Phù Hư và Ngậm Thẻ Qua Sông

Tôi vừa nhận được thi phẩm Ngậm Thẻ Qua Sông của Phù Hư do nhà xuất bản Hội Nhà Văn ở trong nước xuất bản vào tháng 2-2013, do một người bạn thơ mang từ VN về Mỹ chuyển lại.
Xin thành thật cám ơn tác giả. Và cũng xin được chia sẻ niềm vui.

Nowy-obraz

 

Trong công việc sưu tầm thơ trước 1975 cho Bộ Thơ Miền Nam Trong Thời Chiến (2 tập), Phù Hư là một tên tuổi mà tôi tốn rất nhiều công sức để sưu tầm. Cuốn Một tôi chỉ sưu tập được một bài. Đó là bài Ngậm Thẻ Qua Sông. Đọc cảm thấy quá hay.  Tưởng tượng cảnh một đội quân đến một xóm làng giữ gìn cho giấc ngủ của em và của mẹ, trong khi chồng của em thì vắng bặt phương xa không biết tông tích thế nào,  rồi một đêm được lệnh di quân, âm thầm vượt sông… Cứ tưởng tượng cảnh ấy lòng thấy nao nao…  Tôi không thể tìm một bài thơ nào của bất cứ một tác giả nào để mà so sánh về một điểm tương đồng. Thơ anh rất mộc mạc, như đất, như sông, như mái tranh, như vầng trăng, như tiếng thầm thì của quê hương hay tiếng lòng của một người lính trẻ nằm bên chái tranh nghèo, trong ấy có một người thiếu phụ trẻ vắng chồng đã lâu… Những chữ dụng thì cũng chẳng phải là sáo ngữ… Thơ chẳng cần kêu to, hay tưởng tượng kiểu trăng treo đầu súng, trái lại  rất thật, rất thật vô cùng.

tối nay đạn nổ nhẹ mạn sông
sương mỏng quá nhìn hoa ngàn con mắt
tôi giữa đêm nghe mình như thất lạc
thương xóm nhà biết nổ đạn vào đâu

Để rồi tập II, tôi đã sưu tầm thêm 3 bài nữa.  Ít ra đây là một niềm hãnh diện của cá nhân mình trong công việc sưu tầm.  Dù Phù Hư rất ít xuất hiện, nhưng không phải vì thế mà thơ Phù Hư lại không giá trị.  Và bổn phận của người sưu tập là phải cố đi tìm những sáng tác của tác giả được chừng nào hay chừng nấy,  cho dù tên tuổi tác giả ít quen thuộc hay ít  được nhắc nhở…
Đó là lý do tại sao Bộ Thơ Miền Nam  5 tập dày trên 3000 trang  ra đời.

Chỉ tiếc là tôi không được dịp để xuất bản tập thơ này như niềm mong mỏi từ lâu. Y. đã ngả bịnh. Nhưng mà trước sau gì tôi cũng phải tái bản. Như là một niềm tri tạ với một người thơ đã mang lại danh dự cho thế hệ chúng tôi, nhất là những người từng mang màu áo lính miền Nam.

Xin được đăng lại ba bài thơ làm trước 1975 của Phù Hư:

ĐỒN SƠN YỂM

đóng núi đồn xa đoàn pháo yểm

quanh năm ngủ miết với chân mây

nhìn sâu xuống vực nham hiểm đá

thù rừng cành trút lá mặc cây

vào thu rồi đó đèo xao xác

thung lũng vàng khô ẩn bóng nhà

suối chia mương nhỏ gie ống nứa

chuối mùa lốm đốm lá trổ hoa

suối len khe đá âm mưu chảy

đồn đóng binh ròng trận mạc xa

khói mỏng lên chiều thưa chiếc chim

đèo cao hút bóng mỏi mắt nhìn

gió mớn cho đông về thoáng lạnh

trông gần thương nhỏ dáng người em

âm thầm đêm tối gào giữ giặc

nhanh đạn chuyền tay chống tuyến đầu

gió núi rên oằn băng tiếng pháo

mây tan đường trái phá qua sâu

sơn yểm đỉnh cao muốn chống trời!

