ít người nhắc đến chị, ít người khen chị đẹp, khen chỉ có duyên như hồi chị còn mười lăm, mười bảy. Vả lại Loan – em chị – nó lớn lên, nó thay chân chị, nó hứng mất cả những lời khen ấy. Vô tình chị như một món hàng cũ bị bỏ quên. Có lẽ chỉ một mình chị mới thấu hiểu được nỗi buồn ấy mà thôi. Chị buồn mà lại giận em nhiều. Có lần Loan nhờ chị cài hộ cái khuy áo để sửa soạn đi chơi với má chị, hai chị em nhìn chung vào một tấm gương, chị thấy chị già và xấu hơn em nhiều quá. Lần ấy chị lại càng thấy ghét em hơn. Chị không nói với Loan có đến bốn, năm ngày. Sau hối lại mới biết là mình vô lý. Nghĩ thể song chị vẫn buồn nhiều. Bất giác chị nhớ tới một người con trai.
Thế rồi Loan đi lấy chồng. Ngày cưới nó, chị phải giúp em bao nhiêu thứ. Chị nghĩ em vui cũng như mình vui. Chị hòa mình vào cuộc vui của em. Chị không nề hà gì cả. Nhưng trái lại, chinh lần ấy có một người không biết vô tình hay hữu ý, đã hỏi chị:
– Thế nào, cô Hoài đến bao giờ mới cho tôi ăn cỗ đấy ? ..
Lời nói ấy làm chị cảm thấy nhiều chua sót. Hai tiếng ế chồng bỗng lởn vởn đến với chị ! Đêm ấy chị không – tài nào ngủ được. Chị khóc một mình. Sáng dậy mà chị thấy mắt chị thâm và lõm xuống. Hỏi chị, chị bảo là chị nhớ con Loan.

Cũng từ lần ấy, sau khi em chị đã về nhà chồng, nhà chí còn có một mình chị, chị lại được đi theo má chị trong các lần bà đi lễ hoặc đi chơi. Cũng vì thế chị cảm thấy bớt đi ít nhiều cay đắng. Nhưng lại một lần, người ta tưởng chị đã đi lấy chồng, nên hỏi chị :
– Cô Hoài bây giờ được mấy cháu rồi đấy nhỉ ?
Chị cúi xuống, thẹn quá. Từ đấy chị không bao giờ đi với má chị nữa, cho mãi đến hôm nay.
Nghĩ tới đây, lòng chị buồn vô hạn. Chị gục đầu vào gối khóc thành tiếng, làm rung cả đôi vai gầy !
Ngoài kia nắng đã xế lên hai bực thềm nhà bếp.
PHAN-LẠC-TIẾP
( Chỉ Đạo số 10 & 11 1960)

%d bloggers like this: