Ảnh chụp Trần Hoài Thư, 2009.

“ Một thế hệ mới đã vươn lên từ sự lao khổ lận đận của thế hệ tiền phong. Không phải đi khai mỏ vàng, hoặc đi tìm đất mới. Nhưng phải tự dìu dắt trên chính một nơi mà mình chẳng bao giờ lựa chọn, để mong con cháu nên người.

Trần Hoài Thư.


Lời Giới Thiệu Vài nét về anh Trần Hoài Thư: Anh tên thật Trần Quí Sách, sinh ngày 16.12.1942 tại Ðà Lạt. Nguyên quán Quảng Bình. Khởi viết năm 1960. Anh có người cha (1) rất tuyệt mà mỗi khi nhắc đến là anh lại trào nước mắt, bởi lúc nào trong lòng anh không thể nào quên được cái hình ảnh tuyệt đẹp khi người cha già năm xưa ngồi quạt cho anh ngủ trong buổi trưa hè nóng nực của miền Trung oi bức vì gió ngọn gió Lào quái ác, ngọn gió mang hơi nóng như thoát ra từ lò lửa. “Người ta thường nói về một người mẹ như một hình ảnh yêu quí nhất, tôn thờ nhất, dịu hiền nhất, nhưng với ba, cho con được ngừng lại một giây, một phút, để cho nước mắt cứ tuôn, để đôi mắt con mờ nhạt, để hiểu rằng con được tự hào có một người cha còn tuyệt vời hơn cả một người mẹ nữa. Có lần con thấy con gà trống dẫn đàn con đi kiếm mồi, con vật sao cô đơn quá. Nó có mồng, cựa, bộ lông sặc sỡ, uy dũng hiên ngang làm sao, thế mà cứ mỗi lần tìm được mồi, nó lại kêu tục tục, gọi đàn con đến… Cũng như ba. Tục tục hoài. Hết tay này quạt lại đến tay kia quạt trong những đêm mùa hè dưới mái nhà tôn. Chiếc mền đắp lại trên người con, trong đêm giá buốt. Và đôi khi, giữa đêm, con còn nghe tiếng ba nằm mớ”.(THT, Người cha) Do bối cảnh lịch sử Việt Nam vào lúc ấy, cộng với hoàn cảnh chiến tranh Việt Pháp giữa thập niên 50, (41-49), khiến cha con anh có một thời gian phải xa nhau, đó là điều không may. Anh phải chịu một đoạn đời tuổi thơ với những ký ức không mấy vui. Nhờ trời Cha con anh đoàn tụ và sau đó người cha già đã dồn hết tình thương ở tuổi xế chiều của mình cho người con trai rất mực thông minh này. Anh được cắp sách đi học lại tử tế. Anh theo học ĐHKH HUẾ, vừa học vừa đi dạy rồi cũng bị động viên vào quân trường Thủ Đức như đa phần nam nhi thời ấy. Do không thân thế, anh bị đẩy ra chiến trường. Người sĩ quan trinh sát trẻ luôn cận kề với cái chết hằng giờ, hằng ngày trong một cuộc chiến tàn bạo và thảm khốc nhất của địa cầu vào hậu bán thé kỷ 20 mà lòng chẳng chút hận thù đối phương.

Những tháng ngày sau 75, sau khi “được đi học tập cải tạo” về, gia đình anh điêu đứng. Anh là người phải lo miếng cơm manh áo cho gia đình, “nghề gì bây giờ?, nghề lính trinh sát thì anh phải trả giá bằng chừng ấy năm tù đày, nghề viết văn thì anh thì anh đã cạch và đó cũng chẳng phải là nghề kiếm cơm trong thời buổi này, “Lập thân tối hạ thị văn chương”, nghề dạy học năm xưa?, “mà ai cho anh đi dạy!”; thôi thì khi đói đầu gối phải bò. Anh đã theo bè bạn học nghề bán dạo cà rem ở Cần thơ, một nghề mới rợi của một ông giáo sư toán từng dạy đệ nhị cấp tại đất học Quảng Nam văn vật!. Có việc gì mà phải tự ái, khi mà những đồng tiền kiếm được hoàn toàn làm lương tâm ông Giáo sư toán yên ổn. Bố vợ anh là một thầy giáo già rất có tiếng tại Cần Thơ, vị thầy đã đào tạo không biết bao nhiêu người học trò thành đạt cho vùng đất này từ thập niên 40,50 của thế kỷ trước. Địa linh nhân kiệt, có một người học trò tử tế của bố vợ anh, nhớ ơn Thầy xưa, họ đã cho gia đình anh một xuất vượt biên trên chiếc ghe nhỏ trong cuộc hành trình đổi đời. Anh làm gì có tiền.

