Tạp chí Chỉ Đạo (1956-1962)

Tạp chí Chỉ Đạo là cơ quan ngôn luận của Bộ Quốc Phòng VNCH.  Cá nhân viên tòa soạn  là quân nhân. Ngay cả nhà văn Nguyễn Mạnh Côn muốn có chân trong tờ báo cũng phải chịu cấp bậc Thiếu úy đồng hóa.
Báo ra mắt vào năm 1956, khổ  nửa trang giấy nhật trình. Chủ Nhiêm   Trung Tá  Nguyễn văn Châu. Riêng vai trò chủ bút có đến 3 người: Thời kỳ đầu (1956-1957) là đạii Úy Ngô Quân, thời kỳ hai từ 1958-1961 là thiếu úy đồng hóa Nguyễn Mạnh Côn và cuối cùng năm 1962 là nhà văn Kỳ văn  Nguyên…

Nhắc đến Chỉ Đạo, ta liên tưởng ngay  đến nhà văn Nguyễn Mạnh Côn.  Ôngmới là người có công rất lớn trong việc khai dựng tạp chí Chỉ Đạo, biến  tạp chí quân đội này  thành một tạp chí có tầm vóc.

Chỉ Đạo là tạp chí đăng sáng tác đầu tiên của Doãn Dân (truyện ngăn “cái vòng,” 1959), và Duyên Anh (truyên “Hoa Thiên Lý”, 1959). Hai người này về sau nay dều thành danh.

Nhà văn Duyên Anh đã so sánh Chỉ Đạo với Sáng Tạo, và cho răng chính tờ Chỉ Đạo đã giúp ông thành công trên con đường văn nghiệp:,  Ông kể lại trong hồi ký ” Nhìn Lại Những bến bờ”, như sau:
…Vùng hoạt động của tôi mới chỉ là tạp chí Chỉ Đạo, tạp chí không bầy bán, muốn mua không có, tạp chí của độc giả có trình độ thưởng ngoạn cao. Tôi được độc giả chú ý nhiều từ Khúc rẽ cuộc đời. Trong cuốn Call it experience, văn hào Erskine Caldwell truyền cho những người muốn trở thành nhà văn kinh nghiệm này: Bạn hãy gửi truyện ngắn của bạn cho một tạp chí văn chương giá trị. Chừng nào người ta đăng truyện của bạn, đó là lúc bạn biết bạn có thể viết văn được. Tôi đã, bất ngờ, rơi vào trường hợp này, rơi thật nhanh nhờ nhà văn Trúc Sĩ ném tôi đúng chỗ. May mắn hơn, tạp chí Chỉ Đạo đã đăng liên tục truyện ngắn của tôi. Nếu Trúc Sĩ ném tôi vào tạp chí khác, Sáng Tạo của Mai Thảo chẳng hạn, họ, có thể, sẽ đăng truyện của tôi, nhưng không đăng liên tục, chắc chắn tôi không được độc giả chú ý nhiều. Tôi phải biết ơn Trúc Sĩ và tạp chí Chỉ Đạo. Trúc Sĩ đẩy tôi đến Chỉ Đạo, Chỉ Đạo cho tôi cơ hội thực hiện ước mơ.

NHà văn Phan Nhật Nam kể  lại về một bai thơ  mà ông không bao giờ quên bài thơ của Thủy Thủ  đăng tren nguyệt san Chỉ Đạo được  bạn ông , Phan Duy Nhân đọc trong căn phòng nhỏ  ở Đà Nẵng lúc ông mới 16, 17 tuổi::

 

Đem tình thương dựng nên đời
Không tro tàn bếp lạnh
Mỗi độ xuân sang
Rộn tiếng trẻ thơ cười..

