Nhận định văn học 101

TRong thời gian qua, tôi  chủ tâm tìm đọc những bài nhận định về văn học miền Nam trong thời chiến.  Càng đọc càng thấy lòng bất ổn. Hình như những người  trong lảnh vực lý luận phê bình  ở trong nước mà tôi được đọc đều có một cái nhìn rập khuôn, nếu không nói là theo đuôi, hay có cái nhìn “lé”  xem nền văn học miền Nam là nền văn học đô thị.  Ngay cả những người viết sau này. Họ thích rà con chuột hơn là chịu nghiền ngẩm vào thư viện lục chồng sách báo cũ.

Tại sao là đô thị? Tại sao không phải là  ngoài vòng đai? Tại sao không phải là  toà soạn lưu động theo chân người viết ? Tại sao không phải là những quán bên đường,  đủ chỗ cho một baì viết gởi về SG? Tại sao không phải  là An Lộc, Bình Long, là Quảng Trị, là Chu Pao, Dakto, Tân Cảnh? Tại sao cứ lấy cái nhóm Sáng Tạo từ năm 1956-1961 để chụp cho cái chiều dài văn lộc đầy những cây số chi chít lỗ đạn? Tại sao không chịu đọc một số báo Văn vào những năm chiến tranh ác liệt nhất, để xem sức nóng của bom napalm và hỏa tiển 122 ly ảnh hưởng thế nào cùng với hơi nóng của thơ văn? Chứ  cứ nhấp con chuột, google search trên mạng, hay vớ phải một hai cuốn sách, rồi thêu dệt, phóng bút, liệt kê theo kiểu English 101, thì học sinh trung học nào   cũng có thể làm được….

Tại sao là Sáng Tạo, Hiện Đại, Nghệ Thuật lại chết, mặc dù  được tài trợ dồi dào ?
Tại Sao Văn lại vững, lại sống?
Tại sao Khởi Hành lại sống  ?

Mời bạn đọc một doạn trong nhật ký được đăng trên tạp chí Văn Học số  42 tháng  7-1965 dưới nhan đề: Những bức thư gởi về hậu phương của một người lính (trang 100- 108)

Đọc Văn học số 42

Ngày 17 tháng 8.

Trưa qua tụi Cộng kéo về một tiểu đoàn đóng ở đầu ấp gần rừng. Nhưng chúng không tấn công, chỉ bắn sơ sơ rồi thôi. Và bây giờ bọn anh cũng chịu không biết chúng còn ở đó hay đã đi. Chỉ biết chúng đã bắt được anh chàng thư ký của Đại diện xã. Chắc anh chàng tội nghiệp này bị chém băng đầu rồi. Chiến tranh này tàn nhẫn kinh hồn. Bây giờ địch kể như đã kiểm soát hoàn toàn quãng giữa đồn anh và thị trấn, lính xanh leo cả mắt, không dám nhẩy dù về tỉnh như dạo trước nữa. Không biết tụỉ chúng đe dọa ra sao mà không ai dám nhận mua hộ báo hay bỏ hộ thư nữa – thư này chưa biết ngày nào mới đến tay em. Anh vẫn tiếp tục ho nhưng sức khỏe bình thường, uống cà-phê và hút thuốc vẫn thấy ngon. Như vậy vẫn còn nhiều thú vị.

Trung đội phó vừa bước vào lều cho biết có tiếng chó bắt đầu sủa dữ dội. Anh nhìn qua khe vách, trời tối đen vì vẫn chưa  có trăng. Đại đội trưởng đã cho lệnh tắt hết đèn nhưng anh vẫn muốn viết thật nhiều cho em bởi vì không hiểu sao hôm nay, từ lúc đánh mất chiếc khăn quàng xé ở vạt áo dài của em trong lúc rút quân vào đồn, anh thấy nhớ em kỳ lạ. Nhớ theo một thứ  tình cảm buồn buồn. Bây giờ  anh hiểu nỗi buồn của em ngày ấy khi em đánh mất chiếc nhẩn đính hôn anh đeo vào ngón tay em một ngày đã lâu. Đại đội trưởng vừa cho lệnh báo động và đang gọi anh khe khẻ ngoài cửa lều phía sau lưng. Anh hôn em thật nhiều trước khi gấp tờ thư vào túi áo để xách súng ra ngoài. Trời vẫn tối đen. Đêm nay có trăng nhưng là trăng lên muộn. Hôn em một lần nữa.

.Đến đây nhật ký chấm dứt, bằng một ai tín đăng trên báo: “chúng tôi đau đớn báo tin cùng thân bằng quyến thuộc biết: Chuẩn Úy Trần Đăng Kim  đã hi sinh vì tổ quốc ngày 17 tháng 8 năm 1964 tại Bình Chánh. Bà quả phụ Trần Đăng Kim và con”

Vậy văn học thời chiến là văn học gì ?

_

 

(Văn học số  42)