Xin tha (tản mạn)

 1.

Một số nhà nhận định cho rằng Bich Khê bị ảnh hưởng  nặng của Beaudelaire.
Tôi rất dốt ngoại ngữ nên chẳng biết  cái bóng của Beaudelaire là lớn như thế nào mà sao mấy vị phê bình văn học cứ  một là Beaudelaire hai là  J P. Sartre….

Nghĩ mả tội cho nhà thơ Bích Khê. Hết bị chê là bắt chước  Xuân Diệu vì làm thơ toàn vần bằng, rồi khi  cố thoát khỏi  cái bóng  của Tàu thì bị đè thêm cái bóng Tây .

Tôi có  bằng chứng. Continue reading “Xin tha (tản mạn)”

Trăng (tản mạn)

1.

Những ngày   hẩm hiu và cô độc, tôi chỉ còn có những   pháo đài để che chở. Đó là những máy in Laserjet 8000, Oki, máy scan, 3 máy computers trên nhà, 3 computer dưới hầm được  nối nhau bằng một workgroup, dươi tên YEN. Đó là mái nhà thứ hai tôi nương tựa, trong khi mái nhà chính của tôi thì mênh mông đầy những di vật, của người thân, dù người ấy vẫn còn sống. Sống mà thật sự như đã chết.

Nhờ mái nhà thứ hai, nhờ những pháo đài, nên tôi có thể làm thêm một số báo nữa. Đó là Thư Quán Bản Thảo số 86, chủ đề  “Trần Phong Giao và những người viết trẻ”. Báo dày trên 300 trang. Và đã đước gởi đi khắp nơi.
Tin vui là bà xã đã  chịu ăn trở lại.  Tuần trước, Y. sụt cân đến mức quan ngại. Không ăn, không uống. Cứ ngậm miệng. Và mỗi lần cái muỗng mới bắt đầu đút vào hai bờ môi, là Y. như chực ói ra. Có khi ói nhiều, có khi ít.  Y tá  gọi bác sĩ. Bác sĩ đến và cho rọi X Ray khắp thân thể. Nhưng vẫn tìm không ra.

Tôi  biết không  phải vì  bao tử, ruột, hay gìgì đó thuộc thể chất, mà vì ảnh hưởng của thần kinh. Khi thần kinh bị suy thoái, xuống mức hổn loạn,  cứ nghĩ thịt  là từ những lò sát sanh mà sợ, cá thì từ những hồ phẩn dơ bẩn mà ghê , thì có thuyết phục cách mấy , cũng phải đầu hàng. Chỉ còn cách là đục lỗ thông ống vào bao tử…

Nhưng tôi nói với con  tôi không muốn vậy. Tôi sẽ cứu. Tôi sẽ cứu. Tôi sẽ  mang tất cả tình yêu của tôi, tình người trong trai tim tôi để cứu. Tôi đã làm những việc mà không ai có thể ngờ. Là lbơm thuốc nước vào hâu môn người bệnh, vì cả tuần Y. không đi cầu.. khi thấy cái bụng của Y. càng lúc càng lớn vì cứ nằm hoài,  thhức ăn không tiêu hóa và  dồn cục…
Tôi cũng thay những bát, dĩa, tô bằng mủ nhựa  bằng thủy tinh. Món ăn nào tôi cũng để vài cọng ngò, hành xanh tô điểm. Tôi nghiên cứu cách làm xúp bằng lòng trắng trứng gà, từ tiệm buffet Tàu, thay vì loảng, tôi cho nhiều “mix vegetable”, thịt cua và tôm đông lạnh, lại thêm tofu, cùng trứng chim cút…. Cứ tưởng tượng một bát thủy tinh hình chủ nhật, kính dày trong suốt, và thức ăn  gồm những lát tàu hủ, trứng cút, tôm, thêm bột năng làm nước trở nên sền sệt, lại thêm những cọng ngò xanh  xanh… Tôi thấy mắt người bệnh sáng lên… Tôi biết mình đã thành công…

Tôi nói với y tá là tôi sẽ mở một nhà hàng dành riêng cho những khách chỉ  ngồi wheelchair… It ra họ cũng  phục tôi..  Ít ra họ cũng nhìn nhận là chỉ có một lão già độc nhất  mới có thể cứu được vợ lão ta, khi họ bất lực…
Con tôi là bác sĩ, kinh nghiệm cả mười mấy năm cũng nói lên điều ấy,,,

Tôi  đã thành công trong việc mang Y. trở lại bình thường, ít ra trong lúc này. So far so good. Que sera sera. Tôi vẫn hay hát  hai câu  bài ca xưa này khi bà Receptionist hỏi han tôi mỗi lần tôi ra về.

 

2.

Mấy hôm nay tôi miệt mài theo dấu Bích Khê, và post liên tiếp.  Phần thì yêu thơ ông, phần thì nhận ra một sự thiếu sót rất lớn  khi thiên hạ phê bình nhận định về thơ Bích Khê.  Cứ mang nào là tượng trung, siêu thực, ánh sáng, dâm, thần linh ra mà khai thác, diễn dịch nhờ những ông tây bà đầm  bằng những từ rất nổ., rất kêu… Vấn đề là người đọc có hiểu thế nào là siêu thực, tượng trung, hay Beaudelaire là ai hay không. Hay  ông Bích Khê có viết di chúc là ta làm theo lối này hay lối nọ  hay không ?.
Tại sao không  đặt câu hởi  lý do gì mà BK lại mang hai chữ Mộng Cầm, Ngọc Kiều, Ngọc Sương, Châu vào thơ ông  ? Tại sao ông lại chọn Tỳ Bà thay vì Nhị Hồ như Xuân Diệu đã chọn ? Tại sao trước 1937, ông làm toàn là thơ đường cổ vẽ lòng yêu nước, thì sau 1937 thơ ông thay đổi 180 độ ?
Người ta bơm chàng lên tận mây xanh, mà  chắc gì mấy xanh hay mây xám !!!

