Program linh hồn ?

(Talawas 11-11-2004)
(Góp ý với bài viết của Nguyễn Hữu Liêm)Bài triết luận của GS Nguyễn Hữu Liêm “Giữa cái thực và cái không thực: một triết luận về không gian internetđã đề cao vai trò điện toán vào ngay cả kiếp nhân sinh, sự sống, linh hồn…

Để chứng minh, ông đã viện dẫn cuốn sách The Physics of Immortality (Vật lý học về tính Bất tử, 1994), đã định nghĩa sự sống (life) bằng khái niệm “sinh thể” (living being) rằng: Một sinh thể là bất cứ đơn thể nào vốn ấn ký tín hiệu, để từ đó ấn ký tín hiệu nầy được tồn giữ bởi sự đãi lọc tự nhiên. Do đó, ‘đời sống’ là một thể thức vận hành tín hiệu, và đầu óc nhân loại – và linh hồn con người – là một chương liệu điện toán rất phức tạp. (A “living being” is any entity which codes information with the information coded being preserved by natural selection. Thus “life” is a form of information processing, and the human mind – and the human soul – is a very complex computer program).

và xem khái niệm về bit 1 và 0 (hữu thể và hư không) như là căn bản của tín hiệu trong việc cấu tạo đầu óc nhân lọai và linh hồn con người.

Bài góp ý này được viết bằng kinh nghiệm của người thảo chương viên (programmer) chứ không phải qua bất kỳ sách vở hay nương cậy vào ai.

1. Nói rằng đầu óc nhân lọai và linh hồn con người là một chương liệu điện toán có nghĩa là đầu óc và linh hồn phải tuân theo những yêu cầu cơ bản của chương liệu (program).

Yêu cầu đầu tiên là: dữ kiện (input).

Trong lãnh vực điện tóan, dù máy chạy bằng hệ thống Microsoft XP hay UNIX, hay mainframe, dù hệ thống máy là 8-bit, 32-bit hay 64-bit đi nữa, hay IBM, NCR, HP v.v. với cùng chung input, với cùng một application thì sẽ cho cùng một kết quả output.

Còn con người thì sao?

Ví dụ, cùng một thầy, cùng một bài giảng, cùng giờ học, cùng sự chăm chỉ, nhưng chắc gì hai người học trò có cùng điểm tốt nghiệp.

2. Việc đãi lọc tự nhiên là một điều tối kỵ trong lãnh vực thảo chương (programming).

Vtệc đãi lọc này được thực hiện bởi người programmer. Máy không thể biết cái loop quay mòng mòng đến vô tận, hay là cái khủng khiếp khi ta quên không dặn máy đừng chia 0! Ta phải đề phòng bằng những utility hay những code.

Việc đãi lọc này ở giai đọan hai, sau khi máy thu nhập dữ kiện. Đó là giai đọan PROCESSING qua những điều kiện mà người thảo chương đặt ra để gạn lọc và tôn giữ (hình như danh từ tôn giữ có vẻ không thích hợp. Tôi đề nghị sửa lại bằng lưu trử [save]) qua lệnh (command), ví dụ IF… THEN ELSE. Thí dụ trong một program thảo về một credit card bỏ vào máy ATM chẳng hạn. Nếu account của nhà băng bắt đầu bằng số 9, thì trước hết ta phải dùng cách đãi lọc như thế này:

IF first digit is 9 THEN do something
ELSE
invalid…

(NẾU số đầu là 9 thì làm cái gì đó
CÒN KHÁC
thì không giá trị…)

(Tha lỗi cho tôi. Thật bứt rứt khi phải dùng những từ ngữ tiếng người. Nhưng tôi nghĩ rằng, trong lãnh vực programming, ai cũng biết được những từ ngữ này).

Như vậy, không có chuyện tôn giữ, đãi lọc tự nhiên.

Nói tóm lại, nếu xem tư tưởng, linh hồn là kết quả của chương liệu điện toán (phức tạp), thì e rằng không thích hợp chăng?

3, Cái ý niệm về bít 1 và 0 như là hữu thể và hư không, có lẽ không thích ứng với khái niệm 1 và 0 trong lãnh vực điện toán. Tại sao người ta lại dùng Nền-2 (Base-2, Binary Digits) mà không dùng Nền-8 (Octal-Base) hay 10 (Decimal Base), bởi vì nền 2 (1,0) đơn giản, dễ dàng cho việc chế tạo chip, thế thôi. Chứ không nhất thiết là một định luật rằng điện toán phải cần 1, 0.

