Trước 1975 (dưới bút hiệu Ngô Đình Khoa)

Lính thú
căn cứ Bleynhey mùa mưa nước nổi
sống ở bờ cao chung với kiến vàng
ngày nắng hạ cháy da làm lính mọi
đêm mưa cùng đào hố nước ở hang
nón sắt thay nồi thuốc bồi mồi lửa
cơm dọn ra nửa sống nửa khê vàng
miếng được miếng không nuốt ngày sống vội
như nữa đây chết vội đến phiên chăng ?
ăn nghỉ tiến quân chung giờ làm một
súng với ta thân thiết như tình
ngụm nước mát dành hành quân rất tuyệt
miếng giẻ khô phòng mưa súng rỉ han
người làm giặc từ bắc phương tràn tới
giáp trận súng tay cơm vắt muối vừng
miệng giải phóng lưỡi điêu ngoa trăm tội
tim óc người chất ngất những lòng căm.
đêm thức ho khan ta chờ người tới
(nghìn đứa như ta nghĩ cũng nực cười)
người với ta bỗng một còn một mất
súng đạn bày trò sống chết như chơi
ta bắt được người gọi tên vô sản
người bắt được ta gọi lính ngụy quyền
khi xưa sống tổ tiên chung một họ
máu chia ngành giờ hết anh em
ta vượt biên đến đây làm lính thú
máu đổi xương đổi đất từng miền
thèm ngủ thèm ăn chưa bằng được chết
mộ đã yên giờ cỏ đã xanh lên.
tặng anh em TĐ 1/46
Ba Thu
Trú quân ba thu non một tháng
ngày ăn mắm ngóe tối di quân
tóc râu thậm thượt theo mưa nắng
mặt nổi mụn nhang da cóc ngu đần
hành trang mặc theo bộ đồ độc nhất
cấp số đạn dư đùa để nuôi con
quần áo rách xé tay chân thêm cụt
tắm vận sà rông cho giống diễn tuồng
khi trận mạc tiến theo đoàn xe sắt
sắt chảy như bùn đâu tiếc thân
tối ngủ đứng ngồi trong lỗ huyệt
sớm sớm vươn vai mừng thấy ta còn
khi dưỡng quân khề khà dăm ly đế
ngất ngưởng say ta học nói tiếng Miên
quên chữ thánh hiền quên con quên vợ
ta như than lem luốc đủ trăm miền
ta như thế hỡi những chàng du kích
sợ gì ngươi ta e sợ chính mình
quân trú ba thu hơn một tháng
ghẻ cóc mụn nhang lạ nước thay da
tim với óc hỡi ơi còn chết được
ngày lui quân xin xác gửi quê nhà.
(trích từ Thơ Miền Nam trong Thời Chiến, Thư Ấn Quán sưu tầm và xuất bản 2008)
♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦♦
Sau 1975 ( Khoa Hữu)
Ký ức An Lộc
Về qua An Lộc một ngày
thấy ta còn dấu phỏng vài vết bom
nghe rừng thay áo đông phương
oán trên ngọn cỏ, oan dồn bóng cây
đồi nương xanh lại đất này
anh em cũng lạ tội đời cũng quên
quê nhà đâu, hỡi hồn thiêng
lịch sử đâu đã viết tên họ gì
chiến trường đâu máu phân ly
mộ bia đâu, đá khắc ghi hận thù
người đầu kẻ cuối hư vô
hồn chung ngọn gió biên khu thổi dồn.
Trở lại chiến trường Xuân Lộc
Về đây tìm lại ta ư
ngày thư ngải độc đêm như yểm bùa
tìm gì trong sỏi đá, thưa
tìm gì dưới gạch ngói xưa chôn vùi
rừng như vuốt mặt làm vui
núi như cúi xuống nửa đời vì ta
đất còn đỏ mãi can qua
trời còn băng những mảnh da đã vàng
gió gầm lên tiếng xé tan
mây lồng lên bóng dọc ngang một thời
nhớ ơi, vai súng hoa cài
nắng nung mắt lửa mưa mài biên cương.
Ngồi bệnh
Đêm ơi, thuộc một mảnh da
mềm chưa để đắp mặt ta tật nguyền
trang giấy lệch, hàng chữ nghiêng
câu thơ tàn phế bút nghiên thằng khờ
chết đi sống lại bao giờ
đời ta cỏ bụi lau mờ đã xanh.
Những dấu chân trên bãi biển
Bãi lầm sóng đánh ầm theo
mắt xa buồn đậu thuyền neo chưa về
đá chờ giải hạn cơn mê
trời thư đất yểm bốn bề gió tung
biển vô tâm đến lạnh lùng
khác thời vong bản vẫn chung da vàng
loạn đời ư, tận thế chăng
bước nghiêng biển lớn cát bằng hư vô.
Bức họa chân dung biển đông
Ta ngồi lên thét thinh không
chớp đen nỗi giận chập chùng biển cơn
gió đi những bước chân dồn
trầm luân lũ đá đứng còn trơ trơ
sóng hôn môi bãi điên rồ
nước ngâm xương trắng tình xưa dã tràng
ngàn năm đất ải bụi tang
hối thân đất lở kinh hoàng ngọn lau
mấy lòng bể mấy hồn dâu
còn đây mảnh áo mai sau mảnh trời.
Ta cùng biển lỡ
.tặng KHUẤT DUY TRÁC
Biển mù, sương động, thinh không
bao la một võng vô cùng một nôi
tạ ơn, ta thủa làm người
ti li cát mọn vỡ lời biển đau
gió cùng cao sóng cùng sâu
lao đao mấy độ bụi lau đã già
trời còn xa đất cũng xa
trăm năm biển lỡ một ta chưa về.
Sài gòn 1980 – 2000
(nguồn: Tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 45 tháng 1-2011)
|