Tưởng niệm Nhà văn Lê văn Thiện (1947 – 30/7/2018)

+ NHÀ VĂN LÊ VĂN THIỆN

(1947 – 2018)

 

Đúng vào ngày hôm nay (30-7) năm ngoái,  nhà văn Lê Văn Thiện qua đời  tại quê nhà thôn Tân Dân,xã Vạn Thắng,huyện Vạn Ninh,tỉnh Khánh Hoà sau cơn đau tim.

Thư của Lê văn Thiện

 (tư liệu của TQBT)
“…Nhớ cuối năm 1969 ở Qui Nhơn (khu 6) 10 ngày với Trần Hoài Thư. Không ai như anh ấy. Viết bất cứ lúc nào, trên tờ rời, bỏ khắp nơi, viết lung tung, khi xong gom lại, thường là thiếu vài tờ.Viết lại hoặc bỏ luôn. Tiền thì để túi áo, đứa nào xài cứ  xài.

Một chuyến bay nào  đưa em vào Sài Gòn
Một chuyến bay nào đưa tôi về Qui Nhơn.

Thơ Trần Hoài Thư như thế dạo đó. Hơn 30 năm… đời chẳng là gì. Phạm Cao Hoàng thì gần gũi hơn, nhớ nhiều hơn, và nghệ sĩ hơn anh em mình. Nhưng Phạm Văn Nhàn thì chịu. Chắc chắn là đã gặp ở khu 6 cùng Thư , Hoàng. Hình như anh ấy ốm, cao như cây tre?

Mỗi năm tôi đặt “chỉ tiêu” viết 5 bài. Năm nay đạt. Nhiều năm không. Như năm 2000 chỉ được 2. Viết, chủ yếu do ghiền, và có bài đăng cũng vui, vui lắm, như con nít vậy… Tôi có mấy cái tản văn, lúc nào rảnh tôi sẽ chép gửi tặng anh coi chơi.

Tháng 11.2001 Hội (Văn Nghệ Khánh Hòa) tổ chức sáng tác ở Vũng Tàu, cho đi, mà tôi không đi được, vì chẳng có quần áo giày dép gì ra hồn để đi. Nói chẳng ai tin, thảm bỏ mẹ… (14.10.2002). 
(TQBT số 9 tháng 1-2003)

 

Cách đây 9 năm, chúng tôi có gom 2 tập truyện của Lê văn Thiện xuất bản trước năm 1975, đê in thành một cuốn dưới nhan đề :

(click để đọc flipbook)

Truyện ngắn Lê Văn Thiện trước 1975″.

 

Đó là tập truyện  Một Cách Buồn Phiền (Văn, 1969) và Sao Không Như Ngày Xưa (Côi Sơn, 1971).

Click bìa đọc flipbook
( bìa Tập truyện : “Truyện ngắn Lê văn Thiện trước 1975” Thư Ấn Quán 2015 )   

Trong phần mở của Truyện ngắn Lê văn Thiện trước 1975, chúng tôi viết:

“Trước 1975, tên tuổi Lê Văn Thiện được biết nhiều như là nhà văn trẻ, qua những sáng tác đăng trên các tạp chí quen thuộc bấy giờ. Là một người viết trẻ mang áo lính, ông đã sáng tác trong hoàn cảnh và điều kiện như thế này: 

…Nhiều ngày tôi không tắm giặt. Tới bữa thì ăn, không biết đói. Đánh nhau, không lạ. Tôi đã thấy tận mắt hàng trăm cái chết, kiểu chết của hai bên, của dân thường. Nhưng đây, trên vùng rừng cháy nám đặc sệt mùi khói bom này, cảnh tượng dữ dội kinh dị vẫn làm tôi choáng. Xong việc, trực thăng bốc chúng tôi ra Kontum, chờ xe đưa về Cheo Reo… Sắp tết, nhưng thị xã đìu hiu này chẳng có tí chút dấu hiệu xuân nào. Chợ đổ nát từ đầu năm Mậu Thân vẫn đứng đó, còn nguyên đổ nát, tường xám đen, cột chằng chịt dấu đạn, mái tôn cong vênh. Người đi đường vật vờ. Xe nhà binh chạy trong bụi. Tiêu điều như các thị trấn hoang dã trong những phim cao bồi Mỹ… Vào tiệm sách nhỏ gần chợ, tôi mua một tập thơ Phạm Thiên Thư, một cuốn sách dịch Krishnamurti. Lạ, sau những gì đã thấy trên núi, mình vẫn ăn uống, nói cười, đi dạo phố, đọc sách triết! …(trích Một Thời, tháng 2-2010)

Trong hoàn cảnh và điều kiện nghiệt ngã như vậy mà Lê văn Thiện vẫn viết, tác phẩm Thiện vẫn tiếp tục được ra đời. Bên cạnh Thiện còn có một lực lượng hùng hậu những cây bút trẻ khác. Họ sống xa Saigon, phần lớn gối đất nằm sương, đêm ngày đối diện thường trực với sinh tử. Sáng tác của họ vẫn theo những phong thư đóng dấu khu bưu chính để bay về Saigon, để góp phần cho một nền văn học thời chiến hùng vĩ.  Bằng chứng là báo Văn cứ vài tháng ra một chủ đề những cây bút trẻ, báo Bách Khoa, Khởi Hành, Ý Thức, Trình Bày, Vấn Đề, Thời Tập cũng tràn ngập những sáng tác bài vở của những cây bút trẻ. Đó là chưa kể các tạp chí văn học ở địa phương.

Với một nền văn học đồ sộ như vậy, nhưng giờ đây, chỉ còn lại một bãi nghĩa trang im lặng. Muốn tìm lại một tác phẩm của thời chiến quả thật khó khăn.  Ngay cả tác giả cũng không còn giữ… thì biết tìm ở đâu bây giờ ?

