Tính phổ quát trong một bài thơ

Bài thơ Lưu biệt của Phạm Ngọc Lư được trích từ thi phẩm Đan Tâm  (1) có nội dung như sau:

Qua cầu một cỗ áo quan
Tiếng sênh dìu bước hai hàng âm công
Bước theo khăn chế áo sồng
Hắt hiu cờ rũ lạnh lùng vàng rơi
Chân cầu nước ngậm ngùi trôi
Tiếng kinh tiếp dẫn bồi hồi tràng giang
Đôi bờ lưu biệt linh quan
Nước soi bóng nến hai hàng lung linh
Người không về cõi u minh
Người về bản thổ nặng tình cố hương
Từ nay mây khói vô thường
Theo người nhập thể cội nguồn nghìn xưa

                                         (Nam Phước, tháng 6 – 1998)

 

 

 

 

 

 

 

Một câu hỏi là tại sao thi sĩ lại chọn giòng sông  làm bối cảnh cho đám tang thay vì chọn ngọn đồi, đồng cỏ, chân đèo hay con đường tỉnh lộ, hay ngoại ô thành phố như  trong bài thơ của Phổ Đức sau đây: 

vào khuya phố ngủ đèn mờ
đường heo hút gió dưới bờ cây đêm
xe đi khấp khểnh gập ghềnh
thây nằm trơ lạnh ngả nghiêng gục đầu
mặt mày nhầy nhụa mắt sâu
tay xuôi má hõm máu sầu tràn môi
về đâu khi héo cuộc đời ?
chiếc thân mệnh bạc quê người dở dang
xác vùi đâu giữa đêm tàn?
xe qua cầu nhỏ tiếng than lạc loài
công danh sự nghiệp mấy ai?
thấy gì hơn mảnh hình hài quắp co!
rũ đời trong chiếc xe bò
hỏi ai tránh được bước đò thời gian
ngoại ô sương lạnh buông màn
không gian truy niệm mây đan mưa nhòa
đường vào nghĩa địa mờ xa
xe lăn tiếng mỏi nghe mà buồn tênh!

 (Phổ Đức – Xe bò đưa xác)

 hay ở một xóm ăn chơi giang hồ trong một bài thơ của Văn Cao:

Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác
Ði vào ngõ khói Công Yên
Thấy bâng khuâng lối cỏ u huyền
Hương nha phiến chập chờn mộng ảo
Bánh nghiến nhựa đang kêu xào xạo
Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe
Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề
Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực
Mưa, mưa hằng thao thức
Trong phố lội đìu hiu
Mưa, mưa tràn trên vực
Trong tối gục tiêu điều
Mang linh hồn cô liêu
Tiếng xe càng ám ảnh
Tiếng xe dần xa lánh
Khi gà đầu ô kêu.

(Văn Cao – Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc)

Ở Phổ Đức nhà thơ chọn bối cảnh là một ngoại ô trong đêm về sáng. Ở Văn Cao, là Phường Dạ Lạc. Còn ở Phạm Ngọc Lư là giòng sông. Mỗi tác giả có mỗi lối chọn lựa để mà sơn phết vào thơ mình.
.
Theo tôi, chỉ có giòng sông mới thật sự trọn vẹn.. Chỉ có giòng sông mới có đôi bờ sinh và tử…  Bao nhiêu áng thơ văn, có áng thơ văn nào lấy ngoại ô hay một xóm ăn chơi để nói về ý nghĩa của cái bến cuối cùng của một đời người trên quả đất? Chỉ có giòng sông. Hàng triệu năm trôi qua, giòng sông vẫn vậy, con đò nhân sinh vẫn tiếp tục đón người về bên kia cõi khác… Vẫn là cuối cùng là hai chữ “không” và “về”. Vẫn là “lưu” và “biệt”.

Chân cầu nước ngậm ngùi trôi
Tiếng kinh tiếp dẫn bồi hồi tràng giang
Đôi bờ lưu biệt linh quan
Nước soi bóng nến hai hàng lung linh
Người không về cõi u minh
Người về bản thổ nặng tình cố hương…

Đó là lý do tại sao tác phẩm Câu chuyện một dòng sông  của H. Hesse do Phùng Khánh & Phùng Thăng dịch lại dược đón nhận.
Có phải vậy không ?

(1) Đan Tâm, thơ Phạm Ngọc Lư, Thư Ấn Quán tái bản tại Hoa Kỳ

Ghi vội (7): Dự án

Tôi có thói quen thức dậy vào khoảng 2 giờ sáng.  Đầu tiên là thử cặp giò của mình. Thấy không sao, từ gout đến khớp, lòng chợt dấy lên một niềm cảm tạ. Và để đổi lại là ngồi lại trước màn ảnh computer.
Để tiếp tục cho một dự án về văn chương.
Dự án văn chương ? Sao lại là dự án ?
Continue reading Ghi vội (7): Dự án

Bánh lăn đầu năm: giai phẩm “Huế trong trí nhớ” (tạp chí Văn Học năm 1970)