Như Thế Lữ mang bài Hoàng Hoa ra mà  chê thậm tệ bảo Bích Khê bắt chước hai câu thơ âm bằng  trong bài Nhị Hồ của Xuân Diệu.
làm như XD mới độc quyền làm thơ vần bằng. Hễ ai làm thơ vần bằng là bắt chước XD !

(đọc bài chê thơ BK của Lê Ta (tức Thế lữ)

Cũng như ai mà làm thơ tượng trưng là bị ảnh hưởng bởi Beaudelaire !
Thêm vào đó là bệnh không chịu tìm tòi đến nơi đến chốn. Trong cuốn Tiểu thuyết thứ năm do Anh Chi  sưu tập và biên soạn có ghi 5 bài thơ mới  đều lấy bút hiệu là Lê Mộng Thu hay Mộng Thu, thế mà quí vị blog cú rập khuôn bút hiệu Lê Mộng Thu chỉ dành cho thơ đường luật !
Chỉ có một người là Lại Nguyên Ân mới chịu khó tim tòi. Nhưng vấn đề khó khăn là thiếu tài liệu…như ông đã từng than trong một số bài viết…

Càng sa vào  cuộc, tôi càng say mê  như như một nhà thám tử điều tra một “case” hào hứng.
Và tôi đã tìm thêm một số bài viết, gồm hai bài văn, và 6 bài thơ chưa hề phổ biến.
Nhờ ở cornell chăng ?
Không.
Nhờ ở VNI, VPS, VIQR, U Hoai, Unicode, “Bích Khê”, “Bích-Khê”,  “B. Khê”, “Thu xà”, “Lê Tràng Kiều”, “Lê Ta”, Google book v… Nhờ ở  cái Permanent Link với mấy con số sau chót để xác định  thời gian mà  bài viết xuất hiện trên NET

Phải chi Y. không bị bệnh nan y, thì chắc chắc tôi lái xe đi Cornell mới có thể thỏa mãn nỗi háo hức này.  Và biết đâu, tôi có thể tìm ra  một vài bài thơ mới tuyệt vời khác  bị bỏ quên…
Thôi đành chịu vậy.

3.

Trong khi đọc Bích Khê, tôi rất thích những bài ông mang trăng vào thơ như bài Tỳ Bà chẳng hạn. Xuân Diệu cũng có bài Nguyệt Hồ. Và Hàn Mặc Tử thì trăng thật sự lai láng hầu như ở  hầu hết các bài thơ của ông.

Trăng là của chung.  Từ ông vua đến người bần dân. Từ  nhà thơ lớn đến nhà thơ nhỏ.
Và vì là của chung, nên nhà thơ nhỏ THT này cũng có một số bài thơ về trăng, post ra đây để chia sẻ :

Trước hết là  một đoạn thơ tình, trăng SG:

Gặp em trong chuyến xe về muộn
Trăng đã lên trên khu Hàng Xanh
Đường qua Gia Định chia trăm ngả
Có ngả nào em hiểu tình anh ?

 

Rồi đến trăng trên đồi Bánh Ít, hâu cứ của đại đội 405 thám kích, trăng chảy vào bát rượu:

Nửa đêm, như thể ngày xưa ấy
Mấy thằng trải chiếu dưới đêm trăng
Trăng sáng phơi trên hàng kẽm lạnh
Rồi chảy vào bát rượu bâng khuâng

Trăng đến với tôi khi người khác ngủ. Trăng soi dẫn đường tôi đi. Trăng làm cánh đồng đã vàng nay dát cả một lớp nhũ kim vàng trác tuyệt. Ôi con đường trăng như chảy mãi trong tâm trí mình:

Tháng giêng qua làng em
Dừng quân bên hiên nhà nhỏ
Trăng lung linh trên tàn vú sữa
Xôn xao gió gọi thì thầm
Em nhìn lên bầu trời vô tận mênh mông
Tôi kể em nghe về chùm Hạc Trắng
Tháng giêng bầu trời đầy sao lấp lánh
Con hạc bay về thăm lại quê hương
Em thấy gì không, đuôi nó dị thường
Vì sao sáng giữa hằng hà tinh tú
Vì sao sáng đang cùng nhau nhảy múa
Như cả bầu trời mở hội hoa đăng
Em nhìn lên, đôi mắt long lanh
Tôi bắt gặp thêm hai vì sao yêu dấu
Em mười lăm, hết giêng mười sáu
Tôi hứa trăng tròn trở lại thăm em +

 

hay một đêm trăng vượt sông :

 

…Giòng sông phân tranh hai vùng thù nghịch
Đêm xuống đồi gặp con nước nổi
Súng đưa khỏi đầu
Từng con một vượt sông …

Rồi trước khi trèo ngọn Kỳ Sơn
Anh lạc trên cánh đồng trăng mênh mông
không biết nơi nào là cõi dữ
Trên đôi vai anh nặng nề lịch sử
May mà còn em
vầng trăng mười sáu
anh giữ
ở đáy ba lô…

 

Vậy mà tôi lại đành đoạn bỏ cái ba lô đựng  trăng mà đi. Đêm ấy trăng không lớn lắm, nhưng  vừa đủ sáng để soi chỗ sông giao tiếp với biển. Hai bên là hàng dừa nước. Thuyền không dám chạy bằng máy tàu mà là chống, chèo vì tại  đây có một đồn công an. Tôi đã dùng can nước để múc một can dự trử. Tôi thấy tôi múc cả trăng. Xin đừng nghiêm khác biện giải comment còm. Hãy cho thơ mọc. Hãy cho thơ hiển linh. Hãy cho thơ ca ngợi màu trăng vì đời thì quá ảm  đạm.