(trích từ Truyện Ngắn Lê văn Thiện trước 1975, Thư Ấn Quán xb 2010)

Lê văn Thiện đến với văn chương đầu tiên bằng bút hiệu Văn Lệ Thiên  qua truyện ngắn “Ngoại Lệ” đăng trên Văn số 47 năm 1965. Với bút hiệu này, Văn đăng thêm3 truyện ngắn của anh nữa. Đó là Chiếc phao (Văn số 104), Âm Thầm (văn số 98), Xó chợ (Văn số 53), và Bách Khoa một truyện: Một lần chiến bại (Bách Khoa sồ 282).
Sau đó, anh đổi bút hiệu từ Văn Lệ Thiên sang Lê văn Thiện. Và truyện ngắn của anh tràn ngập trên Văn, Bách Khoa, Trình Bày…

Đến năm 1969, cơ sở Văn xuất bản  một tập truyện của Lê văn Thiện. Đó là “Một cách buồn phiền”.  Trong phần giới thiệu, nhà văn Trần Phong Giao xem việc xuất bản tập truyện này như ” một khám phá của cơ-sở VĂN”. Tập truyện ra đời, nói là khám phá, nhưng còn bao hàm một cái gì khác mà chỉ có Trần Phong Giao mới có, đối với những người viết trẻ chiến đấu ngoài vòng đai SG. May ra người ta xét khả năng cho LVT trở về phục vụ ở một đơn vị không chiến đấu chăng.

Lê văn Thiện đã sống và lấy chất liệu từ cuộc sống của anh để viết. Anh không ồn ào, không đeo bảng “nhà văn”, “nhà thơ”, “nhà báo”…. Anh chìm khuất trong hàng ngũ. Bao nhiêu cực khổ, gian khổ của đời lính, anh nhận như mọi người, và anh thay mặt họ để nói lên những tâm tư của những người lính thấp hèn. Anh không bao giờ đánh bóng họ qua những chiến công, chiến thắng, mà qua sự chịu đựng vô bờ của người lính mà anh là một.

Lê văn Thiện, vĩnh biệt anh.

 

 

 

 

 

 

 

Sáng tác tiêu biểu
của Lê văn Thiện

 

Trước 1975


TRONG LỚP KHÓI MÀU

(Trình Bày số 6 năm 1970)

(Cho Trần Viết Gián, và ngày 18-5 ảm đạm tại Tàkeo)

 

 

Thằng nhỏ khóc ngon, mắt nhắm, mặt đỏ nhừ, nước mắt trèm trụa. Mạo xốc nách con, nâng lên khỏi ngực, dỗ: “Ờ, ùi… ùi, nào… nín nào”. Thằng nhỏ nhỏ quá, tai nó cũng nhỏ, nên lúc thường nó còn nghe người lớn nói để tập nói gió và ngó miệng cười theo, còn lúc khóc thì nó chẳng nghe gì cả, chắc tai nó ù. Nó cứ khóc, bụng rướn lên, lại chảy nước mũi, miệng ngoác rộng thấy cả cục thịt đỏ xa bên trong. Mạo hít hà: “Ờ… ờ thanh niên, coi này… bác Thới bận đồ đẹp này, khóc bác Thới cười cho”. Thới vỗ mông thằng nhỏ: “Im, im… cha chả Can Dũng gì lại khóc, xấu trai thế”.

Chú Kiều nói:

– Có tiệc tùng phải ăn diện khác thường ngày, đưa áo quần các em nó ủi cho, ngon lành với người ta.

Thới cảm ơn. Cũng chỉ quanh quẩn anh em trong tiểu đoàn, quan khách là mấy vị già khọm trong làng. Chẳng lẽ bỏ công sửa sắc đẹp để lấy le với ông Ấp trưởng miệng chỉ còn lỏng chỏng đúng bốn cái răng.

Mạo hỏi:

– Chắc có ca hát?

Thới gật.

– Người đẹp?

– Không. Kiếm đâu ra?

Chú Kiều bảo chải lại cái tóc, kiếm dầu bôi lên một chút.

– Mạo ra chơi nghe? Làm vài bản cho thiên hạ đứng tim.

– Đùa hay nói thật? Chửi tôi mấy thúng tôi không giận bằng nói câu đó. Mạo làm mặt giận.

Sân trường trở nên náo nhiệt. Ai đó lôi ở đâu về bốn dây bông giấy, giăng chéo trên ba cây dừa kéo vào mái hiên. Thức ăn đã dọn lên bàn khá nhiều. Người qua người lại, nhốn nháo, kêu la, cười, ồn như chợ, vui như đám đánh xóc dĩa bầu cua ngày tết. Đất bị chân cày, vấy lên một màng bụi mỏng, mù, là là. Không nhanh thì lúc vào ăn tô thịt sẽ được phủ một lớp bụi mỏng như tráng mỡ, và thổi nhẹ khúc bánh mì cũng bay khói như một điếu thuốc. Tiểu đoàn trưởng dành mọt phần thưởng danh dự cho đại đội nào nấu nướng ngon, trình bày đẹp. Có đại đội về phố mướn chén đũa, ly tách, khăn lau, bình bông. Cắt giấy màu lót dưới mỗi chén. Bánh mì, bánh ngọt, tăm xỉa răng đều được để vào một vị trí đã được năm bảy chuyên viên trang trí nghiên cứu cả buổi. Nhưng cũng có đại đội làm theo lối… dạn dày, phong sương. Thịt cá dồn trong mấy cái thau cục mịch. Bún, cơm, nước đá đựng trong mũ sắt. Họ mang những thau, những mũ sắt ấy bày lên bàn. Mũ sắt cái xanh, cái đen, cái thì móp. Chắc chắn đám này không thèm quay nhìn cái phần thưởng cao quý trên, hay chỉ nhìn bằng đôi mắt của một vị tu sĩ già nhìn một người đẹp.