Riêng kẻ này, tay làm thơ lãng mạn, thì vẫn thích bit 1, 0, nhưng theo cách khác:

rồi những bít 1 và 0
những trang điện thư gởi đi, chờ đợi
tôi đang mơ gì nơi xa vời vợi
lạ vô cùng nhưng như thể đã quen
khi tôi click vào một chữ send
ngàn bit chở hồn tôi yêu dấu
ngàn bit chích vào tôi rớm máu
như nỗi buồn của một kẻ vô duyên
hay biết mình, quá sức trẻ con
ước gì tờ thư trở thành màu tím
để ngập hồn em như thời mới lớn
thấy cuộc đời này quá đỗi dễ thương

(THT)

(Talawas 11-11-2004)

Năng khiếu ngôn ngữ (2)

Cũng tại vì giáo sư Hoàng Ngọc Hiến đề nghị các giáo viên, phê bình gia phải làm sao cho thiên hạ hiểu thế nào là người có năng khiếu hay người không có năng khiếu ngôn ngữ để cho những kẻ “bẩm sinh không năng khiếu ngôn ngữ” phải… tủi thân.

Thật vậy, trong chiến tranh, cuộc đời của hắn đã bị đen như thế này, thưa giáo sư:

Khi đánh giặc ta là thằng chết trước
Tổ quốc ghi ơn lãnh tụ đẹp lòng
Khi tìm vợ ta là thằng chạy chót
Nên khó lòng ấp vợ đẹp trong chăn

thì bây giờ, hắn muốn trở thành nhà văn, nhưng sau khi đọc bài nghiên cứu văn học của giáo sư Hoàng Ngọc Hiến, hắn thất kinh, và:

Khi yêu em anh mơ thành văn sĩ
Nhưng bẩm sinh anh ngôn ngữ mù lòa
Thôi thì trở về cam phận janitor [1]
Đánh bóng nhà cầu
để soi cuộc đời lem luốc…

Nhân danh một tên bẩm sinh không có năng khiếu ngôn ngữ xin được lên tiếng, và xin hiểu giùm chỉ góp ý chứ không phải đối thọai hay đối thọi gì hết.

© 2004 talawas


[1]vệ sinh phòng ốc

Năng Khiếu Ngôn Ngữ

Lời chũ Blog: Bài này post trên Talawas vào năm 2004 dưới tựa: “Lựa lại nội dung”  để  góp ý về bài “Kể lại nội dung” và “viết nội dung” của Hoàng Ngọc Hiến.
Xin lưu ý Hoàng Ngọc Hiến là thầy dạy viết văn tại trường dạy viết văn Nguyễn Du Hà Nội. Miền Nam có nhà văn Hoang Ngọc Hiển sinh năm 1942 cọng tác viên thường xuyên của tạp chí TQBT (một đằng Hiến – dấu sác, một đằng Hiển – dấu hỏi).

 

Dưới đầu đề “Kể lại nội dung” và “viết nội dung”, giáo sư Hoàng Ngọc Hiến (HNH) đã dành hầu hết bài viết để nói về sự cần thiết của ngôn ngữ.

Ông viết:

Con đường sáng tạo nội dung đi qua sự sống của ngôn ngữ trong tâm trí người viết.

Ngoài ra ông còn “tỏ lượng bao dung” đối với những nhà văn không có năng khiếu ngôn ngữ:

Người viết văn không có năng khiếu ngôn ngữ không có gì đáng trách cả, vì năng khiếu ngôn ngữ là bẩm sinh và, như người ta vẫn nói, trời sinh ra họ như vậy và nếu như không có năng khiếu họ vẫn cứ viết thì đó là quyền của họ. Ðáng trách là những nhà phê bình, nghiên cứu văn học, những giáo viên văn học… không hướng dẫn công chúng và công luận văn học phân biệt những người viết có năng khiếu ngôn ngữ và những người viết không có…

Bài viết này xin được góp ý với ông HNH về vai trò của ngôn ngữ trong những sáng tác văn học.