Khi ra đầu  vàm  trăng mới mọc
Khi ra cửa biển trăng theo sau
Múc vội can nước trăng theo vào
Uống vội hớp nước nghe mằn mặn
Không biết  vì nước hay vì trăng ?

Ở cửa biển vị nước có vị mằn mặn là dĩ nhiên. Nhưng mà tại sao vị như là vị mặn của nước mắt. Hay là trăng khóc ?.  Vì sắp mất đi một đứa con của quê hương !

Trăng là của chung. Nhưng đối với người thi sĩ, trăng không còn là của chung nữa mà là của riêng.Xin hãy cho tôi giữ làm của riêng:

Đêm vườn sau, còn tôi với trăng
Trăng vì lạnh, nên mờ không đủ sáng
Tôi cũng lạnh, nhưng lòng tôi rất ấm
Lâu lắm rồi, tôi không có bạn, trăng ơi

Đêm vườn sau, con dế gáy mỏi mê
Tiếng rụng nhẹ, một lá khô từ giã
Tôi đứng yên, và ngẩn ngơ, nín thở
Nghe vô cùng, gần gũi của vô biên

Và hình như tinh huyết của càn khôn
Đã lai láng cả một vườn không ngủ
Dịu dàng nhé, âm dương đang kết tụ
Và muôn loài đang âu yếm, sinh sôi…

Đêm vườn sau, còn tôi, với trăng
Trăng đang thức, lõa lồ không manh vải
Trên tàn lá sồi, trăng lai láng chảy
Trên người tôi, cũng vậy, chảy giòng trăng…

Hành trình của Bích Khê (4): mốc khởi đầu của một nhà thơ lớn

Bích Khê là  một thi tài. Ngay vào năm 14, 15 tuổi đã rành thơ đường luật. Năm 16 tuổi, khi còn là học sinh đã có thơ đăng trên báo Phụ nữ Tân Văn:

(NGUỒN: Phự nữ Tân văn  số 162 ngày 4-8-1932.)

Thi tài ấy được biểu lộ qua những bài thơ  phần lớn mang tính chất thời thế, nói lên  tấm lòng yêu nước của tác giả. Ví dụ  bài thơ Dạ Hoài được sáng tác vào năm 17 tuổi:

(Dạ Hoài, nguồn báo Sai gon số 182,  ngày 10-12-1933)

Hay qua những bài thơ Đường luật mà niêm luật rất nghiêm chỉnh chan chứa lòng yêu nước vô bờ .  Đơn cử một bài:

 

(nguồn: báo Sài Gòn số 182  ngày 10-12-1933)

Nhưng  thì tài không  có thể giúp để người thơ trở thành nhà thơ lớn.. Có biết  bao  người có tài làm thơ nhưng mấy ai được nổi tiếng,  được nhiều người nhắc nhở. Thi tài cỡ Bích Khê mấy ai có được, nhưng nếu Bích Khê chỉ quanh quẩn với những vần thơ  khích động lòng yêu nước hay  những, bài  thơ đường  luật  dù  xuất sắc  cách mấy  nhưng  bây giờ – thời đại digital- củng ít ai nhắc hay ngưỡng  mộ như họ đã  dành cho Tinh Huyết.

Vậy thì  lý do gì để giúp Bích Khê trở  thành một nhà thơ lớn ?

Đó là  nhờ vào  cơn bệnh phổi được phát hiện vào năm 1937.

Bởi vì nếu  mà Bích Khê không bị  bệnh phổi thì chắc gì  Bích Khê có được một Tinh Huyết, mà ngược lại, có thể ông trở thành một nhà cách mạng không chừng. Những bài thơ cũ của ông đã  lộ rõ ràng tấm lòng thiết tha với đất nước, dân tộc, chống áp bức, chuộng lẽ phải. ngay từ lúc còn  là học sinh hay sự  đau buồn khôn xiết sau khi nghe Tạ Thu Thâu  bị giết khiến ông phải bật khóc nức nở như qua lời kể của  người chị  ruột.

Nhà thơ Ngọc Sương kể lại về sự chuyển đổi  kỳ diệu về quan niệm cái đẹp  của người em bà  như   sau:

... Một năm sau bệnh lành, chàng về Thu Xà với mẹ thêm một lần, rồi lại đòi lên núi ở. Cái đời của thi nhân cũng như cái đời của trẻ thơ: muốn phải được, muốn là được. Me và chị phải làm cho Bích Khê một cái chòi trên núi Thiên An, và gửi đến ở với chàng một “chú tiểu” để phục vụ con người ngày càng càng khó tính như một cậu con cưng con nhà trưởng giả. Lúc này Bích Khê vui lắm; chàng nói với người bạn đến thăm: “Thật là tuyệt diệu!” rồi chàng tả cái thoải mái của tâm hồn chàng bằng cách chuyển tâm tư qua thiên nhiên cỏ cây hoa lá: chàng giải thích thế nào là cái đẹp cho chị nghe… Chàng hăng say đưa cả cánh tay ra vẽ một vòng bao trùm cả những thắng cảnh đương bày ra trước mắt chúng tôi, đã từng làm tâm hồn thi nhân rung cảm. Mà phong cảnh đẹp thật! Duới chân chúng tôi, từ chỗ “Long Đầu hí thủy”, giải sông rà bọc lấy chân hòn Thiên An khăng khít như tình non nước ấp ủ lấy nhau, tức là thắng cảnh “Thien Ấn niêm hà”. Và xa xa ở phía bên kia hiện ra thắng cảnh “Bút lĩnh phê vân”. Bích Khê chỉ vào núi Bút và nói đùa: Đó là ngọn bút của em đó. Rồi chàng lại bảo chị: Nơi đây là nơi cực lạc của em rồi. Em say mê với cảnh thiên nhiên và nguyện sống ở đây mãi mãi để tận hưởng… Nhưng một thời gian rồi Bích Khê cũng chán cảnh núi, lại ước mong được sống giữa cảnh trời nước bao la. Thế là một lần nữa, mẹ và chị Bích Khê phải chiều chàng, cho di chuyển tất cả vật dụng và cái chòi con về dựng ngay tại ven biển. Chốn cực lạc thứ hai này hiện ra, bao nhiêu vần thơ khác của thi sĩ lại tuôn ra..
(Ngọc Sương – người em : Bích Khê , tạp chí Văn số 64,
nguồn: https://tranhoaithu42.com/van-so-64-nha-tho-bich-khe/)

