Viết…

Trần Hoài Thư

1/
Ở thành phố ấy, tôi đã trải qua thật sự một đêm trắng. Có lẽ tại cốc cà phê được pha quá đậm, hay tại vì lạ nhà lạ cửa. Cũng có lẽ tại vì thói quen, trước khi ngủ, cần phải được nghe lại những bản nhạc từ tiếng hát quen thuộc, để giấc ngủ đến lúc nào không hay. Rõ ràng thói quen đôi khi chính là tai hoạ.
Và tôi đã bất lực trong đêm. Sự bất lực đến điên khùng. Chưa bao giờ tôi lại thấy thời gian quá dài đến như vậy. Từ cửa sổ của lầu, tôi kéo màn nhìn ra cõi đêm. Những ngôi nhà vắng lặng tắt đèn. Phía xa xa, một building cao ngất, thấy những ô sáng. Không biết giờ này có ai còn thức như tôi hay không. Tôi thúc thủ trở lại giường cố dỗ dành giấc ngủ. Lại ý tưởng chợt lóe lên. Lại tay chân ngứa ngáy. Lại thói quen. Lại cái ghiền được ngồi trước máy để viết. Lại hối hận không mang theo laptop. Ít ra nó cũng giúp tôi không còn chịu đựng cái hình phạt như thế này. Ý tưởng, nhân vật, đề tài cứ chập chờn. Tôi muốn ghi lại, sợ ngày mai, chúng sẽ vuột mất. Chất liệu văn chương không phải dễ dàng gì gặp được. Đôi khi chúng đến thật bất ngờ. Chúng làm ta mừng như chộp bắt được một vật trân quí. Có thể là một ý thơ. Hay có thể là chữ đẹp. Có thể là một nỗi thôi thúc kỳ bí nhưng mãnh liệt. Chúng hành hạ chúng ta, bắt chúng ta phải ngứa ngáy. Và phải ngồi vào bàn viết.
Nhưng bây giờ thì tôi bất lực. Không có viết. Không có giấy. Không có computer. Không có một gạt tàn thuốc. Không có một ly cà phê. Chỉ có chăng là căn phòng rộng lê thê mà bạn đã ưu ái dành cho tôi qua đêm. Tôi bật đèn. Màu tường vôi trắng sáng. Nhưng đầu óc tôi thì nóng bừng căng thẳng.
Tôi liên tưởng đến những đêm xưa. Không thể tưởng tượng là giữa bốn bề địa ngục, trong chập chùng tai ương, trên đầu đôi khi trời mưa như thác, dưới đất là bùn đất nhão nhoẹt, thấp thoáng những gò mả nổi lên, và tai thì nghe tiếng gió hú, tiếng tre kêu rít hay muôn ngàn âm thanh của loài dạ trùng… thế mà nỗi thôi thúc của văn chương, chữ nghĩa lại thắng thế, khiến tôi phải trùm mền, phủ thêm một hai tấm poncho, và viết dưới ánh đèn pin quân đội. Viết. Chẳng trách nhiệm thiêng liêng. Chẳng ngòi bút là một sư đoàn như lời tán tỉnh của lãnh tụ. Nhưng nó là một nhu cầu. Như cơn ghiền thuốc. Nó bắt ta phải trải lòng trải dạ trải ý trên trang giấy nếu không lòng ta ấm ức, tâm não ta nóng bừng, có khi như dội ầm ầm tiếng nổ. Viết, bởi vì nếu không viết thì không được. Bởi chất liệu quá thừa thãi, quá dư dật, không cần động não, không cần bận tâm chọn chất liệu đề tài. Bởi tiếng kêu thất thanh không phải dội về từ cõi khác, mà chính từ cõi mà người viết văn trẻ có mặt. Những đề tài về cuộc chiến thì bất tận và người lính viết văn thì cuống cuồng viết, hối hả viết, sợ rồi mình không có dịp để được viết nữa. Và mỗi trang bản thảo như gởi gấm một chúc thư. Có khi bản thảo dang dở đứt doạn. Có khi mưa nhòa nhạt chữ. Có khi trang giấy bị cháy xém vì lửa pháo kích. Có khi chưa xong thì đã bị thương, trang bản thảo bị thất lạc…Có khi trang bản thảo bỏ quên trong túi áo trận hay ở một nơi giang hồ nào đó.
Sống trong điều kiện hoàn cảnh khắc nghiệt như vậy, mà chúng tôi lại viết được. Vì sao. Vì ít ra chúng tôi không có một ai, một cặp mắt nào, một tay công an mật vụ văn hóa nào, một chính trị viên nào, một đơn vị trưởng nào thanh tra, dò xét, theo dõi chúng tôi. Mà theo dõi để làm gì, trong khi chúng tôi đã ở tận cùng của lòng địa ngục rồi còn gì. Đày đi tác chiến ư. Còn nơi nào khác chăng. Chẳng lẽ đày ra khỏi đơn vị tác chiến về văn phòng ư ?