Liên hoan mừng chiến thắng. Những người đứng bên bàn tiệc hôm nay xứng đáng được uống ly bia đặc biệt, chỉ một ngụm nhỏ rượu cũng đủ làm bốc lên một lớp máu nóng. Vì rượu lấy từ mồ hôi và nhọc nhằn. Rau trái đó của khu vườn chết chóc, gian nan. Hớp bia lạnh sẽ làm nóng các khuôn mặt, nóng lên hãnh diện. Mọi người đều được hãnh diện. Thới nghĩ, mình cũng hãnh diện? Cố nhiên, mình sẽ hãnh diện, và vui hết lòng. Những kẻ khuất mặt có sung sướng khi nhìn chiến thắng này hông? Khắc nghĩ gì khi nhìn thấy anh em đang vô tư, vui đùa? Nếu đúng như nhiều người vẫn nghĩ, người chết có thể về ăn uống những đồ vật trên bàn thờ, thì lúc này Khắc đang đứng một góc nào đó, quanh đây, nhìn vào sân trường? Hôm đó Khắc đã làm như một anh hùng. Các anh hùng góp tay mới tạo được nguồn vui to lớn này. Người ta cũng bảo mình là anh hùng. Anh hùng được ban khen nhiều lần, được huy chương, choàng hoa nặng vai, và còn được cho cả tiền. Ban đầu mình hơi ngần ngại, phải rồi… ngần ngại. Thới nhìn rõ quang cảnh sân trường, nhưng không nhìn ai, không nhìn thứ gì. Mạo nói gì sau lưng, và hình như chú Kiều cười… Lúc đầu mình còn ngờ, mình anh dũng không đây? Đến thế nào mới là anh hùng? Rồi người ta nói mãi, bảo mình can trường… Anh can trường lắm, biết không? Lặp lại mãi các ý đó. Cho đến lúc rồi mình cũng nhủ thầm, có thể ta đã dũng cảm, trong những phút nào đó, ta không để ý, nhưng người khác thấy, mọi người đều thấy. Vậy, vô tình cũng có thể là anh hùng… Khắc xông xáo, Khắc dũng cảm đó chớ, nhưng Khắc lại chết.

Thới ra dường, Mạo dặn: “ Đừng quên thủ vài cái bánh kha khá về cho Can Dũng”. Các đại đội vào bàn. Mọi người trông vui tươi, khác thường bữa nhờ bộ đồ sạch, tay áo xắn cao, và khăn đỏ viền xanh choàng cổ rất nổi. Trên bàn danh dự, thấy có mấy chai rượu đắt tiền, bên những chiếc ly trắng đẹp. Vợ ông tiểu đoàn phó, người đàn bà độc nhất ở đây, ngồi đối diện ông Trưởng ấp. Ông già này thường cười nhưng miệng không há lớn, làm người ta dễ tưởng lầm ông không thích khoe bốn cái răng của ông.

Mới bắt đầu trận ăn đã sôi nổi. Những cuộn tiếng nói quấn rít vào nhau, đứng xa vài thước chẳng nghe được gì. Một người nói, được một hai người ngồi ngay trước mặt nghe là nhiều. Bàn này chỉ thấy chớ không hiểu bàn bên kia. Ông tiểu đoàn trưởng nâng ly nói gì đó, những người cùng bàn cũng nâng ly, rồi ông nốc sạch ly nước màu vàng, mặt ông tròn, hai má núng nính dễ thương như má bé Can Dũng. Ông nhắm mắt, đưa tay lau miệng và cười toe. Thới uống rượu dở nhưng ngồi yên từ chối hoài không được, đành cho vào ba hộp, bốn hộp, rồi thêm nữa. Bia đắng, càng uống vị đắng như càng tăng thêm. Thới sợ uống nhiều vào sẽ không giữ được mình, đi đứng lật khật, cười nói dai. Khắc uống rượu giỏi. Ngày còn trong quân trường Khắc lôi Thới đi quán, tập Thới uống rượu nhiều lần. Khắc vẫn nói có rượu chè người con trai mới rắn rỏi, nhanh, xông xáo. Khắc có đủ, nhưng chẳng ai thấy cả. Người ta không biết gì đâu. Mày vẫn chê ta yếu, không uống được rượu, như con gái, làm chi nổi. Nhưng mọi người đang khen ta, kẻ lập công đầu. Khắc, lúc này, giỏi lắm bạn chỉ là người chết đầu tiên.

Đám trẻ con bu đen hàng rào ngó vô đám tiệc bỗng tản ra chạy đến người lính xách gói. Anh này chia cho mỗi đứa một nắm bánh, xôi, kẹo. Anh chàng mang máy ảnh tới trước sân định chụp bàn giữa. Anh đưa máy lên ngắm, thật lâu, rồi bỏ xuống, đổi chỗ. Xong lại ngắm. Dù ngồi đưa lưng về ống kính nhưng ông trưởng ấp và ông sĩ quan ban 5 cũng sửa lại áo, vuốt tóc mấy cái, nhún vai. Bà vợ ông tiểu đoàn phó cuối nhìn nhanh cái gì dưới chân, ngửng lên liếc thoáng máy ảnh, rồi vội rướn người tới trước để nói chuyện với người đối diện bằng bộ mặt nghiêm nghị. Chắc bà không muốn mình cười cợt trong tấm hình. Ông tiểu đoàn trưởng vẫy anh chụp hình lại, ông rót bia đầy ly, đứng dậy nâng ly lên cụng với ông trưởng ấp. Anh lính có bổn phận chụp, một cách trung thực và chắn chắn, hình ảnh đẹp đầy dẫy tình quân dân keo sơn này. Ông tiểu đoàn trưởng cười rất tươi, anh thợ phải bấm liền hai cái. Hình này sẽ được rửa lớn, đem về dán giữa văn phòng, cạnh những tấm hình chụp anh em đứng trên lầu khi chiếm phố, hình súng đạn hôm triển lãm ở sân vận động… Dãy ghế bên kia ngã ngớn. Ba bốn người gân cổ lên triết lý, nói về số mạng, cả bọn cùng nói không ai nghe “làm chó gì có số mạng… cái số nào dành cho trăm rưỡi thằng cộng sản cùng chết một lúc, để người ta xúc về đổ nằm triển lãm trước rạp Đại Nam bữa kia!… Số mạng nào khiến thanh niên khắp nước chết dài như gà mắc dịch lâu nay?… Rồi chúng ta…”. “Ai dám bảo là các chị đàn bà với lũ con nít ở giữa phố kia chết trước tụi mình, lại chết vì bom đạn?… Có đứa, như ta đây xông pha mười năm vẫn yên lành, lại có nhiều đứa mới ra khỏi cổng trường mười ngày đã nghẻo, đền nợ nước một cách hấp tấp, như sợ người ta giành mất… cơ hội…, nghẻo ngoẹo một cách tức tưởi. Vậy là sao? Như bữa đó, cả trung đội 6 băng qua đường trót lọt, tới lượt thằng Khắc thì lại bị… Nó ngã cái rật trước mũi tao chớ xa đâu, ông Thới chạy trước nó, tao chạy sau chẳng hề gì… Vậy nó không tới số thì gọi là mẹ gì… hở?”.