Như vậy, qua lời kể của người chị, nhờ vào những tháng ngày tịnh dưỡng ở núi Thiên Ấn, quan niệm về thi ca của Bích  Khê thay  đổi hoàn toàn:

chàng tả cái thoải mái của tâm hồn chàng bằng cách chuyển tâm tư qua thiên nhiên cỏ cây hoa lá: chàng giải thích thế nào là cái đẹp cho chị nghe…

Sống là một  chất xúc tác để làm thăng hoa thơ Bích Khê.   Sống gần gủi với thiên nhiên đã giúp ông có những bài thơ  như Hoàng Hoa. Sống trong cô đơn tột độ, để  thần trí của ông chạm đến những lời nhạc Tỳ Bà. Sống trong đau khổ, để ông có những bài thơ mang tên  hai người nữ là  Châu  và Ngọc Kiều…
Cho dù ông có thi tài biết chọn màu sắc, hội họa, hay ánh sáng cho thơ mình đi nữa , nhưng nếu không có năm 1937 thì  có lẽ chúng  chỉ được tô trên những lá cờ hơn là  cái đẹp của thi ca.

Có phải vậy không ?

 

Vừa đánh giặc vừa viết văn : sướng thật !

 

Lính có nhiều loại lính : Lính kiểng. Lính ma. Lính văn phòng. Lính đánh giặc. Tôi thuộc loại cuối cùng. Ngày ấy,  mỗi lần về phố, tìm một quán cà phê duổi chân, mù rừng chụp trán, bên lưng quần lận cây súng lục, và khói thuốc vây bủa mấy tiếng đồng hồ. Mặc khách vào khách ra. Mặc nét lo âu của cô chủ quán. Mặc thiên hạ nhìn mình như một tên điên khùng. Cứ viết. Viết say mê. Viết như chưa bao giờ được viết. Rồi trao lại cho người quen, nhờ gởi về Saigon, cho Văn, Bách Khoa, Khởi Hành…

Continue reading “Vừa đánh giặc vừa viết văn : sướng thật !”

Khoe chút chơi !

(Vui thôi mà.  Vui để quên, để khỏi buồn mà chết sớm !)

Vài tháng trước, khi bắt đầu học hỏi cách làm flipbook, tôi đã  thực hiện tạp chí Nghiên Cứu Văn Học của Linh mục Thanh Lảng. Software dùng  là Issuu, miễn phí. Dĩ nhiên là mình phải để họ quảng cáo.
Hôm nay muốn  đưa vào blog  cá nhân tạp chí này. Khi mở  flippbook sách ra xem lại thì giật mình: Trang lẽ trang chẳn xếp lộn xộn. Mấy tháng trời, chắc cũng có người xem, nhưng chẳng ai báo động dùm, nghĩ cũng tủi.
Đó cũng là một lỗi của tôi. Bời vì tôi không test lại. Trong khi tôi   biết lảnh vực test là một lảnh vực rất cần thiết, Nó còn nặng hơn và quan trọng hơn lảnh vực “programming” hay “development”. Bởi nó  giúp sự tin cậy của khách hàng với sản phẩm của công ty.

May mắn cái flipbook này là flipbook chùa, không ai trách. Nhưng tôi trách tôi.
Trách thì phải sữa.
Mà sữa cả 150 trang xếp lộn tùm lum thì làm sao mà can đảm sửa. Phải  hoán đổi vị trí đến 75 lẩn hay có thể hơn thế nữa.

Bạn thử mở cuốn báo này  để thấy rõ hơn về sự mất thứ tự của mỗi trang

Đọc NCVH số 1 xếp lộn trang

Nhưng  tôi có cách riêng. Chỉ cần 5 phút là xong ngay

  1. Thứ nhất là in với dạng acrobat pdf, nhưng chỉ in trang lẽ (odd) sau đó lưu dưới tên  : NCVH-odd  ( việc in này chỉ cần 1-2 phút)
    Click vào  link để thấy toàn trang lẽ:

NCVH-odd

2.  tương tự in trang chẳn (even file):

NCVH-even

3.  Hơp kết  hai file  lại (Merge odd and even files). Nhu liệu dùng là  A-PDF-merger miện phí. Chọn  option:  Mix Alternate  pages để merge. ( cần khoảng 2-3 phút)
Dưới  đây là cái file tốt  ta cần để dùng cho flipbook.

Bạn click thử xem !

NCVH so 1 OK

4.  Test Flipbook (corrected)

NCVH số 1 (Good)

Bạn thấy không. Chỉ cần khoảng 5-7 phút là xong ngay. Nếu sửa theo cách thường từng trang  một thì phải mấy tiếng đồng hồ !