Sợ chết. Thèm viết. Nhắm mắt nhắm mũi mà viết. Dù viết chẳng biết gởi đâu. Trái phá nổ ầm ầm nhưng không bằng trái phá dội trong lòng ngực trong đầu óc. Nỗi buồn ràn rụa trên từng cọng cỏ cọng lau bờ bụi hốc đá sao lại không bật lên những thổn thức rỉ máu hay như giọt nước hồi sinh rả rích trong phòng hồi sinh cấp cứu… Viết để mà không còn dịp để mà viết nữa.
Như vậy, viết là một nhu cầu. Không ai can đảm bỏ ngòi bút của mình. Trừ những lý do riêng. Khi còn thở là còn viết. Tuy nhiên có những người còn thở còn thèm viết, muốn được viết lại phải chong mắt nhìn cả đêm trắng. Như tôi đêm nay. Như những bạn bè tôi ở quê nhà:
…Chỉ còn năm đứa chúng tôi thức cùng đêm trắng lóa, trắng đến vô cùng lòng dạ. Đêm hoàn toàn yên tỉnh, không có tiếng đạn bom gào thét, không có hỏa châu níu trăng sao, không có tiếng khóc gào vật vã, nhưng cả năm vẫn nhìn thấy một cách rõ ràng từng tràng bom dội xuống nỗi lòng mỗi đứa, nổ tung… kinh hoàng.

Tại sao lại nổ tung,,,  Câu trả lời quá dễ. Bởi vì anh không thể cầm cây viết để giải trừ cơn ghiềnđược viết.

Có phải vậy không ?

 

Một ngày của lão già ham đánh máy

1:30 AM thức dậy như một thói quen. Vào phòng của Y., giúp Y. vệ sinh cá nhân, thay drap, thay quần.
Làm như một tay nurse aid chuyên nghiệp. Không quên mang cho Y. một gói chip rong biển, một chai nước.Rồi đắp lại mền. Rồi chúc Y. ngủ ngon. Sau đó tắt điện.

Như vậy một ngày bắt đầu. Có nhiều chuyện phải cần làm. Trước hết lên máy, check lại email. Cám ơn người bạn trẻ đã tỏ ý giúp đánh máy dùm. Hy vọng cháu sẽ có những hạnh phúc nho nhỏ khi đánh máy lại một lá thư của Simone Weil do Phùng Thăng dịch trong tác phẩm Kẻ Lạ ở Thiên đường. Và sẽ hiểu tại sao lại có câu nói để đời: We must prefer real hell to an imaginary paradise. (Chúng ta phải thích địa ngục thật hơn là thiên đường tưởng tượng). Đánh máy là một job rất khổ tâm nhất trong đời khi mình phải đánh những gì mà mình chẳng thích, ví dụ một bài thơ bài văn chẳng hay ho, chẳng thú vị, rẽ tiền, ấu trỉ. Nhưng nếu đánh máy một bài văn giá trị, một bài thơ tuyệt vời, thì quả là một niềm vui nở búp nở hoa. Đọc thì chỉ nhập cái hay vào mắt. Nhưng đánh máy, thì nhập vào những ngón tay, vào mắt, vào tim, vào óc. Bởi vậy, chú mới có thể đánh máy không mệt. Suốt tuần qua, đánh máy một chương trong “những Ruồi” của J.Paul.Sartre, và phần giới thiệu về Simone Weil của Phùng Thăng cũng như tại sao Phùng Thăng lại chọn “Kẻ lạ ở Thiên Đường” để đặt tên cho tác phẩm mà nàng đã dịch.

Khi ta đọc, ta ít khi đọc từng chữ một, mà đọc lướt, thoáng qua, ít khi chú tâm. Nhưng khi đánh máy thì  ta phải chú ý từng chữ, cả dấu chấm dấu phết. Con chữ hiện lên trên màn ảnh, không phải ù lỳ mà chúng như có linh hồn. Bởi chúng đợi những ngón tay ta gõ xuống bàn phiếm, ghép lại, tạo nên một câu, một đoạn, một lời. Từ đó, ý tưởng sẽ nẩy nở, hoa lá sẽ mọc lên… Có khi ta đánh sai, dò lại, và biết thêm về sự quan trọng của dấu chấm dấu phết.

Lại thêm một việc làm nữa cho một ngày của lão già.

Đó là làm sao cho cái bìa trước bìa sau của dịch phẩm “Những Ruồi” được “mát mắt” hơn. Cám ơn lắm lắm hai bạn trẻ ở VN đã copy toàn bộ cuốn sách giá trị này. Một món quà vô giá. Mà vô giá thì phải gìn giữ chắm nom, săn sóc, phải làm cho đẹp hơn.

