Thư viện Cornell đã gởi đến tôi toàn bộ báo Văn Hóa Á Châu như yêu cầu.  Tôi muốn thực hiện một số chủ đề cho tạp chí Thư Quán Bản Thảo số 87 trong một dự án “dài hơi” nhằm giới thiệu các tạp chí văn học miền Nam.

TRong sinh hoạt về báo chí thuộc lảnh vực văn học nghệ thuật, bốn chữ Văn Hóa Á Châu ít được nhắc đến so với Văn, Sáng Tạo, Hiện Đại, Thế kỷ 20, Trình Bày, Vấn Đề, Khởi Hành..Nhưng đối với tôi, nó là tờ báo có tầm vóc nhất mà tôi đã đọc từ trước đến nay. Nó giúp người đọc mở mang kiến thức lẫn học hỏi qua những bài giá trị, không phải riêng vềViệt Nam mà cùng khắp Á Châu. Nó làm tôi ngạc nhiên vì thấy có Đinh Cường xuất hiện trên hai kỳ báo qua một bài tiểu luận về thơ Bích Khê lúc ông mới 21 tuổi. Nó cũng đăng  nhiều bài viết của  Nguyễn Nam Châu – một tác giả mà tôi ngưỡng mộ khi tôi là sinh viên Huế và ông là giáo sư đại học Huế. Nhưng ngưỡng mộ là ngưỡng mộ vì lúc ấy tôi là sinh viên khoa học. THời ấy  thấy ai có sách xuất bản thì kính phục lắm. Nhất là loại sách  đầy triết học khó hiểu, vượt qua tầm kiến thức của một cậu học sinh rồi sau này là sinh viên khoa học như tôi.
Sau này vì vào lính,  đi nhiều, lại xa SG nên không có dịp được dọc báo nhiều. Chỉ biết một Phạm Công Thiện với những cuốn sách mà đề tựa rất nổ như Hố thẳm của tư tưởng hay Mặt trời không bao giờ có thật… hay những tờ báo như Văn, Bách Khoa, Văn Học, Khởi Hành v..v.. không hề thấy một bài nào của Nguyễn Nam Châu…
Nhưng khi đọc bài của một số tác giả xuất hiện trên Văn Hóa Á Châu, tôi say mê khi đọc những bài của Nguyện Nam Châu. Thứ nhất là nội dung các bài này  liên quan đên văn học nghệ thuật. Thứ hai là  tác giả đã viết bằng một lối rất dễ hiểu ngay cả khi giời thiệu những vấn đề triết lý hay văn học nước ngoài…  Có một tác giả khác tôi thích là Hoài Kim Yến với một bài khá dài về hôn nhân qua các nền văn hóa đăng 7 kỳ báo. Tôi định bụng sẽ trích đăng  bài của hai tác giả này (Nguyễn Nam Châu và Hoài Kim Yến) khi giới thiệu tạp chí Văn Hòa Á Châu trên Thư Quán Bản Thảo số 87.

Nhưng nếu đăng thì phải tìm tiểu sử lý lịch của tác giả.
Trong cuốn sách bề thế”Tác giả Việt Nam” của Lê Bảo Hoàng  cói  vài giòng tiểu sử như sau:
Nguyễn Nam Châu:
Nhà biên khảo. Trước 1975 dạy học tại miền Nam Việt Nam.
Tác phẩm đã xuất bản:
Những Nhà Văn Hóa Mới (1958), Sứ Mệnh Văn Nghệ (1958)

Với một tác giả có hai tác phẩm giá trị , trong dó  “Những vấn đề văn hóa ”  đã “mở cửa chào đón Sagan vào VN“. (  theo Nguyễn văn Lục – 20 NĂM VĂN HỌC DỊCH THUẬT MIỀN NAM 1955-1975) hay được ghi lại qua một hồi ức của một người cựu học sinh Quốc Học thời ấy:

“…Chúng tôi còn tự học bằng cách đọc sách báo tiếng Việt .Trong bài của mình, Vĩnh Tân đã nhắc lại rất  đầy đủ những sách báo mà thế hệ học sinh Quốc Học chúng tôi thích thú tìm đọc trong những năm cuối thập niên năm mươi và vài  năm đầu thập niên 60. Trong đó, phải đặc biệt   nhắc đến  hai quyền sách Những Nhà Văn Hóa Mới và Sứ Mệnh Văn Nghệ của tác giả Nguyễn Nam Châu. Đó là hai quyển sách do Đại học Huế xuất bản trong hai  năm 1958-1959, giới thiệu tư tưởng của mười bốn tác giả phương Tây  như Koestler, Gheorghiu, Gabriel Marcel, Saint Exupery, Dostoievsky v.v… (trong Những nhà văn hóa mới), và mười bốn nhà văn hóa lớn từ trước Thiên Chúa Giáng sinh như Thích ca, Khổng Tử đến Marx, Kant, Malraux, Sartre , Camus vv… (trong Sứ mệnh Văn nghệ). Thông điệp mà tác giả này muốn nhắn gởi là : thế giới cần những người có đủ cả trí tuệ và tình thương. Đối với những học sinh  đang ở trên lằn ranh giữa trẻ con và người lớn của thế hệ chúng tôi  lúc ấy, đang thích thanh bình và mong đóng góp để xây dựng đất nước,  thông điệp này thực sự có tính thuyết phục, thông qua  cách viết  đơn giản và rất súc tích. Phải nói rằng thông điệp Tình thương đó đã ảnh hưởng  đến nhiều người trong thế hệ chúng tôi, khiến chúng tôi  biết thương người, thương đời hơn. (Cho đến bây giờ, anh em chúng tôi đều không biết gì vể tiểu sử của tác giả Nguyễn Nam Châu mà chúng tôi kính trọng  qua tác phẩm. Theo cách viết, tôi đoán tác giả là người Công giáo, và tên Nguyễn Nam Châu chỉ là bút hiệu).”
(Trần Anh Tuấn, Chân Dung Một Thế Hệ Quốc Học, nguồn: vanchuongviet.org)

Tác giả Trần Anh Tuấn đã thay tôi để nói lên điều này.

Thế rồi. máu thám báo chuyên săn tin khiến tôi mở một cuộc săn tìm.  Tôi vào các  thư viện “ảo”  như Cornell, thư viện thuộc  đại học khoa học xã hội nhân văn tp HCM, Hà Nội, Yales, Harvard, nhưng vô vọng. Một tác giả có hai cuốn sách về nhận định văn học rất bề thếxb năm 1958  như là sách gối đầu giường thời ấy, và với những bài tiểu luận nặng ký trên tạp chí Đại Học và Văn Hóa Á Châu nàyy lại chỉ có vài giòng  như thế sao ?. Đế nỗi sống chết không ai biết !!!

Trong cuộc săn tìm này, tôi mới biết  thêm là Nguyễn Nam Châu còn có một bút hiệu khác là Hoài Kim Yến, tác giả có bài đang 7 kỳ báo trên  tạp chí Văn Hóa Á Châu !

Cuối cùng, tôi cũng tìm ra.  Sau đây là tổng hợp nhưng tin tức do một tên – nguyên là trung đội trưởng thám kích, chuyên đi săn ma – đúc kết lại:

Tiểu sử Nguyễn Nam Châu

Tên thật: Nguyễn Văn Chiên 
Bút hiệu: Hoài Chiên (nhạc thánh ca) , Nguyễn Nam Châu, Hoài Kim Yến (văn – Việt Ngữ). Nguyen van Chiên (Văn – Pháp ngữ)
Sinh ngày: 20/03/1929.
Mất ngày 28/09/2005 tại Bruxelles (Bỉ)
Quê quán: Bình Lục, Hà Nam.
TiểuHọc:  Trường tiểu học Puginier, Hà Nội; Bậc trung học tại tiểu chủng viện Hoàng Nguyên (Hà Nội) và Lycée Albert Sarraut (Hà Nội).|
Năm 1959: Du học
Theo học tại các trường đại học Strasbourg, Sorbonne (Pháp) và Louvain (Bỉ).

Những Bằng cấp  đã đạt được:
Tiến sĩ Kinh Tế học tại Đại học Strasbourg năm 1963
Tiến sĩ Triết học tại Đại học Louvain năm 1969
Tiến sĩ Quốc gia Văn Chương và Nhân Văn học tại Đại học Sorbonne năm 1973
Chức vụ Giáo dục:
Giáo sư tại Đại học Bruxelles năm 1964 – 1967
Giáo sư tại Đại học Lovanium, Cộng Hòa Zaire Phi Châu năm 1967 – 1971
Giáo sư tại Đại học Zaire năm 1971 – 1976
Giáo sư tại Đại học Ouagadougou Haute – Volga năm 1976 – 1986

Sách xuất bản:

 

Sách bằng Pháp ngữ:
(bút hiệu Nguyen van Chiên)