 

Mưu sinh thoát hiểm

Hôm qua   cậu con bác sĩ từ tiểu bang cạnh về thăm mẹ. Nó  đã thay mặt tôi trổ tài. Không phải là khả năng thầy thuốc, nhưng là khả năng khuyến dụ mẹ để hả miệng, để chịu ăn… Nhưng nó cũng chịu thua. Dù món ăn, mua từ một nhà hàng buffet…những thức ăn mà mẹ nó từng thích …

Y. đã bị hỗn loạn thần kinh.  Y. bảo với con là mẹ sắp làm đám cưới. Con hỏi:  Mẹ  cưới ai ?  – Ông Tỉnh trưởng. Ông thấy mẹ viết chữ đẹp.  –  Còn ba thì sao.?  – Ba con là  chồng thứ hai.
Tôi la: Vậy thì từ nay, ông tỉnh trưởng thay tôi đên chăm sóc bà. Tôi khỏe. Tôi sẽ đi tìm vợ khác. Chịu không ? – Không chịu. – Tạo sao lại không chịu ? Con tôi hỏi. – Vì ông tỉnh trưởng không biết làm như ba.

Buồn thì buồn thật. Nhưng tiếng cười vẫn rộn ràng. Y. nằm  trên giường., đòi con cho mẹ mượn 100 đô để mẹ cho người giúp mẹ thay quần thay áo… Gương mặt  Y. tỏa lên một nỗi thánh thiện lạ lùng.  Thì xem  Y. là một người mất trí đi. Điên đi. Nhưng Y. đâu có khổ. Đâu có biết mình điên, mình khổ. Chỉ có cha con tôi… Nó là bác sĩ. Nó hiểu về bệnh trạng của mẹ,  Tuổi già mà. Ai bảo  đảm một ngày nào đó, trí óc vẫn còn minh mẩn  ? Ai dám vỗ ngực, tự hào là minh sẽ mạnh khỏe suốt đời. ?
Tôi biết là từ đây, tôi sẽ mang thêm những nỗi buồn to lớn khủng khiếp. Đồ ăn tôi mang đến, tôi lại mang về.  Những trận bão bất thường nổi lên khiến tôi phải tối tăm mặt mày. May mà nhờ nghệ thuật. May mà nhờ Út Trà Ôn với Tình anh bán chiếu, Gánh nước đêm trăng, ông lái đò, hay Hữu Phước, Minh Cảnh, Lệ Thủy, hay hai sắc hoa tigôn, hay những clip về thôn Nữ Hậu giang… Chúng đã làm ngươi bệnh lịm dần, vào một ciơn đồng thiếp, rồi từ từ nhắm mắt…

Như vậy, tôi phải làm gì. Bỏ cuộc ư. Không, tôi không thể.  Đây là một trận đánh cuối cùng mà một tên nguyên là cựu trung đội trưởng thám kích  thuộc đại đội 405 sư đoàn 22 BB  tham dự, , vừa chỉ huy, vừa làm khinh binh,  đơn độc.
Mục đích không phải  là thám thính hay  đột kích mật khu, mà là mưu sinh thoát hiểm.

Mưu sinh thoát hiểm bằng cách gì?
Lúc ở trong rừng,  đêm hứng sương  làm nước uống, chụp những con kiến càng  ngắt đít mà hút, nhai những lá rừng để cầm cơn khát,   ăn toàn cây cỏ, có khi nhai cả thịt sống,,, ( Tại sao lại thịt sống ? Nướng để mà  lộ mục tiêu à ?. Vậy mà  Hồ Anh Thái  lại tả  rất tường tận cảnh một “picnic” của một toán thám báo   trong khi đi săn tin : bắt một tù binh trong rừng, mổ  lấy 2 trứng dái , nướng  để nhậu giữa  mật khu !)

Còn bây giờ , đồ ăn thức uống ê hề dư dật, vậy mà tinh thần thì tận cùng kiệt quệ, nuốt bao nhiêu nước miếng  đắng, và nhỏ bao nhiêu là giọt lệ thầm,,, Đi không còn vững nữa.  Xiêu xiêu. Đổ đổ. Đúng là hồn bay vía lạc.

Nhưng nghĩ lại tôi là kẻ may mắn. Tôi vẫn còn trí não . Và tay chân vẫn còn lành lặn. Tôi vẫn còn nhận được những ân điển mà Thương Đế dành cho để mà mư sinh thoát hiểm:

Đêm ngày quạnh hiu tôi làm con chim gõ mõ
Cốc cốc hoài trên bàn phiếm keyboard
Ngón tay phải này gõ những nút lạnh trơ
Ngón tay trái kia sẵn sàng cntl, shift
Gõ, gõ, bao nhiêu ngày và đêm mãi miết
Tôi là  con chim gõ mõ già nua
Và ngón tay ngày xưa tôi dùng để bóp  lãy cò
Nay  làm phép để  biến thành những bit 1 và 0 yêu dấu
Gõ, tôi dang gõ trên keyboard hay vào tim mình rướm máu
Để những  linh hồn chữ chết được hồi sinh

Mừng quá đi thôi, con chữ đã lung linh
Và hai ngón gõ của tôi chừng như mầu nhiệm

**

Tôi đã đưa lên hang trăm, flipbook. Và giờ này vẫn tiếp tục.  Tiếp tục  học hỏi, Tiếp tục gõ.. Vì tôi đang cần,  rất cần chúng để mưu sinh thoát hiềm.