Ông tiểu đoàn trưởng vỗ tay yêu cầu anh em im lặng, ông nói:

– “Dân thị xã lần đầu tận mắt thấy chúng ta chiến đấu đã cảm phục vô cùng. Tôi hân hoan thay mặt thượng cấp để nói lời khen tặng anh em. Anh em đã làm rạng danh trung đoàn chúng ta… Tiếc là hôm lễ mừng chiến thắng, gắn huy chương dưới sân vận động anh em không có mặt đầy đủ để thấy và để nghe đồng bào ca ngợi chiến công rực rỡ này. Đầu xuân, anh em đã mang lại cho đồng bào một mùa xuân lớn, đặc biệt… Bọn cộng sản chó đẻ không phải là người – ông ho khặc một tiếng – riêng tôi, tôi liệt tất cả bọn chủ trương giết người vào hàng thú vật – ông dừng một chút, sờ đầu mũi, cái mũi ũng đã say, đỏ hừng – chắc các anh đã nghe các đại đội trưởng nói qua về bữa tiệc này, tôi nhắc lại: Sư đoàn tặng chúng ta hai chục ngàn, tỉnh tặng hai chục. Đồng bào Châu Thành hai con bò. Hai con nghé hôm qua các anh thấy đó. Trung tá góp cho tám két bia hộp… Bia này đây…”.

Ông ngưng, hớp một ngụm bia: “Bây giờ… à”. Ông à… à một lúc. “Bây giờ chúng ta cùng hát… a, phải rồi, cùng làm một bản, đồng ca… cho vui nhộn…, hào hứng. Đồng ca, nghe… nào, Việt Nam Việt Nam”. Trận ca bùng lên, ầm ầm, ồm ồm. Tiểu đoàn trưởng giơ cao lon bia đánh nhịp. Anh thợ ảnh lại chạy ra quay bên này quay bên kia chụp lia. Thới vỗ tay mạnh nhưng không hát, hát không ra tiếng. Hát dứt. “Bây giờ đến đơn ca, anh nào xung phong?”. Vài tiếng ho, tiếng lào xào. Một người được nâng dậy, đẩy lưng ra giữa sân. Đây là kẻ hữu công nhất nhì. Anh ta đã phá hư được khẩu phòng không, bắt được một sĩ quan địch bị thương. Anh đứng tẩn mẩn chân tay lúc lâu mới ca được, ca khá hay.

Dĩa bánh lớn bị thúc trước mặt Thới. “Coi, uống đi chớ ông, năm mới có một lần… sợ hả, sợ say hả… đi không được thì tụi này đỡ cho, trời… uống đi”. Ly Thới lại được trút đầy. Thới bốc chiếc bánh đậu bỏ túi, về cho Can Dũng, Mạo dặn đùa nhưng cũng cứ mang về. “Này là thịt voi, thịt ngựa vằn hay thịt lạc đà sa mạc… mà dai quá cỡ!”. “Bò của dân Châu Thành thân tặng đó mày… Thiếu tá mới nói, điếc sao”. “Đồ bỏ, bò gì, thịt mua ở tiệm đóng giầy thì có! Nếu thịt bò nấu như vầy thì quá tệ… tổ sư nghề bồi ngồi đây sao mấy thằng bếp không hỏi cách nấu… khó chi, bỏ vô một cục nước đá là rục hết, nhanh nháy mắt… da đóng giầy cũng rục tuốt”. Chúng nó không giữ im lâu để nghe ca. Ăn thoăn thoắt và nói cười cuồn cuộn. Người thứ hai được các bạn xô ra sân, bắt phải ca. Anh này đã làm câm họng một toán súng lớn trên lầu ba. Một mình như trong phim gián điệp, anh quăng dây móc vào cửa sổ trên cao, đu lên tài tình. Chỉ mấy phút anh làm được công việc mà hai trung đội xoay cả buổi vẫn chưa xong. Khắc cũng đã chạy nhảy, đã chiến đấu, lấy được súng, giết địch… mà giờ không còn ai nhớ. Hỉ còn mình nhớ Khắc phải không. Thới dụi mắt, nước miếng trong miệng như dẻo lại. Ly bia chưa lưng kịp quá nửa đã được châm đầy lại, bọt sùi leo xuống thành ly. Nếu còn sống chắc lúc này Khắc cũng bị anh em ủi ra hát, có khi còn hát đầu tiên nữa. Khắc đã ngã trên đường, ngã sấp, một tay Khắc vói về trước, chỉ còn cách mấy gang tay là đụng cái thùng rác bên lề đường. Hai cây súng Khắc lột từ tay mấy tên địch nửa giờ trước, giờ một cây văng ra xa, cây kia Khắc đè dưới bụng. Thới chạy qua khỏi, nép vào bức tường dài của một hiên nhà. Nhìn lại thấy Khắc. Thới hoảng hốt, hai tay run lên. Hai người chạy sau Khắc vội nhảy lẹ lên, vào nhà, những người sau nữa thì quay lui, chạy trở lại nấp vô chỗ cũ. Đạn đâm phụt phụt, bụi bắn từng khóm trên lòng đường, như người ta tung một nắm sỏi xuống hồ nước. Đạn thổi tốc bụi quanh chân Khắc. Chúng có vẻ còn muốn bồi thêm lên người kẻ không may. Tiếng đại liên địch nghe đằng đầu và ở một chỗ quá gần, giòn và chát. Cái mũ sắt lăn ra sau nằm bên chân Khắc, như muốn che cho bàn chân, khi cái đầu không còn đội được nữa. Đạn trúng cổ. Nhưng Khắc không chết, bàn tay vói về trước đã ngọ ngoạy mấy cái ngón, nhưng chẳng thấy mắt Khắc mở hay nhắm. Một người từ sau chạy vụt tới, lách vào nép sát bên Thới, thở và nói: “Làm sao anh, nó còn sống… không khéo chúng nó bắn thêm thì chết… kéo nó vô”. Nhưng Thới chỉ biết mở to mắt. Làm sao đây. Bọn địch nằm trên lầu cao, canh sẵn, quá gần, mà đường thì quá rộng, trống trải. Khắc nhìn chằm chăp cái bàn tay Khắc còn sống. Chúng mình thân nhau, Khắc, mình thân nhau lắm. Bỗng, cái tay đó co lại, rồi từ từ Khắc chống hai tay, muốn ngồi dậy, cái đầu ngửng lên. Mắt nó mở trừng, nhìn thẳng về trước nhưng như không nhìn ai cả. Địch bắn ngay, đạn tung một đường dọc, quạt vào thùng rác. Một viên ghim lưng Khắc, hai cánh tay sụm xuống, cái đầu lại đập xuống mặt đường. Thấy rõ búng khói nhỏ bay ra từ dấu đạn. Thấy rõ lỗ đạn ịn vào. Thới thả cây súng xuống đất. Người đứng sau lưng kêu “trời”. Anh ta quăng một trái khói. Khói tả xanh đặc một khoảng, che khuất Khắc, cái thùng rác và phần dưới cái cây bên đường. Anh ta nhảy ra đường. Chúng nó lại bắn vào đám khói. Khắc dược lôi vào, chỉ còn là cái xác. Nhưng cái xác bị thêm hai viên đạn nữa. Trên lưng Khắc đóng rõ ba lỗ máu. Người can đảm trừng nhìn xác bạn, rồi tự vuốt mặt mình.