Chẳng lẽ cái bìa trước bìa sau như thế này sao:bia truoc nhung ruoibia sau

Qua InfanView – một nhu liệu miễn phí – khỏi cần photoshop quá mắc, tôi đã ra bàn tay phù thủy cho một niềm vui sách vở và  ứng dụng điện toán. Để hớp cà phê đầu ngày cũng lóng lánh niềm hạnh phúc:

bia Nhung RUoi new-x

Viết trong những ngày bão tuyết

Xin được chia vui với ta,
Với chiếc xẻng, và lồng ngực cạn dưởng khí
Ta đã dọn cả một con đường từ thềm nhà ra driveway từ đít xe ra đường
Ôi tuyết khiếp, tuyết xây thành, tuyết mềm trên đầu đông cứng dưới chân
tuyết như cả biển băng hà bao vây lục địa,
Tuyết cao cả hơn một thước, chất chồng trên mui xe, trên nắp xe
Để ta vừa thở hào hển vừa run tay run chân
múc quăng từng xẻng tuyết

A ta lại mở đường
đừng bỏ cuộc
hãy phấn đấu lên hỡi lão già
như ngày thanh xuân ta từng mở đường
tháo gở những trái mìn râu, những ổ chông, những mô những ụ
chạy xung phong vào ngôi làng bên đường
khi nghe tiếng súng tắc cù
Hay đi xa tên truyền tin sợ thằng du kích nheo mắt tìm thằng chỉ huy là ta mà bắn tỉa

Ngày ấy, ta mở đường cho thiên hạ
Nay thì mở đường cho ta
Ta không có công binh
không lính tráng
không truyền tin liên lạc khi cần
chỉ có chăng là chiếc xẻng
lồng ngực cạn dưỡng khí

Vậy mà cũng xong
Chiếc xe đã lui ra đống băng hà
Ta tự thưởng huy chương cho mình
bằng cách nằm ngay trên sô pha thở hồng hộc

Thởc mà rất vui
Bởi vì ta vẫn còn mạnh
Bởi vì ta vẫn còn đủ sức
để theo em, theo tận cùng
Theo khi em ngủ
Theo khi em thức
Theo khi em muốn đi vệ sinh
Theo khi ta cầm pedal quay cho em tập
Theo khi chân em bước không được, dỡ không lên ta phải nắm mà kéo
Theo khi đẩy chiếc xe lăn đi
Em ngồi ta đứng
Emj nằm mà ta kéo
Gắng gắng lên sao mà nặng quá vậy cà…

Cám ơn những khối tuyết khiếp kinh nặng trỉu đông cứng
Để ta còn biết ta vẫn còn đủ sức với đôi bàn tay, đôi chân
Cám ơn những ngày tháng tận cùng khổ nạn của em
Để ta hiểu là ta vẫn còn may mắn
Vẫn mở đôi mắt vào cuộc đời
Vẫn mở trái tim vào cuộc sống
Vẫn thẳng tấm lưng
Vẫn làm thơ viết văn
Vẫn in ấn

*

Hôm nay là ngày chót khóa sổ bài gởi cho tạp chí Thư quán bản thào
Ta cảm thấy hối hận khi viết thư cho NM nói đừng nên bận tâm nhiều đến spelling
Nếu có ai phiền trách anh sẽ ngưng gởi tặng báo ngay
Nếu không có ai hết là anh chỉ in một tập và một tập cho mình
Bây giờ ta mới hiểu tại sao mà NM lại kỷ dò từng chữ từng chữ, đọc hai ba lần nội dung trước khi để ta in và phát hành
Bởi vì bài vở quá chừng quá chừng giá trị
Như số sắp sửa này
Sẽ có Kẻ lạ ở thiên đường của Simone Weil bản dịch của Phùng Thăng
Sẽ có Những ruồi của J. Paul Sartre bản dịch của Phùng Thăng

bia KLOTD

Làm sao mà không giá trị được

Khi nó đã có những thứ mà có tiền cũng không thể mua được
Đó là tình

Tình bạn hữu

Tình độc giả

Tình anh em

Tình văn Chương

 

NHƯ NHỮNG QUỚI NHÂN ĐẾN VỚI TA  GIỮA MÙA ĐÔNG KHỔ NẠN

Lời kêu gọi

Để số chủ đề: Tưỡng niệm nữ dịch giả Phùng Thăng  ( chắc chắn là phát hành vào tháng 3-2014) được tốt đẹp,  chúng tôi cần những tác phẩm sau đây ( chỉ được xuất bản trước 1975):

– Buồn Nôn (Phùng Thăng dịch)

– Sói đồng hoang (PT dịch chung với Chơn Hạnh)

– Bắt trẻ đồng xanh (dịch chung với Phùng Khánh)

– Câu chuyện một giòng sông (dịch chung với Phùng Khánh)

– Những ruồi(Phùng thăng dịch

-Kẻ lạ ở thiên đường (Phùng Thăng dịch)

– Lão ngư ông vfà biển cả (dịch chung với Phùng Khánh)

Nếi quí bạn có, xin  vui lòng sao chụp  một chương mà quí bạn tùy ý chọn gởi về để chúng tôi đánh máy gấp.

Địa chỉ điện thư:

tranhoaithu@verizon.net

Chúng tôi hết lòng đa tạ

Trần Hoài Thư

(chủ trương tạp chí Thư Quán Bản Thảo)