Cuối cùng tôi đã tìm được nó (2)

Vâng, thì tìm được nó, với các xác bị nghiền banh tơi tả, chỉ còn lại một đống thịt bầy nhầy trên mặt đường East 7 th street. May chỉ còn chừa bộ da với những đốm bông trắng…
Một câu hỏi là: nếu tôi không xử dụng lộ trình mới (xem  đường mũi tên màu xanh nước biển) mà dùng lộ trình quen thuộc hàng ngày (xem đường mũi tên màu đà) từ nursing home trở về, thì làm sao tôi có thể thấy cái xác của con nai đáng thương ấy. Một ngàn lần, một vạn lần không. Bởi vì khi xe đụng đường Coolidge – đường nhà tôi, thì tôi phải rẻ trái. Tôi không thể lái quá lố đường Coolidge 20 feet để thấy xác nai và  cũng như để có bài viết này.

Tôi là dân Toán – loại Toán ứng dụng nên mỗi việc đều dựa vào những gì có lý chứ không phải mơ hồ. Vậy mà ở đây, tôi lại hỏi tôi trăm ngàn lần: Lý do nào để tôi chọn đường rừng mà trở về. Lý do nào con nai có bộ da lốm đốm trắng lại phơi xác ở trên đường tôi lái xe về. Hay lý do nào, nó lại không bị xe đụng ở một nơi nào đó để tôi không thấy…


Bản đồ ghi hai lộ trình từ Nursing home về nhà. Đường chánh có màu đà, mất khoảng 8 phút. Đường rừng có màu xanh (mất khoảng 20 phút). Xác nai năm trên đường (lộ trình mới)

 

Từ việc này dẫn đến câu hỏi này đến câu hỏi khác. Và chính mỗi câu hỏi là một sự suy nghĩ. Và mỗi sư suy nghĩ là một bài văn, bài thơ, bài tản mạn, bài tùy bút tôi đã, đang và sẽ viết lên đây.
Nếu  phóng sự là một bài ghi nhận khách quan về một sự việc xãy ra trong cộng dồng nói riêng hay xã hội nói chung, nếu nhật ký là những ghi nhận chủ quan mà người viết ghi nhận hàng ngày, thì những bài viết ở đây mang tính cách  vừa phóng sự vừa nhật ký. Chúng mang tính cách sống và viết.  Chúng dựa vào chất liệu sống, đặt sống thành suy nghĩ, rồi viết ra.

Người ta viết về tôi khá nhiều. Nhưng có một người khi nhân xét về tôi, tôi rất tâm đắc.  Đó  là nhà văn Mai Thảo.
Trên một số Văn trước 1975, khi giời thiệu một số cây bút trẻ  Ông xem tôi là nhà văn trẻ biết đặt sống thành suy nghĩ. Và tự thành trong cô đơn.

Có lẻ có một vài vị sẽ phán, ngòi bút của ngươi đã cùn,  nên để vào một bảo tàng viện, dóng cửa hưởng nhàn là vừa.. Vâng. Tôi biết vậy. Nhưng thưa các ngài. Tôi đâu cần các ngài ban bố tình thương đâu.  Tôi viết cho tôi. Cho con nai bé bỏng tôi tình mà tôi đã tìm ra. Cho hương hồn của nó, hình như cảm động vì chỉ có một con người còn nghĩ đến nó, để cho tôi được chọn lối đi trong rừng, để cuối cùng thấy được những đốm bông trắng trên đống thịt bầy nhày, và cũng đễ rủ hết những bận lòng phiền muộn suốt mấy ngày qua…

 

Đi một mình

Suốt cả một tuần nay tôi miệt mài gõ những trang ghi nhận của nhà văn Mai Thảo về văn nghệ và cuộc sống mà ông đăng trên tuần báo Nghệ thuật kể từ số 34. Tôi có cảm giác say mê gõ như đã một lần gõ những sáng tác của Triều Sơn trước đây.

Tôi cảm thấy tôi là người được may mắn, may mắn toàn vẹn khi thưởng ngoạn văn MT, nhất là qua thể loại tùy bút. Bởi, chẳng những mắt được đọc, mà ngón tay được biến những con chữ vô tri, từ lâu bị lãng quên trong phần mộ oan nghiệt của lịch sử, thành những chữ sống. Tôi đã tận dụng tối đa những gì mà khoa học hiện đại đã ban cho loài người hôm nay qua kỹ thuật digital. Chỉ một cái click là chữ chết thành chữ sống. Những trang scan lạnh lẽo, mờ nhạt có khi ố vàng, được mặc lại bằng chiếc áo digital, sau một cuộc biến đổi Google OCR.
Để từ đây, tôi bắt đầu đọc từng chữ, từng hàng, đối chiếu, và sửa chửa lại. OCR chỉ tốt cho những trang chữ in sau 1980, khi mà điện toán đã bắt đầu thịnh hành, còn những trang trước 1975, bị mối ăn, bị ẩm mục, giấy thì như bị mục nát, làm sao mà có đạt thành quả tốt dù chỉ là 30 % ?
Vậy mà tôi làm. Sửa từng chữ. Chữ sai nhiều. Nhưng mỗi lần dọc nó, thấy chữ không còn là những ký hiệu của abc mà trái lại là chữ sống. Từ chữ sống ấy, ta mới thấy được ý nghĩa của chữ và càng ngưỡng một người đã viết nên những hàng chữ ấy. Như đoạn văn sau đây, của Mai Thảo, với cái câu tôi phải lạnh mình:Đi một mình trong buổi chiều mình.
Tại sao lại là buổi chiều mình?Tôi  đang hỏi. Chắc bạn cũng đang hỏi. Vâng, buổi chiều là một mẫu số chung. Nhưng mỗi người có những buổi chiều riêng trên vòng quay của quả đất. Buổi chiều anh ở bên này đất Mỹ. Buổi chiều em ở bên kia Việt Nam. Buổi chiều anh ở Mỹ một mình. Buổi chiều em ở Việt Nam nồi cơm bốc khói. Thèm lắm em ơn nồi canh chua cá lóc. Em còn nhớ anh xin bỏ nhiều ớt cho cay.
Có phải ?