binh sĩ nhàn cư quẩn quanh thôi

cỏ không chừa lối đường xuống núi

rượu hết từ khuya vắng tiếng người

đêm lính trú buồn hâm bếp lửa

nhìn nhau kể chuyện vãn cười chơi

tay hơ than khói khô da thịt

thuốc đốt từng khoanh dấu mặt người

đêm gió u hồn thổi muôn phương

lũng hạ khuya tiếng sói tru buồn

dư rượu ấm chi lòng khách núi

thuốc từng khoanh cầm tiếng thở giữa hồn

chinh chiến đầu non chinh chiến trận

ì ùng âm pháo dội quanh năm

xóm cũ chừ em lo chạy loạn

cha già xưa nhúm mộ bỏ bên đồng

đèo sắp qua đông lạnh quá chừng

cây nản rừng chưa trổ lá non

đồn dăm chòi dột tin mưa gió

pháo mới chùi xong đợi tấn công

bạn tôi trẻ tuổi vừa cưới vợ

cười lệch đôi môi nói chuyện nhà

thoát sắp đông sang rồi đấy nhỉ

trông rừng giết lá mấy mùa qua

thu giữ mây cho ấm lòng người

pháo yểm đồn cao đứng lẻ loi

bao giờ vạch cỏ xuyên đường núi

lũng hạ thăm em rượu mềm môi

1972

NGẬM THẺ QUA SÔNG

thơm lửa hương khoai tiếng hát rừng

ven thôn vừa ghé buổi di quân

khói mẹ sau lều cơm chín tới

nước em chè lá đậm phèn sông

tôi đời trận mạc xa quê quán

buổi ghé nương em núp bong nhà

em nhớ thương chồng đóng đồn ải xa

lâu tin vắng trông mòn đường xóm

tôi ở quá bên hông nhà gió sớm

đợi dùm em tin chinh chiến gởi về

đêm nay mưa em mất ngủ khuya

tôi lạnh gió tin địch về vẫn thức

làng em ở gió lào qua rất độc

ngày mưa mùa khuất núi mù sông

mẹ già mong một mụn cháu đầu lòng

em nhắn gởi bao lần tin vẫn biệt

rụng vườn em trăng sương ngày tháng chạp

tôi gác đêm như bóng người rình

tối nay đạn nổ nhẹ mạn sông

sương mỏng quá nhìn hoa ngàn con mắt

tôi giữa đêm nghe mình như thất lạc

thương xóm nhà biết nổ đạn vào đâu

đồng đội tôi ngủ mệt thôn sâu

ngại làm động mẹ ho vừa chợp mắt

tôi nương bóng nhà trăng che khuất

ngồi co mình cho bóng bớt riêng tôi

nhìn xa trăng định trốn sau đồi

sông tiếng vạc dặm buồn như tiếng cú

thức có khua mới nghe hồn bớt ngủ

mới hay trăng tháng chạp úa quanh đời

nghe em thở não mãi không thôi

em thở đó hay gió kêu mùa giá

nhà em ở miệt đông xóm hạ

bên triền sông không bến phải vắng thuyền

đầu trăng con nước rất vô duyên

lên mấp mé vườn em vai phơi áo

em rất nhỏ ngày trông vào gánh gạo

mẹ thì già vồn cải với nương rau

bước sau hiên vui mẹ dây trầu

mùa tốt lá xanh hồn tôi mới ghé

buổi mới đến cau cao vừa nhú bẹ

em thẹn thùa tôi tưởng thưở bình yên

tôi đâu hay em có nỗi hờn riêng

trông chinh chiến gọi hồn chồng theo gió

một tháng tròn ngỡ như ngày thưở nhỏ

em là em mẹ là mẹ xưa

tôi lêu nghêu lúc đi sớm về trưa

cơm nửa buổi giữa khuya kêu bụng đói

nhà thưa quạnh tôi gượng vui chẳng nổi

mẹ thẫn thờ em heo bóng trong sân

tôi trận mạc nhầu không kể đến thân

sương nhiều lắm trời không che nằm đất

em vẫn bảo tôi mái tranh không chật

tôi cười xòa xó xỉnh miết đâm quen

tròn tháng rồi đấy nhớ không em

hôm từ biệt quanh thôn nhà cửa khép

lúc quân đi chắc em không hế biết

đội tôi ngùi ngùi ngậm thẻ qua sông

còn tôi co ro lạnh mãi gió đông