Mắt anh rực sáng ánh lửa nhiệt tình, ngọn lửa chân thật mà người chỉ có được lúc đang tuổi trẻ – ngày chưa bị vướng bận bởi những hệ lụy, lo toan, mưu định bẩn chật của cuộc sống – khi đọc những lời thơ đằm đằm cảm xúc. Những câu thơ của Thủy Thủ (Trung úy Thái Trần Trọng Nghĩa, Binh chủng Biệt động quân, khoá 14 Trường Võ Bị Đà lạt, theo viên chỉ huy, Đại úy Phan Lạc Tuyên trốn vào mật khu cộng sản sau biến cố quân sự 11 tháng 11, 1960 do Trung tá Nguyễn Chánh Thi, Vương Văn Đông, Nguyễn Triệu Hồng cùng một nhóm sĩ quan xử dụng lực lượng nhảy dù đảo chính, lật đổ chính phủ Tổng Thống Ngô Đình Diệm), đăng ở trang đầu số Xuân Nguyệt San Chỉ Đạo của Cục Tâm Lý Chiến QLVNCH được Dinh đọc to thêm lần thứ hai, tóc anh xòa xuống trán, những ngón tay đưa lên, run rẩy cảm xúc, nhiều kịch tính.. Đám chúng tôi, tuổi 16, 17 ngồi nghe, nhìn anh thán phục, chen lẫn tự hào.
(Phan Nhật Nam: Cơn Cùng Tận Với Khổ Đau)

THƠ DUYÊN ANH tren CHỈ ĐẠO

Sáng tác thơ đầu tiên của Duyên Anh xuất hiện trên Tạp chí Chỉ Đạo vào năm 1960. Đó là bài NGƯỜI MẸ TÂY NINH. Sau đó thơ Duyên Anh xuấ hiện khá đều đặn như CON CHIM XANH TÌNH ÁI ), XUÂN MÌNH , EM BÉ

 

Bà Mẹ Tây Ninh

 

Tôi về làng Trảng sơn
Thăm bà mẹ gặp ở Sàigòn
Dạo ấy hàng dừa bên bờ ao trái hãy còn non
Và vú sữ chưa ngọt mùi vú sữa
Đến chẳng hẹn hò
Mẹ mừng vui hớn hở
Mi rưng rưng chơm chớp, dạ xôn xang
Thoáng ngập ngừng nhìn mái lá tàn hoang
Chân dừng lại: Mắt già mắt trẻ
Quê miền Đông sao mà nghèo nàn thế

Rừng nối rừng đất liền đất xác xơ
Đón mạ xanh không biết có bao giờ
Bông lúa mẩy của Cà Mau, Đồng Tháp
Đường gập ghềnh,
con ngựa gầy mệt nhọc
kéo lê xe thổ mộ vài người
Ở đây ít nói
ít cười
Buồn như nắng hoàng hôn
chầm chậm nhỏ

xuống núi Bà
mờ mịt phía trời xa
Giàn mồng tơi gió lay sụp đổ
Tiếng ru nức nở
Nhịp võng sầu tênh
Ù ơ… Ví dầu cầu ván đóng đinh
Cầu tre lắc lẻo gập ghềnh khó đi
Nghìn xưa trăm trứng phân ly
Nghìn sau Rồng với Tiên chia hai bờ
ù ơ…

Mẹ muôn thuở đẹp thơ
Sừng sững Bà Đen, huy hoàng thánh địa
Biển có khi nào lên nguồn không nhỉ?
Mà máu đào xuôi ngược lại về tim
Máu về tim, máu đoàn viên
Anh em hận thù, anh em phiêu bạt
Mẹ xoè đôi tay tưởng chừng mất mát
Vẫn còn nguyên mười ngón
Mẹ ơi!
Đan nhau, mẹ bỗng bùi ngùi

Đất nghèo quê khổ, đời đời héo hon
Mẹ già thèm bát canh ngon
Mải mê chém giết, bầy con tuyệt tình
Mẹ Tây Ninh
Ôi, bà mẹ Tây Ninh
Con mẹ đây, người thợ gặt oan khiên
Người thợ cấy mộng mơ
giữa nơi rừng hoang,
đồng chua lầy lội

Con mẹ đây
tương lai chờ đợi
Trầy bả vai cho những bát canh già
Cuốc cày đâu, để con vỡ đất nhà
Gieo mầm sống, mầm nhân sinh mãnh liệt
Hỡi những trăm năm trải dài oanh nghiệt
Sẽ thăng hoa một hạnh phúc khôn cùng
Sẽ núi hôn đồi
biển gọi hồn sông
Sẽ lời dừa non ru ngoan vú sữa
Sẽ lục bát ngô,
ca dao lúa
Trống rộn đêm xuân ngây ngất hội đình
Con nằm nghe nắng trách trời xanh
Nghe cuộc đời hồi sinh phơi phới
Cuộc đời bao la,
nồng nàn hương mới
Đá biết tương tư,
sỏi vỡ môi cười
Mẹ ơi, tha thiết lắm rồi
Mất gì, không mất tình người Việt Nam