 

(Bắt đầu trích)

….Mỗi buổi sáng gỡ một tờ lịch, sao thấy cử chỉ mình lạnh lẽo hư vô. Cúi đầu xuống. Kéo cao cổ áo lên, mà sống. Đi một mình trong buổi chiều mình. Chiều cao vút mây. Đi một mình trên con đường nhỏ. Đường lang thang thôi đi về đâu. Đi một mình trong im lặng lớn. Im lặng lớn hơn mọi tiếng động đời. Đi một mình trong mưa bay. Mưa hết tháng năm, mưa chiều mưa đêm và tôi sống với thời gian tới, thiếu lắm những tấm áo ngự hàn mầu nắng.
(Nghệ thuật số 45)

lửa đỏ

Sáng nay, qua Google OCR và nhờ Zoom +200 tôi đã đánh máy được 5  trong số 18 bài ghi nhận về văn nghệ và cuộc sống của nhà văn Mai Thảo. Tôi sẽ đi toàn 18 bài trên Thư Quán Bản Thảo số 85 dự trù phát hành vào tháng 7 sắp tới.
Càng ngày sự khó khăn về tuổi tác đã làm bằng hữu người đọc xa dần  và mất dần. Ngay cả tôi mỗi lần đọc là phải zoom đếm 200 %. Chữ trên Màn ảnh phải dùng size large hay extra large.
Biết vậy, vẫn lên đường như thời làm lính đi đầu thám kích. Tại sao.
Nhà văn Mai Thảo đã nói hộ.

Như một đoạn nhật ký mà nhà văn Mai Thảo ghi trên NT số 38 (ngày 31-6-1966), xin đăng lại:

Thứ năm 30–6
Tạ Tỵ tạt qua tòa soạn. Buổi sáng rực rỡ làm nhớ đến mầu sắc, và mầu sắc là nhớ đến hội họa. Hỏi Tạ Tỵ về sự vẫn im hơi bặt tiếng quá lâu của cuộc triển lãm tranh ảnh, mà chúng tôi đã báo trước từ năm ngoái, mà mọi người đều đợi chờ. Đáp cụt lủn: “Dẹp”. Iỏi tại sao, Tạ Tỵ trả lời rằng thưởng ngoạn hội họa không có chỗ đứng hiện nay giữa một đời sống chồng chất những vấn đề sinh kế đè nặng. Nói thế nhưng rồi lại nói : « sáng nay vừa vẽ xong một bức tranh đẹp quả ». Mâu thuẫn nghệ thuật đó. Hiện tượng sáng tác đó, Tranh không trưng bày. Nhưng sáng nay, vẫn thêm 1 bức mới thành hình. Nhưng sống được với mâu thuẫn đó, phải do hai điều kiện. Thứ nhất : tâm hồn còn lửa đỏ. Thứ hai: yêu mình, yêu công việc làm mình đến tận cùng.

Sự mầu nhiệm của nghệ thuật @

Mấy hôm nay  thế giới mạng xôn xao về  chuyện một thí sinh  của chương trình  “America’s Got Talent”  đã làm chấn động những người yêu nghệ thuật qua sự diễn xuất tuyệt vời có một không hai của chàng.  Đó là Kodi Lee. 22 tuổi, mù và bị chứng tự kỷ (autism). Autism là căn bệnh về thần kinh não bộ, ảnh hưởng phần lớn ở tiếng nói (communication).
Thú thật tôi  đã xem  biết bao nhiêu lần về cái video  này. Cứ mỗi lần xem là mỗi lần  muốn  rưng rưng ! Continue reading “Sự mầu nhiệm của nghệ thuật @”

Băng Đồng

Tôi vừa đọc  một  đoản văn tùy bút rất ngắn của Mai Thảo trên tuần báo Nghệ Thuật số 28 phát hành ngày 23-4-1966. Dĩ nhiên là hay, vì có mấy ai qua mặt MT về thể loại hành văn tùy bút của ông.
Nhưng càng đọc càng thấy nỗi bất hạnh mà thế hệ sau ông phải gánh chịu.
Đoản văn của Mai Thảo mang tên là Băng đồng:


…Lâu lắm, tôi không ra ngoại ô. Lâu lắm tôi không ngồi giữa lúa. Và như cũng đã lâu lắm tôi đã đánh mất những phiến trời xanh biếc của tuổi thơ, lâu lắm tôi không gặp lại mình tuổi nhỏ. Thế giới tôi xưa là những chân đê và những cánh đồng. Con đường nhỏ lượn giữa hai bờ tre cù, lồi lõm chân trâu, nồng nồng bùn đất. Tiếng cu gáy trong trưa chói chang. Tiếng chó, tiếng mèo, tiếng gà, tiếng vịt. Tiếng đòn gánh trong tinh sương mờ mờ bóng đất. Cá đớp mồi dưới từng chân bèo, trồng ngũ liên những mùa mưa bão, kiềng khua của người đi tuần, lộc cộc mỏng đập trâu bò về chuồng, rào rào đá lặn cán lụa trong trắng, lúa chín, trắng sáng, cỏ non, đất nâu, chợ họp đầu đình, cầu đá cuối thôn, khỏi hoàng hôn lượn lờ mái rạ, ngô và thềm, ba gian và  hai chái, thế giới tuổi nhỏ của người đó, ở nơi tôi, khi bỏ đi, nhớ và nghĩ lại có như một phụ bạc, một đánh mất, mà mỗi lần nghĩ lại, như chiều nay giữa lúa, thấy cái mình đánh mất lớn lao hiếm quý vô ngần. Tôi nghĩ, càng lớn, người ta càng xa dần hết thảy. Ý thức sáng suốt là biến  thể của một trạng thái rừng rưng…