  1. Thứ nhất, người có năng khiếu ngôn ngữ không hẳn là người sáng tác để đời nể trọng. Và những sáng tác “thượng thừa ngôn ngữ” cũng không chắc là sáng tác để đời. Những bài văn bài thơ đọc muốn dựng tóc gáy, với những chữ nghĩa kêu thật to, thật lớn của Xuân Diệu, Huy Cận, Chế Lan Viên, Nguyễn Tuân, Tố Hữu trong thời gian chống Mỹ, đã giúp gì cho con người ngoài việc kích động tuổi trẻ lao vào cõi chết, để rồi sau đó, tác giả lại ăn năn hối hận hoặc thú nhận rằng tại vì cái sợ, hoặc bật mí chỉ là tưởng tượng, hư cấu…
  2. Giữa năng khiếu ngôn ngữ và đơn giản ngôn ngữ, cái nào hay? Còn tùy thuộc. Ví dụ đọc lại câu văn chữ nghĩa phong phú của tác giả HNH vừa trích dẫn ở trên: ”Con đường sáng tạo nội dung đi qua sự sống của ngôn ngữ trong tâm trí người viết” có thật sự làm tăng phẩm chất của câu văn hay khiến người đọc nhức đầu? Tại sao không đổi lại câu văn như thế này: “Sự sáng tạo cần ngôn ngữ” hay “Sự sáng tạo cần sự có mặt của ngôn ngữ” có được không? Dễ hiểu hơn không?
  3. Sự thành công của tác phẩm không phải chỉ tùy thuộc vào năng khiếu ngôn ngữ. Còn có những yếu tố khác tạo thành. Ví dụ, khi tả cảnh tang thương của chiến tranh, chỉ tả lại cảnh một người dân quê qùi chắp nối lại cái thân mía bị gãy lìa vì vết xích chiến xa (Mà làm sao nối chắp lại, trời ơi), hay tả lại một tấm hình đứa con thơ của người tử trận giấu dưới đáy ba lô, cũng đủ làm ta đau thốn tận tim gan. Có nghĩa là, trong đống chất liệu bề bộn, người viết văn phải biết cách tuyển lựa những chất liệu thích hợp nhất, giá trị nhất, và phổ quát nhất (nói như trong lãnh vực điện toán là globalization). Sau đó mới nghĩ đến chuyện sử dụng bút pháp.

Như vậy, chữ nghĩa chỉ là phụ. Cái chánh là viết thật, viết đúng, viết bằng hơi thở của mình. Người đọc không là người thưởng ngọan. Họ tìm đến tác phẩm, có lẽ, vì tác phẩm là một người bạn rất thân thiết hiểu rõ nỗi lòng của mình.

Để chứng minh văn chương là hơi thở, tôi xin trích một đọan văn mà tôi đã viết. (Tại sao tôi không được quyền này nhỉ. Tại sao tôi lại viện dẫn những ông Tây Mỹ trong khi họ chẳng ăn nhập gì đến văn chương Việt Nam… ):

“… Ngày hôm đó, ngày 9 tháng 5 thì phải. Mặt trời thì hừng hực lửa. Chỉ có mặt trời mới thấy bọn tôi. Tôi nằm trong bụi, mặt dầm dề máu và đùi găm đầy miểng lựu đạn, cả mông tôi cũng vậy. Tôi nhìn lên cao cầu khẩn Tổ Tiên Ông Bà, Nam Mô Quan Thế Âm Lạy Trời Lạy Chúa. Nhìn mặt trời, cho con sống. Sống. Tôi vùng dậy chạy. Đạn rít dưới chân. Đạn xẹt trên đầu. Tôi lộn nhào. Lê lết. Bò trườn. Tôi nhào xuống bờ suối. Đạn đuổi theo. Nó canh kỹ. Ló đầu ra. Tắc bùm. Thụt đầu vào. Chạy. Lăn. Tội nghiệp thân thể mày chưa, Thư. Gầy ốm thế kia. Cha mẹ nưng niu bồng ẵm nuôi con bây giờ ầm ầm, tạch đùng, bập bập bập, bò, hai cùi tay vấy máu, bò ngửa, bò sấp, bò hai chân, bò hai tay. Bụi gai vừa xê dịch. Tắc bùm. Đ.M, quân chó đẻ. Mày giết tao mày hả dạ lắm sao. Tao để dành viên đạn cuối cùng. Tự sát.”

(Trích Ra biển gọi thầm, tập truyện, tái bản 2003 tại Hoa Kỳ, trang 129)

© 2004 talawas