Ngay ngày ra đi Anh đã gây lộn kịch liệt với Chị trước mặt con và hàng xóm, để rồi tối đó anh thầm thì dặn chị sau vườn “nếu lỡ sau này mà không có tin anh, Em cứ lấy ngày ra đi này làm ngày vọng nhớ đến anh. Anh thề bao giờ cũng lẩn quẩn bên Em và bên con để độ trì phù hộ”. Ôm vợ vào lòng, vỗ lưng, và đặt lên trán vợ cái hôn đầm đìa nước mắt. Anh ra đi như một cuộc chạy trốn tử thần, vị thần mà ngày xưa thời lính tráng họ đã quên tên nhau. Ngày hòa bình trở lại anh lại biết sợ ông này!

Ở hiền gặp lành, ông trời có mắt! Đợi chờ biết đến bao giờ. Sống mà như đã chết, sống làm gì. Chết thì thôi! Ai cũng có số phần. Chị liều mạng dẫn thằng bé ra đi tìm cha. Một mẹ một con, mấy lần tưởng chết vì đói khát vì cướp biển. Cuối cùng họ đã đoàn tụ. Đến Mỹ họ sống nhờ vào lòng tử tế của người Mỹ bản địa. Do cả hai vợ chồng đều có cha cùng là nhà giáo, “gien” nhà nòi nay có dịp được hồi sinh. Họ làm việc tối tăm mặt mũi. Anh ban ngày đi làm, ban đêm đi học lại. Chị cũng vậy. Chỉ có học mới đổi đời. Cuối cùng anh đã đỗ MS về toán tin học tại Hoa kỳ. Một cuộc vượt thác ngoạn mục! Thằng bé năm xưa trong lần vượt biên với mẹ tưởng đã vùi thây đáy biển khi nó đeo toòng teng trên mạn thuyền trong một ngày sóng lớn, chị muốn té xỉu ngay lập tức và khóc ngất van xin, nay đã là một bác sĩ tài hoa tại Hoa Kỳ. Anh đã có cháu nội. Anh đã kể lại cuộc đời có thật của anh trong vài truyện ngắn, và trong tập truyện vừa “Hành trình của một cổ trắng.” Hy vọng sẽ được in ra rộng rãi như là một kinh nghiệm sống của một thế hệ sinh ra trong giữa thập niên 1940 -1950.