Confucianisme et Evolution en Asie du sud-est (1964 Solvay)
Les problèmes actuels du Vietnam (1965 Solvay)
Famille et croyances religieuses au Vietnam (1963, Strasbourg)
La philosophie de la personne et de l’amour, Ed, Temps présent, 1969
Les politiques d’unité africaine, Presse Universitaire, Lille 1994
Le Sahara occidental, Club du Tiers Monde, 1986
Karl Marx, 2001

Sách Việt ngữ (với bút hiệu Nguyễn Nam Châu):
Những Nhà Văn Hóa mới (Sài gòn 1958)
Sứ mệnh Văn Nghệ (Sài gòn 1958)
Karl Marx, con đường huyễn hoặc (Orange Couty California 2003)

Về thánh nhạc, ông là một trong những thành viên sáng lập ban đầu của nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh. Ông sáng tác nhiều bài thánh ca như: Lòng Con Khát Khao, Con Tới Gần Bàn Thờ, Trong Bánh Rượu, Đây Bánh Thiên Thần, Con Thờ Lạy, Đền Tạ Thánh Thể, Xin Mẹ Phù Giúp, Kinh Cầu Mẹ Hằng Cứu Giúp, Ca Mừng Các Thánh, Con Ở Dưới Vực Sâu. Đặc biệt các bài: Lời Nguyện Truyền Giáo, Nguyện Yêu Chúa và các bài hợp soạn với Nguyễn Khắc Xuyên, như: Sống Gần Mẹ, Khi Con Về Trời, Một Ngày Hân Hoan.

Xin trích một doạn văn biên khảo của Nguyễn Nam Châu, để chứng tỏ tại sao văn của ông  tôi lại thích:

Lịch sử và ý nghĩa Thơ tự do 

MỘT TÂM TRẠNG CỦA THỜI ĐẠI 

NHƯ ta đã thấy qua dòng lịch sử, thơ tự do cũng như phong trào Hội họa mới, ban đầu chỉ là một cố gắng giải thoát tâm tư muốn đi tìm kiếm những thi tứ và hình ảnh mới lạ để thay thế vào những tứ thơ mực thước, khuôn khổ đã bắt đầu nghèo nàn. Các thi nhân cũng như người họa-sĩ muốn dùng trí tưởng tượng để đi đến những hình ảnh mới lạ. Trong hội họa, Gauguin diễn tả những khóm lá cây vàng nổi bật trên nền trời đỏ máu. Trong thi ca Rimbaud cũng tạo nên những đêm xanh lá cây » và « những điện dài dưới đáy hồ ». Dần dần, từ những hình ảnh với màu sắc lạ lùng nhưng còn có thể gần sự thực đôi chút, hay ít nhất còn có thể gần trí tưởng tượng của con người bình dân (những hình ảnh trong thế giới thần tiên), các thi nhân đã muốn có những hình ảnh tân kỳ hơn nữa: họ phải đi vào thể giới ảo giác như Rimbaud, hoặc thế giới bí hiểm như Mallarmé. Nhưng ở đây cũng chỉ là một sự phóng bạt của trí tưởng tượng, không có nguyên tắc nào làm căn bản cho các hình ảnh ảo giác kia, Phải đợi đến sáng kiến của các nhà hội họa, những con người sống trong thế gii màu sắc và hình ảnh, mới có được những nguyên tắc và lý thuyết khá hợp lý cho con đường văn nghệ mi.  Như chúng ta đã thấy trong hội họa, các nhà nghệ sĩ cho rằng không những ta có thể vẽ những hình ảnh có thứ tự và mầu sắc theo đúng sự vật trong thực tại mà còn có thể chỉ vẽ những nét chính, những hình ảnh thiết yếu của thực tại, như những nét phác trong bức tranh thủy mạc. Hơn nữa sự lựa chọn cho nét chính thế nào là tùy ý họa sĩ, miễn là khiến cho người thưởng thức có thể dùng trí tưởng tượng hoặc trí hiểu mà đi tới được hình ảnh nhà nghệ si muốn diễn tả ra là được. Sau nữa nghệ sĩ cũng có thể diễn tả những cảm giác và ý nghĩ của mình trong tùy khoảnh khắc nào đó. Vậy bình ảnh và màu sắc không lệ thuộc sự vật khách quan, nhưng lệ thuộc tâm trạng của tác giả : miễn làm sao truyền thông được trạng thái đặc biệt đó trong tâm hồn người thưởng thức. 
(VHAC số 18 tháng 8-1959)

(Văn Hóa Á Châu số 18 tháng 8 năm 1959, trang 35)