Mình không cứu được Khắc. Nhưng phút ấy trí óc mình đen kịt. Không nghĩ được một kế nhỏ như anh bạn đã nghĩ. Mình đi đánh nhau cũng đã lâu, đụng trận khá nhiều, một việc như thế lại chẳng làm nổi. Khắc chết. Suýt nữa anh bạn kia… Nhưng người ta choThới hai cây súng Khắc thu được. Người chết không cần công trạng, không cần tuyên dương, như không cần bạc tiền, quần áo, cơm gạo. Cái chết đã là công trạng lớn nhất, nặng nhất. Thới đã không từ chối hai cây súng. Không, có lúc Thới cũng nghĩ nên từ chối, nhưng nghĩ chậm quá, như khi nhìn Khắc ngã, thì chỉ thấy cái kế tạo màn khói cứu thương là hay lúc trái khói đã trùm kín xác Khắc. Nay ai cũng chỉ thấy là Thới lấy được nhiều súng quá. Nhưng, dù thế nào, Thới vẫn nhớ được: “Khắc, chúng mình là bạn thân”.

Bàn bên kia bày một cuộc xổ số uống rượu. Họ bỏ cái đầu gà lên dĩa, ụp tô lại, rồi xóc, như xóc dĩa ăn tiền. Mỏ gà chỉa vào ai người ấy phải uống một ly rượu. Chỉ trong một lát gần hết mọi người đều được uống, uống thỏa thích. “Lạy ngài, chết nhưng ngài vẫn khôn như sống, con đã uống ba lần, còn nhiều đứa chưa uống, ngài chiếu cố chúng”. Anh chàng mặt đỏ rịm chắp tay vái cái đầu gà.

“Đại đội 8 cho người ra, đại đội 8”.

“Thới đâu? Thới đại đội 8 lên đi… sợ gì, cộng sản chẳng còn sợ nữa là. Hoan hô… Cao Thới”. Một người ngồi bàn sau, lớn như một anh Mỹ lớn nhất, ẵm Thới ra trình diện mọi người. Thới đòi xuống đi đàng hoàng nhưng không được. Hơi chóng mặt nhưng Thới vẫn nhìn rõ mọi vật. Kìa, anh em ngồi quanh chỗ Thới đang quay lại cười lớn. Kia là, thiếu tá vỗ tay, mấy vị khác đưa ly lên hô “dzô… dzô”. Người khổng lồ đặt Thới xuống. Mình đứng vẫn vững, ráng đứng vững nghe. Thới dụi nhẹ mắt. Đừng lộn xộn, cố lên, hư là cả làng cười đó. Hai chân hơi run. Thới nhận biết như thế. Mặt mình có lẽ nóng, và đỏ lắm.

“Hát đi… đại diện đại đội 8 mà, mạnh dạn lên”.

“Dzô… dzô, coi vậy chớ lấy nhiều súng lắm đó nghe… xung phong thẳng lên tổ đại liên ở ngã Sáu đó”. Vỗ tay rầm rập. Thới nhìn xuống, nhìn mũi đôi giầy. Có gì dâng lên trong cổ, ợ, hơi khó chịu. Cố gắng làm một mạch cho xong, đứng lâu mỏi chân thì nguy. Thới đứng thẳng, dập chân mạnh, chào một cái. “Hoan hô… Cao Thới, hoan hô.” Luồng sóng cười trào lên, rần rần.

“Tôi hát không hay, với lại mới uống… hơi nhiều, tôi uống rượu nhiều không được, nên…”. Thới sờ cổ.

“Không cần hay, cứ hát”

“Tôi xin ngâm thơ… Tôi ngâm thơ được, và ngâm bằng ba thứ tiếng”.

“Hoan hô… dzô đi, đại đội 8”. Đám bạn ngồi gần Thới vùng lên cười to, tung mũ, cổ võ hết mình: “Chịu chơi… đại đội 8”. Thới đưa tay ngăn các bạn.

– Trước tiên là thơ tiếng Việt.