Tôi đã chép lại các bài này và gởi đến cho các con tôi, các em tôi thuộc thế hệ 8x, 9x như là một trong những điển hình về sự thành đạt của một lớp đàn anh của mình. Tôi muốn chúng biết và buộc chúng phải biết rằng đã có những con người như thế đang lập nghiệp tại quê người. Tôi cứ tự hỏi mãi, rất nhiều những người Việt tại Mỹ thành đạt là do đâu. Đa phần trong cuộc đời họ là lính chiến, đa phần học lực của họ ở mức tú tài hai, tuổi thanh xuân của họ bị chiến tranh vò nát. Họ đến Mỹ với hai bàn tay trắng, với vợ con đùm đùm đề đề. Họ hành trình ra sao trong cuộc đổi đời này? Tôi tự tìm câu trả lời không biết đúng sai bao nhiêu %. Thế hệ này ngày ấy, khi đi đến trường họ chỉ được học kỹ về lịch sử của tiền nhân qua những bài học ngắn về lịch sử thường lấy ra từ quyển lịch sử của cụ Trần Trọng Kim, và họ làm quen với văn chương qua các bài học thuộc lòng, mở đầu năm lớp đệ thất (lớp 6) bậc trung học là bài “Tôi đi học” của Thanh Tịnh, và các bài học trích từ truyện của Thạch Lam (Gió đầu mùa), Khái Hưng (Anh phải sống, Hồn bướm mơ tiên), Nhất Linh (Đoạn tuyệt), cùng vài bài trích từ “Tâm hồn cao thượng” của Hà Mai Anh. Họ học những bài văn dễ hiểu, mượt mà đẫm tình người, tình yêu cha mẹ, tình yêu thương ông bà. Lời văn dễ hiểu, lời văn không nhiều từ Hán Việt cõi trên. Tinh thần học văn vào lúc ấy, vừa học vừa thưởng thức văn chương do các vị giáo sư được đào tạo bài bản và thật sự họ cũng yêu văn chương. Họ tìm được sự thú vị với những giờ học văn như vậy. Họ phê phán, khen chê bài viết hay bài viết dở, đúng sai, được cái là giáo sư không hề thù vặt, đì học trò. Giáo sư không bao giờ phê học bạ trả thù, và có lẽ học bạ cũng chỉ dành khi đi xin học bổng du học. Các thầy giáo dạy họ được cha mẹ họ gọi với lòng tôn kính là “Thưa Giáo sư”. Ông Giáo sư chứ không phải là Anh Giáo viên như bậc tiểu học. Giáo viên là viên chức làm nghề dạy, nhưng Giáo sư là người có cái đầu tự học và họ biết mình phải dạy cái gì cho học trò. Giáo sư chắc chắn có sự liêm sỉ riêng, lòng tự trọng riêng khi họ được gọi là giáo sư. TCS là một giáo viên và chưa hề là giáo sư. Một khi tên gọi đã khác thì tư cách người thầy cũng đã khác, nên lớp học trò cũng khác. Cho nên các bạn trẻ 8x ,9x, các bạn cũng không nên quá kinh ngạc về sự thành đạt của lớp người này. Các bạn trẻ có kinh ngạc chăng là khi các bạn không thể nào hiểu được nhờ ở nội lực nào mà họ viết văn hay đến như thế, văn mượt mà đến như thế, dễ hiểu đến như thế, cho dù đa phần trong số họ không phải là dân chuyên văn, có thể họ là dân Ban A, Ban B. Họ học văn lúc nào vậy ? Lý giải điều này tôi cũng chịu thua, nhưng tôi biết chắc một điều là ngày ấy về văn phạm về ngữ pháp hầu như họ học rất ít. Từ bậc tiểu học cho đến tú tài họ học rất ít về văn phạm, lối phân tích ngữ pháp tuồng như không đặt nặng trong Việt văn thời đó. Họ học Văn phạm và ngữ pháp nhờ những buổi trả bài cho thầy về giờ Pháp văn, Anh văn từ đó họ mang vào văn phong Việt. Một kiến thức đi đường vòng. Và họ chẳng biết gì nhiều về văn học Trung quốc, nhưng con người họ rất đông phương. Họ nghĩ về quê cha đất tổ khi về già, họ mang tấm lòng ấy về với cộng đồng Việt, đó cũng là cách trả nợ và thương nhớ quê hương. Cũng cùng là người Việt nhưng một khi phong thổ khác thì cây xanh cho hương hoa, trái ngọt cũng khác! Anh THT cũng là một trong số những người như thế. Có lẽ chuẩn bị kỹ nên lúc anh được 60 tuổi, cũng là lúc anh lao vào việc văn chương. Với sự giúp tay của chị, Anh cặm cụi xây dựng tờ Thư Quán Bản Thảo vào cuối năm 2001, như là một cách trả nợ người thân…

Tác Phẩm của THT Đã Xuất Bản:

. Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang (Ý Thức)
. Những Vì Sao Vĩnh Biệt (Ý Thức)
. Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (Ý Thức)
. Một Nơi Nào Ðể Nhớ (Con Ðuông)
. Ra Biển Gọi Thầm (1995)
. Ban Mê Thuộc Ngày Ðầu Ngày Cuối (1997)
. Về Hướng Mặt Trời Lặn (1998)
. Thơ Trần Hoài Thư (1998)
. Mặc Niệm Chiến Tranh
. Ở một nơi trên Trường sơn (tập truyện, 2008)

Anh chủ trương tạp chí “Thư Quán Bản Thảo” xuất bản định kỳ, từ năm 2001 đến nay đã được 37 số, và tủ sách Di Sản Văn Chương Miền Nam ….