Ấy ai khắc khoải dặm ngàn
Về vun dân đạo, bắc giàn yêu thương
Khi hoa nhân ái rợp đường
Người quê hương với quê hương rộn ràng
Mẹ thôi buồn
Con quên mưa gió
Cửa bốn phương bỏ ngỏ
Hỏi nhau chuyện tình yêu
Con lại về thăm Trảng Lớn
Thấy mẹ nằm ngủ thiu thiu

Ruộng nhà con gái xanh mơn mởn
Bầy cháu tung tăng chạy thả diều

(1960)

 

Em Bé

Hôm nay em đi học
Mắt ngời ánh hào quang
Những vì sao mới mọc
Thắp lửa rực huy hoàng

Trang vỡ lòng thầy dạy
Đánh vần chữ Việt Nam
Con ơi, nước con đấy
Đẹp tự bốn nghìn năm

Tay mềm tô nét viết
Xanh mướt nghĩa yêu thương
Chao ôi là tha thiết
Mộng ước gởi ngàn phương

Tiếng em mùa xuân ấm
Bài quê hương loài người
Không biên thùy ngăn cấm
Không ai khóc cuộc đời

Và mai hồn thơ ấy
Cây hạnh phúc muôn thu
Xin đừng ai nỡ dạy
Em tôi nói căm thù

Duyên Anh ( 1960, tạp chí Chỉ Đạo)

 

Con Chim Xanh Tình Ái

 

Em rụt rè tháng chín
Từ tháng chín tới nay
Tâm hồn anh gói kín
Yêu em em có hay

Em hồn nhiên tháng mười
Anh ngại ngùng dò hỏi
Phải em gửi nụ cười
Cho tình anh trôi nổi

Em đơn sơ tháng một
Anh chiêm bao tình cờ
Em làm sao biết được
Trời trong anh ngẩn ngơ

Em tuyệt vời tháng chạp
Nhìn em anh ngại ngùng
Mùa xuân nào chim hót
Mùa xuân anh nhớ nhung

Con chim xanh tình ái
Bây giờ đã tháng giêng
Một mình anh mòn mỏi
Đi trên nỗi ưu phiền

(1962)

Xuân Mình

Nhà anh ở bây giờ
Mùa xuân hoa chưa nở
Chăn chiếu của người ta
Đắp hồn hoang đi trọ
Sao em năng tới lui
Vì cổng then buông ngỏ
Vì không phải bấm chuông
Vì không nuôi chó dữ
Vì em sợ anh buồn
Vườn anh trồng thương nhớ
Nuôi chim bằng tình yêu
Lồng tre ba bốn cửa
Anh lười chả muốn cài

Chiều kia chim ướt rũ
Anh nhóm lửa hong hồn
Khói làm chim cay mắt
Chim khóc anh buồn hơn
Ru chim anh khẽ thở
Thấy chim thiu thiu ngủ
Anh ngồi anh ước mơ

Nhà anh ở bây giờ
Mùa xuân hoa đua nở
Anh thôi đời ở trọ
Sẽ nghĩ chuyện làm thơ
Viết kín mươi quyển vở
Anh đan một chiếc lồng
Sơn nhiều màu rực rỡ
Nhốt kín em trong đó
Vì anh cũng biết ghen
Chim chẳng còn ướt rũ
Cuộc đời rụng trái sầu …
(1960)

 