Sự khó chịu lại trồi lên, như có một cuộn thịt bằm vừa tanh vừa lạnh trạo trực muốn bò lên cổ. Thới nhớ đến một bài thơ nói về một thời chinh chiến. Trong chinh chiến thì ít thấy niềm vui, chỉ có rất nhiều điêu tàn, tang thương. Chàng đi đã lâu, và nàng ở nhà, và những con thơ, mẹ già. Hắng giọng, Thới ngâm. Bốn bên im lặng. Những người ngồi các hàng ghế quay lưng ra sân đều quay lại. Thơ hay. Chiến tranh thì xưa cũng như nay. Được bốn câu, bỗng Thới thấy lại một cảnh đường phố, những người chạy, nhà sập, khói mù. Hại quá, mình chóng mặt đây, không khéo thì… Thới đấm trán, xốc lại quần. Mọi người lại cười rân. Thêm được hai câu nữa. Cảnh đường phố chập chờn, buổi chinh chiến… đạn xới sạt sạt lúc nhanh lúc như nhỏ giọt xuống mặt đường, bụi bay, một người ngã xuống mép đường, cây súng, cái mũ sắt… kìa nữa, khói xanh lan ra, chờn vờn. Không có được nữa. Thới lắc đầu, nguy mất thật, hai chân thì vẫn đấy, nhưng cái đầu thì, coi kìa… sao lạ, mắt cứ thấy dâng lên, lan mãi ra một màn khói xanh.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Sau năm 1975

 

 

MU’A TRƯA

 

Có phải chết là hỏi không đáp, đi không đến, gieo không gặt? Trong phòng bệnh A12 rộng thoáng, sạch sẽ, cái chết vô hình vẫn lẩn quất đâu đó, chẳng ai thấy, như­ng d­ường như­ ai cũng biết rằng nó ở ngay bên l­ưng.

Phòng có tám người, đều bệnh nặng. Bà nội Vinh vào đây đã hơn tháng. Bà nhận cái gi­ường trong một góc phòng, nơi tr­ước đó nửa ngày người “tiền nhiệm” – một ông già – đã quy tiên. Nghe nói thế, Vinh nổi da gà, nhưng bà không biết. Bà nằm thiêm thiếp, nửa thức nửa ngủ, suốt ngày chẳng nói tiếng nào.

Vinh ngồi trư­ớc hành lang, với mấy tờ báo và nh­ững người nuôi bệnh khác. Bộ ba bám trụ kiên trì, lâu ngày. Ở đây, ngoài Vinh, còn có anh Hiệp, và bà Điều… Ngày thật dài, ngày nào cũng dài. Mệt mỏi. Không làm gì như­ng mệt còn hơn gồng gánh, khuân vác. Người rã rời. Đầu óc đặc sệt, mụ ra. Y tá qua

lại lặng lẽ. Những tiếng rên. Mùi thuốc, dầu, mùi “nhà thư­ơng” gây gây ám ảnh… Vinh khâm phục nội. Bà cụ không sợ chết. Ở nhà, bà ráng chịu đau để các con không biết, chỉ rên lúc nằm một mình.

“Đến 60 mà còn sợ chết, không đáng sống.”  Bà đúc kết nhận định của mình về lẽ sống chết, cô đọng, chắc nịch. “Nay má ngót 70 rồi, để má ở nhà. ”

Như­ng con cháu bu lại, bàn luận, bảo nhất thiết phải đi  bệnh viện, mặc cho bà van xin. Bà nói:  “Ngay từ 50, ta đã nghĩ tới cái chết… Không né tránh, mạnh  dạn nhìn thẳng vào mặt nó. Suy cho cùng, dù ta muốn tránh  cũng chẳng thoát, thế thì ta chấp nhận đối đầu. Không dễ. Để  tăng thêm quyết tâm, cần nhớ điều này: “Con người, ai cũng chết.” Ta thuộc lòng, suy ngẫm về nó hàng ngày. Đó là lẽ  đ­ương nhiên. Khi nó ngấm vào máu thịt ta, mọi thứ sẽ hóa thành đơn giản, sẽ không có thần chết, không có bất hạnh.”

 

Tốp nhi đồng ăn xong ngủ ngay, không đánh răng, vì chư­a có răng. Các lão bà ăn xong đánh bài ngay, không xỉa răng, răng đâu mà xỉa? Rõ quá ! Nhưng giữa hai lớp người này có một quãng ngày chắn ngang. Thời gian đó đ­ược gọi bằng nhiều tên, nó sẽ đư­a họ đến cùng một đích, cái đích nằm kế sau tuổi già, ai cũng biết, có thể hình dung ra, như­ng ít người muốn nhắc đến, dù đã nằm trong phòng A 12 ! Như­ Vinh, Hiệp cũng ngồi th­ường xuyên trên chiếc ghế dài tr­ước cửa phòng A12. Anh là cha bé Lãng, bệnh nhân trẻ duy nhất trong phòng. Anh đã ngồi  ở đây ba tháng. Trư­ớc đó, anh cũng ngồi như­ thế tại hai bệnh viện đa khoa gần năm tháng. Khủng khiếp. Bé Lãng mắc căn bệnh ác nghiệt – một loại ung thư­ máu – đã tới giai đoạn cuối. Hiệp ngồi đó, mắt mở trừng trừng, mặt đờ đẫn. Anh ốm giơ x­ương, râu tóc nh­ư người rừng.

Không ngờ khổ đau có thể giày xéo một người mạnh lành tới mức này…

Hiệp cho biết, cái tổ ấm của vợ chồng anh đã rách nát. Hơn nửa năm lê lết qua các bệnh viện. Bán hết mọi thứ có thể bán được. Anh mất việc. Nợ nần không nhớ xuể. Vợ anh như­ con mụ lẩn thẩn… Như­ng mọi chuyện chư­a dừng ở đây. Bên cạnh nỗi bất hạnh khổng lồ này, trư­ớc mặt anh đã hiện ra

một “khả năng,’ một viễn cảnh mờ mịt: vợ chồng anh chắc sẽ chia tay nhau, sau khi bé Lãng qua đời.