LAIQUANGNAM

(1) Tìm đọc thêm truyện ngắn Người Cha, của Trần Hoài Thư, trên mạng

-o0o0-

Xin mời quý độc giả đọc một truyện của Anh

XÓM SLUM

TRẦN HOÀI THƯ

Tôi đang trở lại Logan, Bắc Philadelphia. Đây là đường Old York. Đây là dãy phố lầu xám cũ. Đây là ngã tư, đèn xanh đỏ. Đây là tiệm giặt. Và văn phòng địa ốc Somershoe, mà không một người tị nạn nào lại không biết tên, hay gắn liền với cuộc sống. Tiền thuê nhà phải trả vào đầu tháng. Những lần than phiền về heat, điện hay nước. Ông nội, ông già, hay người con trai Somershoe, ba thế hệ chuyên môn sống bằng nghề địa ốc. Và đối diện với văn phòng địa ốc là ngôi lầu 4907, tầng hai. Chiếc xe trolley đã chạy qua, âm vang lách cách. Những tia lửa xẹt chạm trên hàng dây điện trời. Lũ bồ câu đã bay rợp trên những mái nhà rêu cũ. Màu tường vôi vẫn chưa quét thêm lớp vôi mới. Thêm hai tiệm tạp hóa của người Miên. Và mùi mắm bồ hóc bốc nồng nàn trong không khí. Những người mặc xà rông đi lại trên vỉa hè. Cảnh cũ đã không còn nữa. Những bóng hình Việt Nam năm xưa đã biến mất. Và bây giờ nhường khu Logan này cho một sắc dân khác. Như đầu tiên là người da trắng, kế đến là Do Thái, đến Mỹ đen, rồi Việt Nam, và bây giờ là Miên…Nếu còn giống chăng là những ụ rác, những vỉa hè dơ bẩn, vẫn cái bóng nghèo nàn thiếu ánh sáng từ một nơi được mệnh danh là slum, đến nỗi những người tị nạn phải gọi là Lò Gan. Ngã tư này, dưới cột đèn này, hôm nào những người tị nạn Việt Miên Lào Mông đã từng tụ tập trong những đêm về sáng để chờ những chuyến xe bus đưa về các nông trại xa. Từ căn lầu hai, tôi có thể nghe tiếng cuời nói bằng những ngôn ngữ khác nhau rộn ràng trong một đêm về sáng. Tôi nhớ đến những chuyến xe bus đầy ngập người qua khỏi cầu Delaware, về những vùng thôn dã, và những nông trại táo, cherry, lê, mận trùng trùng điệp điệp… Khi xe vừa dừng là đám người túa ra, chạy tìm chỗ tốt. Chỗ tốt ở đây có nghĩa là một khu vực sai quả, để họ có thể thu hoạch nhiều hơn và dĩ nhiên là sẽ nhận tiền nhiều hơn. Cái giá này ai nói là giá nô lệ khi ai ai cũng tự nguyện. Vâng, mỗi năm cứ đến vào mùa hè, những người dân tị nạn lại nao nức trở lại nông trại cũ như những đứa bé trở lại trường trong ngày tựu trường…Chẳng ai thắc mắc về những bài báo nói về bóc lột mồ hôi nước mắt của các trại chủ, hay các tên cai thầu… Chẳng ai nghĩ đến thân phận bi thảm trong thời kỳ nô lệ xa xưa…