Ngày đầu năm thời tiết bỗng trở nên ấm áp lạ thường. Sự thay đổi quá chùng đột ngột. Hôm qua 30 đô F, thì hôm nay, nhiệt độ bỗng tăng vọt lên  cao điểm là 60 độ. Trời rất trong, dù không thấy những cành mai hay chùm bông cúc dại như ở quê nhà vào mùa Tết… Rừng vẫn còn trơ trụi. Nhưng mà lòng bỗng dưng nẩy nở một niềm vui rất đổi kỳ diệu. Hoan lạc này đến từ đất trời. Và cũng đến từ truyền thống. Cái chữ Tết như một âm thanh tiền kiếp đồng vọng về. Nó không hề có ở đây, chẳng một ai biết hôm nay là ngày Tết của Việt Nam tôi, vậy mà tôi cứ nhủ lòng: Hôm nay ngày đầu năm, hôm nay đất trời vô lượng, hôm nay có người thêm một tuổi…

Continue reading Bánh lăn đầu năm: giai phẩm “Huế trong trí nhớ” (tạp chí Văn Học năm 1970)

Mưu sinh thoát hiểm: Trần tình về việc thực hiện Flipbook Sáng Tạo, Vần Đề….

Khoảng 11 giờ tối, chuông điện thoại reng. Con tôi ở đầu giây xa, cho biết là y tá trực ở Viện Dưỡng Lão gọi cho biết là mẹ  sắp được mang đến bệnh viện. Tôi lo lắm, vội lái xe đến Viện dưỡng lão.

Sau mười phút lái xe, tôi đến Viện, nhưng nhân viên trực không cho vào vì sau 8 giờ tối, không cho phép người ngoài vào thăm.
Thì lúc ấy hai người đẩy băng ca ra cửa. Tuyết vẫn tiếp tục rơi. Người ta không mang áo ấm cho Y, chỉ phủ đắp cái mền dạ. Tuyết dính lấm tấm trên mền, ngay cả trên tóc Y. Sau đó, xe rồ máy, lao vào màn đêm. Tôi lên xe đuổi theo cứu thương.
Ngày chủ nhật đã vắng, mà gần nửa đêm thì như một thị trấn chết. Rất it xe. Tôi bám sát xe cứu thương. Lòng lo lắng lắm.

Tôi trở lại nhà. Trong bóng  tối, tôi ngồi thật yên lặng,

Tôi phải làm gì trong cái hiu quanh ghê gớm này.

Tôi đã bám đuổi theo xe cũng vì tinh yêu thương. Nhưng tôi đã bất lực khi giao phó đời Y. cho bệnh viện. Giờ đây hai vợ chồng hai nơi, một người trong phòng cấp cứu, và một kẻ thì ở trong căn nhà hiu quạnh, bạn bè là những hồn ma…

Không đâu. Tôi phải chiến đấu. Tôi phải mở ra mặt trận  để tự tìm cách  mưu sinh thoát hiểm.

Cái mặt trận này là làm sao  tìm cho được những di sản văn chương miền Nam. Tôi phải phủi bụi, tẩy những chỗ lấm lem, biến những con chữ từ lâu năm trong bóng tối để đưa ra ánh sáng.

Mà muốn có ánh sáng đâu phải dễ dàng. Phải học hỏi, phải tìm tòi. Flipbook là một chữ rất xa lạ đối với tôi, nay đã trở thành thân thiết. Phải cám ơn Irfanview, một software miễn phí. NHờ nó tôi mới làm nhanh, chỉ một cái click là hàng trăm file so le, không cân xứng, trờ thành đồng nhất. Không tin, bạn cứ mở bất cứ một flipbook nào trên Blog này, các trang đều bằng nhau, cùng đồng cở, không so le… Không ai dạy tôi điều này hết. Tôi phải tự tìm tòi và áp dụng.

Chỉ có công việc mới giúp tôi “mưu sinh thoát hiểm” như thời xưa, tôi từng trải qua khi cùng nhóm đột nhập mật khu hay bị lạc lõng trong rừng già. Thám kích mà. Đít con kiến vàng nút vào rất ngọt. Những giọt sương đọng trên poncho cả đêm cũng trở thành những linh thủy thần diệu. Lá giang, lá cải trời cũng đủ làm một bửa ăn ngon… Ôi. con sóc màu đỏ của Trường Sơn tôi tình phải làm nạn nhân của lũ người đói khát. Con chim quốc màu trắng bị mắc cả cái lưỡi câu trong họng, khi ta cố banh miệng nó ra, nghe tiếng kêu của nó mất còn “quốc” “quốc”… khiến tim ta muốn rụng, nước mắt ta muốn chảy…

Nhưng bây giờ, chính lúc này ta cần mưu sinh thoát hiểm hơn bao giờ. Ta cần nếu không ta gục, ta quị, ta lết, và sẽ chẳng bao giờ có toàn bộ Sáng Tạo, Vần Đề, nay mai là Tình Thương, Ý Thức…. để mang chúng ra ánh sáng…

Cái ánh sáng ấy cùng với ánh sáng tỏa ra từ đôi mắt Y. khi năm trên giường bệnh. Y. đã thoát hiểm. Nó là một thứ ánh sáng diệu kỳ để hai ngón tay gõ của tôi:

Tôi là  con chim gõ mõ già nua
Và ngón tay ngày xưa tôi dùng để bóp  lãy cò
Nay  làm phép để  biến thành những bit 1 và 0 yêu dấu
Gõ, tôi dang gõ trên keyboard hay vào tim mình rướm máu
Để những  linh hồn chữ chết được hồi sinh

Mừng quá đi thôi, con chữ đã lung linh
Và hai ngón gõ của tôi chừng như mầu nhiệm