một lần cuối nhìn nhà em đóng kín

tin chồng em chắc chưa về đến bến

như tin tôi mấy thưở gởi thăm nhà

cũng mấy năm rồi biền biệt phương xa

em còn nhớ một lần tôi ghé ở

thơm lửa hương khoai vùi bếp cũ

hồn em xa lắm cũng quanh đây

1972

QUÂN BỘ KHÚC

quân bộ qua thầm quân bộ qua

nón ngụy trang thép lạnh màu da

câm trăm miệng hến trừng gò ụ

súng dại dột nòng chực đạn ra

mặt thâm hiểm quá răng trắng nhỡn

biên giới xế chiều như cõi âm

cây che mù mịt vùng lãnh khí

có tiếng ai cười nghe xa xăm

đi qua rừng truông lá tủi thân

quân như ma lẩn bước thì thầm

áo quần trận tiệp mùi cây lá

đường xa đau rát gan bàn chân

lên đèo xuống dốc không sờn chí

cạy răng tìm không một tiếng cười

lúc mỏi tản quân cho ngồi nghỉ

khi buồn đưa điếu thuốc hút chơi

canh khuya ven núi ực tiếng cú

tay gìm súng mắt mỏi đủ thứ

trông xa thấy thoáng tưởng khai hỏa

cây đen lù gió lay bay lứ dứ

đêm rừng lạnh muốn ho xé cổ

ráng chịu qua giữ mục tiêu quân

cầu sương điếm cỏ đau lòng khách

súng thép giá bên mình quanh năm

trinh sát cơ bay rù trên cao

nghe ra nhớ người xa biết bao

ngắt một cọng cỏ xanh dưới gót

ngậm trong miệng vơ vẩn làm sao

tinh sương thu quân gọi lên đường

rừng âm u bít lối cỏ mòn

vạch cây khoét bụi theo đường nhỏ

quân đi rừng cuộn mãng xà cuồn

qua suối nước nguồn cao tới ngực

súng dong cao địch tưởng ta hàng

quần áo ướt dầm không khí ẩm

da nhờn rít thấm gió mùa sang

đi mãi quanh năm với núi rừng

ngoái nhìn trùng điệp núi phương đông

ngước mặt cây mù bưng bóng tối

hai bên bờ bụi xót xa lòng

ba ngày lương khô ăn không chán

khát uống suối nguồn trông cá vởn

thất chí theo người xưa gõ gươm

ca rằng hề cơm không có canh

lầm lũi miết cũng tới xóm thôn

chạm dăm trận trước chưa lại hồn

quân vòng bố trí quanh bờ ấp

toán chận bờ sông toán đầu truông

một canh nhỏ quân phục múi cầu

hai cánh khác xẻ đôi thọc sâu

cẩn thận có khi là công cốc

thôn toàn con trẻ với mẹ già

răn rúm quả xanh dăm trái khế

ít cơm rơi nhao nhác lũ gà

ủng oẳng bên hiên con chó ốm

thôn ổ này là quê nhà ta

ngủ chưa chợp mắt quân di chuyển

nón sắt nặng đầu ba lô mỏi lưng

trông quanh đen đúa không rõ mặt

lắng nghe va động đoán chừng chừng

lắng nghe mới rõ gần nỗi chết

biết có gì không dưới bước chân

thê nhi bao nỗi long tan tác

em ở xa mà ta ở gần

ngàn năm biên ải giữ oan hồn

lá rừng xô gió núi sông xương

chết phơi khí tiết vô danh sĩ

chết đắng cay ma núi ngậm hờn

biên ải ngàn năm danh tiết hão

mộng sông hồ đâu phải ở đây

ta cũng chẳng vô vi lão tử

sao suối cùng đèo nối ngàn mây

biên ải ngàn năm gió u hoài

quân rờn gió núi da mọc gai

phải gió mang muôn linh hồn cũ

về đây đợi đón khách phương ngoài

giật minh không chỉ nghe tiếng đạn

dầm dãi ngày mưa lũ năng dầu

chiều bên núi dốc chưa hỏi đá

đã nghe cú hực gợi đêm thâu

thưở tuổi hai mươi xanh tóc người

bên rừng ngả nón ngỡ thảnh thơi

súng lơi báng nhỏ thả lời hát

trăng mùa xưa ơi em của tôi

1973