Bây giờ tôi đang trở lại. Trên một tầng lầu nào trước mặt tôi, cánh cửa vẫn còn đóng kín. Không biết có gia đình nào ngụ ở đấy hay không. A, tôi nhớ ra rồi. Cái bóng tôi ở đằng sau khung cửa sổ trên lầu hai ấy. Cái bóng hôm qua trong căn phòng ít ánh sáng. Chiếc giường bố đặt bên cạnh vách tường. Chiếc bàn dùng làm bàn viết, học, khách. Cái sàn ván thông đánh màu verni vàng bóng. Và khung cửa sau nhà bếp nhỏ hẹp, để tôi có thể nhìn qua nhà láng giềng, gọi nhau ơi ới bằng tiếng nước mình. Và lũ gián trong đêm. Và cả đám chuột lộng hành. Và những ngày tắt heat, hay những buổi heat mở tối đa khiến cửa sổ phải mở toang. Từ cõi nhỏ hẹp bần hàn đó, mấy năm, với giá tiền thuê rẻ mạt chưa hề tăng, chúng tôi đã sống, để nếm thế nào là giọt lệ đầu tiên của người tị nạn. Bạn bè ít ai dám bén mảng thăm viếng. Họ nghe Logan như nghe một điều gì đó hãi hùng. Khu đen. Khu drug. Xe bị đập cửa kính. Bánh bị đâm thủng ruột. Một người đàn bà tị nạn sắp bị hiếp. Vợ tôi bị đập, xô mấy lần trong những buổi sáng sớm đón xe đến hãng. Tôi bị đám thiếu niên rượt ngay sau khi vừa ló đầu lên miệng hầm subway. Tiệm tạp hoá Đại hàn dưới lầu tôi thuê thỉnh thoảng nửa đêm bị phá cửa. Cảnh sát cảnh cáo tôi đừng bận tâm lý do chủ tiệm đã có bảo hiểm lo lắng dùm. Đó, Logan, hay Lò gan là như thế. Như thế, tại sao tôi lại bâng khuâng như một kẻ đã gởi vào đây nhiều kỷ niệm. Như thế, tại sao tôi cứ nghĩ là chính nơi này là một phần trong đời sống của tôi. Đâu có gì để phải nhắc lại khi nhục nhằn, hoạn nạn, và những đám mây u ám một thời? Đâu có gì để nói về một slum. Đâu có gì để phải kể lại cái bóng tôi một trưa nào trong ngôi nhà thờ Mỹ trong khu, khi tôi phải nương cậy vào Ơn Trên để ban cho tôi có đủ nghị lực. Lần đầu tiên tôi đã đến nhà thờ, dù tôi chưa bao giờ thuộc ngay cả một lời kinh căn bản nhất. Tôi đã nhắm mắt. Cầu gì. Con tôi thơ ngây nói về tên giáo viên người Đại Hàn tình dục bệnh hoạn phụ trách lớp ESL. Làm sao cho con tôi được học một ngôi trường tốt hơn. Không ai hướng dẫn. Không ai chỉ bày. Không ai biết tiếng Anh, tiếng Mỹ lưu loát. Những người như thế đã không bao giờ ở nơi này. Cầu gì. Cho tôi được một chút thông minh, để tiếp tục làm học trò già. Chiến tranh, tù tội,  vượt biển, bao nhiêu ám ảnh, thảm kịch chất chồng đã cướp đi hết mớ kiến thức học vấn xa xưa rồi. Cho đôi mắt mờ yếu của tôi được thấy rõ những dòng chữ thầy viết. Cho những lời giảng tôi còn theo kịp, dù một đôi phần. Tôi nhớ hôm ấy, trong lòng giáo đường Tin Lành rộng mênh mông, không có ai, trừ tôi. Nắng làm lung linh những ô kính xanh xanh đỏ đỏ. Ngày xưa, tôi chưa một lần đến nhà thờ hay chùa chiền để cầu cứu. Nhưng bây giờ, giữa một xứ sở rộng mênh mông này, giữa một xóm slum này, lấy ai an ủi, khuyến khích, vỗ về tôi? Vợ tôi cảm thấy tuyệt vọng. Nàng đã nhận ra rằng xứ Mỹ không phải là một thiên đàng như nàng đã từng mơ ước. Không phải là những đồng penny hay cent dư được vất đầy trên những trạm xăng, để mình đến đó cứ việc lượm nhặt như người bạn cùng sở, đã từng du học, trở về nước kể lại. Mà trái lại, nó là tội ác, súng đạn sử dụng bừa bãi, tội lỗi tràn ngập. Nàng đã thấm thía thế nào là tự do. Bởi vậy, nàng chỉ sống bằng những giấc mơ. Mơ ngày. Mơ đêm. Mơ một ngày chúng tôi có một chiếc xe, để nàng được đi đây đi đó, thăm bạn bè, hay chiêm ngưỡng phong cảnh. Mơ ngày tôi ra trường, có một job tốt. Và cả những giấc mơ thật đẹp của ngày xưa. Má, em, láng giềng, quê ngoại, những gương mặt thân yêu, những kỷ niệm thời con gái… Vâng, những cơn mơ tội nghiệp. Và chúng tôi đã nương nhờ bằng những cơn mơ như thế. Chỉ tội nghiệp cho con tôi. Nó vẫn lớn lên, không tra vấn, than thở. Nó đi học một mình, trở về nhà một mình, không bạn bè lân láng. Tôi phải kê cả ba hòn gạch, để nó có thể đứng ở trên đấy, mở khoá cánh cửa lầu thuê. Nó chiến đấu cũng như ba nó chiến đấu. Sáng ngày Giáng Sinh, nó mừng rỡ khoe cùng chúng tôi, là ông Già Noel tài quá ba mẹ ơi, ổng biết cả chiếc xe tự động mà con thích… Niềm vui của nó là ngồi trước chiếc truyền hình đen trắng để nhìn những Tom hay Jerry… Nó chưa hề nghe được tiếng dế mèn vào mùa hè hay được thấy cánh diều trên đồng cỏ như tuổi thơ của tôi. Nó hẩm hiu cùng căn phòng, mà những cửa sổ trước và sau, tôi đã đóng cả đinh 15 phân như những hàng chông. Không bạn nhỏ, không nội ngoại, không cả bầu trời xanh và cao để nhìn con diều xanh đỏ, để mong gió mỗi lúc mỗi nổi lên. Không đám mây bàng bạc trong bài văn của Thanh Tịnh vào tuổi học trò xa xưa. Nó có mặt ở đấy, côi cút.
Đấy xóm slum của tôi là thế. Ban đêm ít ai dám ra đường. Cảnh sát cũng ít khi lai vãng. Những building bỏ hoang, những sân đầy cỏ dại và ụ rác. Chỉ có chăng là con đường ngoài phố chính dẫn lên City Hall là còn tương đối khang trang. Nó bị bỏ quên, và người ta đã tìm cách trốn nó như những người Do Thái trước đây. Chúng tôi, những người tị nạn đầu tiên, cũng vậy. Cũng tìm mọi cách bỏ nó mà thoát. Vài gia đình đã may mắn rời khu slum. Riêng gia đình tôi, phải mất đến bốn năm. Ơn Trên đã cho tôi tốt nghiệp đại học với điểm khá cao, và được một công ty hàng đầu phỏng vấn. (Hành trình của một cổ trắng)