PHAN LẠC TIÊP

CHỊ HOÀI

Chị Hoài nhìn ra ngoài cửa sổ. Nắng chiều chiếu xiên vào chỗ chị ngồi. Hình dáng quen thuộc của ông Tàu bán mía hấp, vắng bóng ba ngày Tết, hôm nay lại hiện đến. Vẫn cái giọng khàn khàn. Vẫn bước đi lần vào lối ngõ, mà hình như ông vẫn mặc cả cái áo như bao giờ ông vẫn mặc – cái áo màu đen buồn. Chị Hoài khép cửa lại, nhà nhẹ thở dài. Con mèo vừa mất một khoảng nắng để hong mình, vươn mình đứng dậy.
Tiếng rao mía hấp xa dần. Tất cả đều vắng lặng. Thời gian như dừng hẳn lại. Chị Hoài bỗng thấy lòng mình mênh mông hơn. Chị nhẹ nhàng đi vào trong buồng, nằm dài trên giường. Mắt chị mở chừng chừng như đang chăm chú nhìn một vật gì trên trần nhà, nhưng thực ra chị không nhìn gì cả. Chị vương vấn buồn. Không khí rộn ràng của ba ngày xuân vừa qua đi..
Hôm nay mùng bốn, mai mùng năm, ngày kia…
Chị hình dung thấy ông Vũ lại mỗi ngày đúng bây giờ, đạp chiếc xe máy dầu đi làm. Cô nữ phụ tá ở ngõ trong lật đật đi những bước dài như sợ nhỡ chuyến xe. Và muộn hơn chút nữa lại vẫn cái cảnh đôi vợ chồng trẻ ở trước mặt âu yếm nhau trước khi người chồng đi làm. Lại vẫn người vợ ẵm đứa con nhỏ đưa ra trước mặt chồng. Người chồng cúi thấp xuống, lấy ngón tay chở quệt vào má đứa con. Và cuối cùng thế nào cũng nhìn vợ âu yếm, rồi mới thong thả dắt xe đi.
– Đến là ghét !
Chị Hoài nói thế, nhưng ngày nào chị cũng để ý đến cảnh ấy cả. Vô tình cảnh ấy như có một sức gì thu hút chị. Đã nhiều lần, sau khi nhìn đôi vợ chồng ấy âu yếm nhau, chị quay ngay đi, và đã hứa với lòng là không bao giờ để ý đến nữa. Song nói thì nói thế, chẳng mấy chốc chị lại quên ngay và ngày hôm sau chị vẫn đúng giờ ấy để ý đến cảnh ấy của đôi vợ chồng nhà trước mặt. Chị băn khoăn không hiểu lòng mình. Chị thấy những người xung quanh chị làm chị thêm ghét họ. Chị nghĩ thế đề cố xua đuổi những hình ảnh đến ám ảnh chị. Nhưng càng cố xua đuôi, nó lại càng hiện lên rõ rệt..
Làn gió thổi nhẹ. Tấm màn cửa uốn éo bay. Chị thấy dễ chịu hơn. Chị ngồi dậy, định đi ra ngoài sân. Đã xỏ chân vào đôi dép, thế rồi chị lại ngồi lại đây và ngồi rất lâu. Hình ảnh người vợ trẻ ẵm đứa con, âu yến nhìn chồng, lại hiện lên rõ rệt.
Hôm nay mùng bốn…
Chị nói một mình để cố quên đi hình ảnh ấy. Chị nhìn ra ngoài nhà. Hai chậu cúc vàng còn tươi tắn như muốn níu lại phút tưng bừng của đầu xuân. Nhưng trên bàn, những giỏ hoa “lay ơn” đã rã cảnh rồi. Chị thở dài. Chị nhớ đến chồng con Loan – em chị – vừa bồng bế nhau về chiều hôm qua. Gớm, cái thằng Khánh sao mà kháu thế, mới chưa đầy năm tháng mà bế đã mỏi cả tay. Chị ngồi xuống bên giường, chị lại càng thấy nhớ thằng Khánh. Mới hôm qua nó còn nằm đây, hai chân nó đạp lung tung, mồm nó cử toét ra cười. Chị nghĩ, giá chỉ có một đứa con như thằng Khánh. Đã có một lần chị ẵm thằng Khánh vào lòng, chị thấy chị sung sướng hơn, nên chị đã ôm nó chặt quả, khiến nó khóc thét lên. Mẹ nó chạy vào, đỡ thằng Khánh trên tay, nhìn chị mà không nói. Chị quay đi để tránh cái nhìn ấy. Một hồi lâu, thằng Khánh đã không còn khóc nữa, chị quay