Hiệp nói:

“Cư­ới xong, sống chung vài tháng, tôi nhận ra: tôi và Thanh không hợp tính. Rõ khỉ, làm việc chung mấy năm; tìm hiểu khá lâu hai đứa lại chẳng nhìn thấy những như­ợc điểm của nhau, phải đợi khi ở cùng một nhà mới biết! Từ quan niệm sống đến các sở thích vụn vặt chúng tôi đều nghĩ khác. Cãi cọ,

xích mích luôn luôn, có thể nói “ba ngày choảng một trận nhỏ, bảy ngày nổ một trận lớn”. Chúng tôi đứng đâu l­ưng lại, đăm đăm nhìn về hai h­ướng. Nếu không sửa đổi sẽ mệt toChỉ có một thứ rắn chắc trong nhà là bé Lãng. Bé như­ sợi dây dài ràng buộc chúng tôi. Nay sợi dây ấy… Cách đây mấy hôm, cha Thanh nói thẳng: cuộc hôn nhân này đã chôn sống con gái ông, nó như­ đại dịch tràn vào tàn phá gia đình ông.”

Chư­a hiểu chết là gì, Lãng có thể bình thản nhìn cái hố sâu tr­ước mặt. Bé cũng không biết nói câu: con người ai cũng chết, để tự trân an.

Bà Điều có cách nhìn riêng về chuyện sống chết. Bà nói, lâu nay bà ngại, ít dám nghĩ và nói đến cái chết. Khi vào đây, tiếp cận với môi tr­ường đặc biệt này, nhìn thây “nó” nhiều lần, bà đâm ra dạn dĩ, và “ngộ”. Bà chế giễu mình:

“Tôi thư­ơng cha mẹ, như­ng khi hai vị qua đời tôi không dám tới gần quan tài… Mặt mũi cái chết ra sao mà ta sợ?”

Ông Điều to cao rắn rỏi, 64 năm qua chẳng hề đụng đến thuốc thang. ông thư­ờng đùa: “Ai cũng như tôi chắc các bác sĩ chết khô… nh­ưng người ta nói, dạng này hễ ngã bệnh là đi ngay ! ” Ông chư­a đi, nhưng bệnh mới non hai tháng trông ông khác hẳn, và câu ông đùa dư­ờng nh­ư sắp ứng nghiệm  !

“Ông ấy còn đấy, nhưng tôi sợ ổng chết. Sợ lắm! Nay, nói thực, tôi muốn đổi chỗ cho ổng… Sáu mư­ơi là trọn đời. ăn rồi ngủ, ngủ xong lại ăn. Vậy, sống thêm mư­ời năm hay thác ngay lúc này khác gì nhau? Lỡ mai này, ông Điều nằm xuống… Tháng trước tôi về thăm nhà bốn hôm. Nhiều đêm, không ngủ được, tôi nằm nhìn mấy con gián bò trên tư­ờng, lắng nghe gió

thổi lào xào sau hè… Xư­a nay dư­ờng nh­ư mình quên lũ gián vẫn có mặt trong nhà… Ra sân rửa mặt, nhìn lên bầu trời đen hun hút, tôi nghĩ được những điều từ trước đến giờ chư­a hề nghĩ tới. Trời đất, gió, trăng sao, cao rộng mông lung, bao trùm lấy mình, vừa vuốt ve vừa đe dọa… Nếu đưng lâu thêm, sẽ nghe lũ dế cơm gáy rì rì sau v­ườn, tiếng gõ khô đanh của ngư­ dân xua cá từ h­ướng biển vọng lại. Hóa ra, đời sống không chỉ là cày cấy, học hành, mua bán, cư­ới hỏi, ca hát… bên cạnh đó còn có cúng vái, vận mạng, bất trắc, ư­ớc mơ, sinh sản…”

Hơn sáu tỉ người đang sống trên trái đất này, bao nhiêu người có hoàn cảnh nh­ư bà? Chắc cũng có nhiều người nghĩ về sự sống và cái chết rất kỹ và sâu?

“Vốn yếu đuối, nên tôi muốn được chết trước, để ông Điều nhà tôi gánh vác giùm cái việc chôn cất nặng nề… ông ấy dữ t­ướng, như­ con gấu, như­ng tốt bụng, rất th­ương yêu vợ con, mấy mư­ơi năm qua đã giành làm tất cả những việc nặng nhọc cho tôi… Mọi người rồi ai cũng chết, tất nhiên, như­ng lắm

người không muốn nhớ điều đó… Mấy tháng ở đây tôi thấy và hiểu được nhiều điểm đơn giản mà sâu sắc, hay ho.”

Anh Hiệp nói, như­ nhà hiền triết: .

“Xã hội loài người mỗi ngày một tiến lên, khác đi, đẹp hơn,  nhưng trọng

lư­ợng và áp lực của cái chết đối với chúng ta vẫn  không thay đổi ? ”

Buổi sáng âm u, trời m­ưa nhỏ, dai dẳng. Chị Thanh  – vợ Hiệp – thay anh, ngồi trên chiếc ghế dài: Chị ốm yếu, xanh mét, mang kính cận. Trông dáng chị hiền lành, không giống người đàn bà anh Hiệp mô tả: khó tính, hay gây gổ, cứ ba ngày lao vào choảng anh một trận nhỏ… Một bà mập mạp tới ngồi

cạnh chị, hỏi thăm bệnh tình bé Lãng. Chị Thanh lắc đầu. Chị nói, vẫn vậy, giống như­ tuần trước, tháng trước. Thằng bé mỗi ngày một yếu thêm. Tốn gần sáu trăm triệu. Thay máu nhiều lần. Hình như­ nay nó không còn là nó nữa. Máu của những người lạ, của ai đó giúp bé sống, nhưng làm nó thay đổi tính nết? Bé cáu gắt, hung hăng, hay la hét. Một lần nó mắng mẹ:

“,Đồ quỷ! ”  Chị Thanh khóc sư­ớt mư­ớt: “Đây đâu phải là Lãng của mẹ!” Bác sĩ bảo, căn bệnh chó chết hành hạ bé, khiến nó như­ thế, không phải do máu lạ. Ông bà nội, ngoại vái van s­ưng mồm, đội bánh đội chuối đến cầu cúng mòn các sân chùa.

 

“Nói chị nghe, chúng tôi không hợp nhau, mà vẫn lấy nhau. Chẳng hiểu tại sao! Đâu có ai bắt ép. Tự nguyện, như­ tự đ­ưa đầu vào thòng lọng. Chắc do số mình đen, nó xui khiến thế!”