Ngày từ giã xóm slum, vợ tôi thắp nhang khấn vái đất đai thổ thần để cảm tạ. Đất đai ở đâu cũng là đất đai, cũng dính kết vào trời, và lẩn quất những đôi mắt của những đấng quyền năng siêu hình, vợ tôi tin tưởng mãnh liệt như vậy. Nàng viện dẫn trường hợp tôi, một tay sinh viên già duy nhất được hãng X chọn trong hàng chục ứng viên tại trường. Anh phải tin anh à. Vâng, tôi tin lắm. Bởi vậy, tôi lạy, con tôi cũng lạy. Tôi đã quá nhỏ bé. Kiến thức tôi cũng vậy. Tiếng xứ người vẫn còn ngọng ngịu, chữ mất chữ còn… Như vậy, tại sao tôi vẫn có cơ hội mà bất cứ một sinh viên tốt nghiệp nào đều mơ ước. Rõ ràng, Đấng Quyền Năng không bao giờ bỏ rơi những kẻ có lòng với Ngài. Ngài đóng cánh cửa này, nhưng Ngài rộng mở ra cổng cửa khác .

Ngày cuối cùng với xóm Slum, tôi đã tháo gỡ tấm ván dày đóng đinh 15 phân ra cửa sổ, để nhìn được con đường Old York dưới màn tuyết trắng. Như vậy, bốn năm cũng trôi qua. Ở đâu cũng có trời. Trong chiến tranh, trong tù tội, trên biển cả, và trong khu slum của vùng Logan này. Các ngài không bao giờ bỏ mình đâu. Lời an ủi của nàng dựa trên cõi siêu hình, nhưng có một điều là cái slum này vẫn là nơi dung dưỡng tôi và gia đình trong những năm tháng đầu tiên. Chúng tôi vẫn bình an. Và chúng tôi vẫn đạt được niềm mơ ước.

 Bây giờ, tôi đang trở lại khu xóm cũ, sau hơn 10 năm xa cách. Vẫn những con bồ câu hoang đậu dưới gầm cầu xe lửa. Vẫn những vách tường dày dặc chữ viết bậy. Vẫn những ngôi nhà hoang. Vẫn những sân nhà phủ ngập cỏ dại và rác rến. Vẫn con đường qua xóm, với hàng điện trời mà mỗi khi chiếc xe trolley chạy qua, là tiếng kêu leng keng như một tấu khúc vui trong ngày. Có điều khác chăng là lớp người tiền phong như chúng tôi đã không còn nữa… Lương là kỹ sư cơ khí. Huệ đã trở thành dược sĩ. Cô Vân đã dọn nhà sang một khu khác, an toàn hơn, và hai đứa con của cô đang học đại học. Anh Phú có con đã ra Bác sĩ. Ông Tâm đã qua đời. Bà Căn cũng về với Chúa. Một thế hệ mới đã vươn lên từ sự lao khổ lận đận của thế hệ tiền phong. Không phải đi khai mỏ vàng, hoặc đi tìm đất mới. Nhưng phải tự dìu dắt trên chính một nơi mà mình chẳng bao giờ lựa chọn, để mong con cháu nên người.

(nguồn: http://newvietart.com)