lại. vẫn đôi mắt ấy bắt gặp đôi mắt của chị, nhưng ánh mắt đã dịu đi nhiều. Chị đọc trong mắt em như có nhiều ngỡ ngàng và chưa chất một niềm thương. Rồi bốn con mắt từ từ rướm lệ. Nghĩ tới đây, hình ảnh mẹ con thằng Khánh nhòa đi.Chị nằm gục đầu trên gối. Chị như nghe thấy tiếng em thở dài. Bỗng con mèo từ trên bàn nhảy xuống. Chị bàng hoàng ngồi dậy, thoáng thấy bóng mình trong gương. Mà ở kia sao mắt chị rưng rưng. Hình như chị lại vừa mới khóc. Không, chị có khóc đâu. Chị cố vui để nở một nụ cười. Chị thấy mình vô lý. Chị phân vân mãi. Chị hóa ra sợ những phút vắng lặng như thế này. Chỉ mong sao cho thấy mẹ chị đi lễ mau về. Biết thế ban sáng chị cũng đi với mẹ chị cho xong. Nhưng không hiểu tại sao bạn sáng mẹ chị bảo chị đi, chị lại từ chối. Nói thế cũng chưa đúng hẳn. Chính lúc đó chị cũng định đi, song như có một sức gì ngượng ngùng gần chị lại. Cả mẹ chị nữa, bà cũng chỉ bảo chị qua loa. Bất giác chị thấy nhở quá những mùa xuân ngày cũ ở Hà-Nội – ngày chị mới lớn. Đi đâu má chị cũng cho chị được đi cùng. Từ những cuộc đi lễ xa, cho tới lúc đi thăm bà con họ mạc. Ngày ấy đã xa quá rồi ! Đã có tới sáu, bảy năm chị không được đi theo má chị nữa. Và cũng từ đấy ít người nhắc đến chị, ít người khen chị đẹp, khen chỉ có duyên như hồi chị còn mười lăm, mười bảy. Vả lại Loan – em chị – nó lớn lên, nó thay chân chị, nó hứng mất cả những lời khen ấy. Vô tình chị như một món hàng cũ bị bỏ quên. Có lẽ chỉ một mình chị mới thấu hiểu được nỗi buồn ấy mà thôi. Chị buồn mà lại giận em nhiều. Có lần Loan nhờ chị cài hộ cái khuy áo để sửa soạn đi chơi với má chị, hai chị em nhìn chung vào một tấm gương, chị thấy chị già và xấu hơn em nhiều quá. Lần ấy chị lại càng thấy ghét em hơn. Chị không nói với Loan có đến bốn, năm ngày. Sau hối lại mới biết là mình vô lý. Nghĩ thể song chị vẫn buồn nhiều. Bất giác chị nhớ tới một người con trai.
Thế rồi Loan đi lấy chồng. Ngày cưới nó, chị phải giúp em bao nhiêu thứ. Chị nghĩ em vui cũng như mình vui. Chị hòa mình vào cuộc vui của em. Chị không nề hà gì cả. Nhưng trái lại, chinh lần ấy có một người không biết vô tình hay hữu ý, đã hỏi chị:
– Thế nào, cô Hoài đến bao giờ mới cho tôi ăn cỗ đấy ? ..
Lời nói ấy làm chị cảm thấy nhiều chua sót. Hai tiếng ế chồng bỗng lởn vởn đến với chị ! Đêm ấy chị không – tài nào ngủ được. Chị khóc một mình. Sáng dậy mà chị thấy mắt chị thâm và lõm xuống. Hỏi chị, chị bảo là chị nhớ con Loan.

Cũng từ lần ấy, sau khi em chị đã về nhà chồng, nhà chí còn có một mình chị, chị lại được đi theo má chị trong các lần bà đi lễ hoặc đi chơi. Cũng vì thế chị cảm thấy bớt đi ít nhiều cay đắng. Nhưng lại một lần, người ta tưởng chị đã đi lấy chồng, nên hỏi chị :
– Cô Hoài bây giờ được mấy cháu rồi đấy nhỉ ?
Chị cúi xuống, thẹn quá. Từ đấy chị không bao giờ đi với má chị nữa, cho mãi đến hôm nay.
Nghĩ tới đây, lòng chị buồn vô hạn. Chị gục đầu vào gối khóc thành tiếng, làm rung cả đôi vai gầy !
Ngoài kia nắng đã xế lên hai bực thềm nhà bếp.
PHAN-LẠC-TIẾP
( Chỉ Đạo số 10 & 11 1960)