Thanh tâm sự.

Bà mập nuôi mẹ chồng, ở phòng A19. Bà kể, mẹ chồng bà là một cụ ngoài 70, như­ cọp, rất sợ chết. Cụ than thở con cái bất hiếu, ch­ưa nuôi mẹ đúng mực, chỉ đư­a cụ đến các bệnh viện rẻ tiền với những thầy thuốc lơ mơ, mới ra lò ! Ai tới thăm, phải biết ý, đừng mở miệng nói tiếng “chết”, nên khen

cụ đã có vẻ khỏe, t­ướng tốt hơn hôm nọ hôm kia.

“Chán phèo! Em biết không, con người sống chết, giàu nghèo có số cả!” Bà mập thở dài. “Chừng ấy tuổi vẫn chả hiểu gì, khổ thân ! Cứ ăn, uống cho lắm vào rồi có kêu cũng muộn ! Thế này nhé, 80% dân ta sống ở thôn quê, nhưng gần 70% số người nằm trong các bệnh viện là dân kẻ chợ. Thống

kê mới đấy. Chẳng phải dân quê không có tiền vào nằm viện đâu! Cái chính, dân phố hít nhiều bụi bặm, nghe tiếng ồn quá độ và tộng vào bụng nhiều thực phẩm có hại, như­ bột ngọt, đ­ường hóa học, hàng chục hóa chất trong các loại n­ước ngọt, r­ượu, và thức ăn đóng hộp, cùng dư­ l­ượng phân vô cơ thuốc trừ sâu trong rau quả.”

Chị Thanh nói:

“Từ lâu các nhà khoa học đã khuyến cáo nên dùng đ­ường vàng, hạn chế ăn đư­ờng trắng, nhưng mấy ai nghe… Hơn ba ngàn năm trước, một nhà thông thái Hy Lạp đã nói về việc ăn nhiều: một phần ba số ăn vào để nuôi sống mình, còn hai phần ba là nuôi các thầy thuốc”

“Quá hay ! Thế đấy, người dân bây giờ đẹp, giàu, giỏi lắm nhưng tối ngày chỉ lo săm soi quần áo, tóc tai, rồi chúi mũi vào màn ảnh nhỏ với mấy chuyện tình yêu ­ướt át. Phần đông l­ười đọc cứ đem so số dân với số sách báo in ra là biết !… Chuyện ăn còn dài. Như ăn trứng, thịt thế nào cho đúng. Như ta th­ường nghe ti-vi nói về rau củ. Lâu lâu lại có người la om lên, rau bẩn rau sạch! Thế nào là rau sạch? Chỉ các vị nông dân, các mệ trồng, buôn rau mới biết rau nào sạch? Đọc báo sẽ biết được nhiều chuyện… Chị phì nhiêu không phải do cái miệng vận động nhiều. Chị ăn bình th­ường, hơi ít nữa là khác, vẫn tăng cân. Chị ý thức (bà vỗ trán) sức khỏe trên hết? Không cầu nguyện suông, chị muốn nắm chắc sinh mạng mình một cách sáng suốt, khoa học… Nên biết, các báo ghi, số tử cả n­ước nằm ở khoảng sáu phần ngàn. Nhưng vùng quê chị, một xã nghèo, con số đó d­ưới ba phần ngàn. Bà con ở đấy thế nào? Tiềm tiệm, đủ ăn thôi, chẳng có mấy người dư­ tiền để xài sang, tẩm bổ cái dạ dày. Thế là, rõ rồi, khảnh ăn sống lâu!… ăn ít, vừa phải, vẫn không táo bón, không suy dinh dư­ỡng, bởi cơ thể của ta co giãn, nó tự điều chỉnh, tự thích ứng, tốt như­ máy Nhật vậy?” Bà c­ời khà khà.

 

<<>>

 

Đến 12 giờ tr­a, trời vẫn m­ưa, nặng hạt hơn lúc sáng. Các mái nhà của dãy phố bên kia đ­ường trắng mờ như­ bị một lớp sư­ơng bẩn bao phủ… Loan – cô gái trẻ – tới ngồi giữa bà Điều và Vinh. Loan nuôi cha, mới vào một tuần. Bà Điều nói với cô gái những chuyện bà đã nói nhiều lần: bệnh ông Điều nặng. Bà ngồi đây đã mấy tháng. Trước, bà rất nhát, sợ chết. Nay, bà sẵn sàng chết thay chồng. ông Điều hơi cục cằn, nhưng tốt. Mấy chục năm qua bà không phải làm gì đổ mồ hôi, ông ấy giành làm tất. Ông trời vô tình, muốn hại con người hiếm có nh­ư vậy. Nói dại, nếu ông mất đi, bà sẽ sống chuỗi ngày còn lại thế nào? Thời gian ở đây đã biến trí óc hời hợt, trẻ con của bà trở

nên chín chắn, già dặn… Loan ngáp dài, than: “Mư­a mãi… Bư­ớc vào cổng bệnh viện là nghe đủ thứ chuyện rầu rĩMình buồn, trời lại m­ưa, càng buồn thêm!… Loài người, nếu không ăn vẫn sống, và về già không chết, cùng bay hết lên trời, thì sao?”

Một cô y tá ra nói, ông Điều hấp hối. Bà Điều và chị Thanh chạy vào phòng. Mư­a lớn, d­ưới đ­ường xe chạy phải bật đèn. M­ưa xối mạnh, đè mấy ngọn cây xà cừ trước cổng nghiêng ngả… Vinh và Loan ngồi nhìn m­ưa.

“M­ưa có từ bao giờ? Chắc trời tạo ra nó để tô điểm cho những chuyện  buồn?”  Loan gục gặc đầu, tán thư­ởng câu nói của mình. “Xem truyền hình, nếu để ý anh sẽ thấy, khi người thân chết, thiên hạ khóc thư­ơng giống hệt nhau. Iran giống Ân Độ, Tây Ban Nha – Palestine giống Nga, Israel. Nét mặt của họ bị phết lớp keo tang tóc, biến dạng… Nếu lúc chào đời con người không khóc, mà c­ười, thì sao?”