Thế hệ của Mai Thảo  (sinh năm 1927) là  thế đấy ! Đẹp biết bao. Và cũng hoang đường biết bao.
Còn thế hệ chúng tôi, của những kẻ sinh sau ông 10, 20 năm, thì sao. .
Vâng chúng tôi cũng  “băng đồng ” thật,  nhưng  băng đồng để đi vào vùng tử địa:

Băng đồng, băng đồng đêm hành quân
Người đi ngoi ngóp nước mông mênh
Về đây Bình Định ma thiên lảnh
Mỗi bước đi rờn rợn âm hồn…
(THT – trung đội)

Vâng, chúng tôi có cái thế giới tuổi nhỏ  thật, nhưng là một thế giới mà:
còn nhớ không Gia
trong những đêm đen nào
lũ chó mực cất cổ tru thảm thiết bên những căn nhà trụi nóc
rồi theo đó chiến tranh trở về
với chiếc cày lửa và mầm đạn đồng gieo mạ xu
ống vườn tược của chúng ta
nơi đó mọc lên những thân cây than. và lũ quạ mun ủ rũ đôi mắt tròn số không

còn nhớ gì không!
những người mất đầu vì một quyền văn
 phạm ngoại ngữ
những người bị mổ bụng vì mặt biên áo trong có in ba màu
những đứa con gái 10 tuổi bị phá trinh
những bà lão sáu mươi bị hãm hiếp
lưỡi dao dài phạt ngang
huych! chiếc đầu bạc rơi xuống như quả dừa khô
còn nhớ không Gia !
đứa trẻ sơ sinh nào chết cứng trên đôi vú
xanh của người đàn bà phọt óc

Tiếng tru thất thanh của thời gian chó má
từng bầy từng lũ bị đập đầu
hy sinh cho cách mạng đi vinh hạnh thay
lũ chó !
những con chết hụt trung tính chạy về
chủ lại mang chúng đến đoạn đầu đài
đòn cây giáng xuống
con mắt văng ra rơi trên nền đất cứng
con mắt kia vẫn không ngớt phóng ra lời
kêu cứu người chủ thâm tình  !

(Kiệt Tấn – dòng sông và con thuyền  hai mươi tuổi, tuần báo Nghệ Thuật số 10)

Hai thế hệ, dù triệu triệu bộ não có lối suy nghĩ cá nhân, nhưng có cùng một mẫu số chung là lịch sử.
Trong khi ông  và những nhà văn nhà thơ ở SG quay mặt với lịch sử, việc cớ cái đẹp là trường cữu, là vĩnh hằng, thì ngay ở trên  Nghệ thuật số 28  phát hành vào năm 1966 này, đăng  bài thơ của Huy Tưởng (sinh năm 1942) và Trần Dzạ Lữ (sinh năm 1949), như là hai tiếng kêu trầm thống ai oán của tuổi trẻ VN:

 

Ôi, non sông ta gấm vóc mà sao khán giả là tiếng khóc. Người thơ làm bài thơ lúc ông mới 17 tuổi, cái tuổi lẽ ra phải đầy những mộng ước sáng ngời..
Ôi, hai mươi năm, sao không happy birthday mà cứ bơi hoài bơi mãi, không phải bằng hai cánh tay rắn chắc của tuổi trẻ mà bằng hối tiếc, giận hờn, hoài nghi, tiếng khóc !

Kết luận:

Băng đồng của Mai Thảo là một bài tùy bút tuyệt vời, nhưng nhìn lại, nó lạnh lùng vô tình trước lịch sử   cái lịch sử mà tuổi trẻ chúng tôi gánh chịu như chúng tôi trích từ thơ Kiệt Tấn, Huy Tưởng và Trần Dzạ Lữ.

Tác phẩm của ông không đi vào lòng người nhiều, không tạo ra một dấu ấn sâu đậm vào tâm trí người đọc, cũng không giúp cho người đọc được học hỏi một vài điều gì đó về nhân sinh, lịch sử…

Trái lại, nhà thơ Tô Thùy Yên sở dĩ  được nhắc nhở nhiều, không phải vì ông là một nhà thơ chính của nhóm Sáng Tạo. Mà được nhắc nhờ những áng thơ bắt nguồn và khởi dậy từ niềm đau của  lịch sử mà thế hệ chúng tôi là nạn nhân chánh.
(Mời đọc  “nhà thơ Tô Thùy Yên, Sáng Tạo và hậu Sáng Tạo”)

Đẹp dưới cái nhìn của nhà thơ Tô Thùy Yên

  •  nén nhang lòng  thành kính đến hương hồn nhà thơ Tô Thùy Yên

    TRong số những nhà văn nhà thơ của một thời Sáng Tạo, hiếm thấy một tác giả nào lại dành  cho ngưiời lính miền Nam  một chỗ rất trân trọng trong trái tim như nhà thơ Tô Thùy Yên.  Không phải ông ca ngợi màu áo hoa dù, vinh danh hoa cài thép súng, không phải ông ca những bài ca có vẽ cải lương như lính mà em.. hay  cái kiểu “áo chàng đỏ tựa ráng pha/ngựa chàng sắc trắng như là tuyết in”…. mà trái lại ở chỗ  ông đào sâu tận cùng sức chịu dựng vô bờ của người lính, để chứng tỏ, người lính miền Nam phải chịu đựng như thế nào, phải chiến đáu như thế nào.. Và họ anh dũng khí phách như thế nào !!!Châu thổ mang mang trời nước sát.
    Continue reading “Đẹp dưới cái nhìn của nhà thơ Tô Thùy Yên”

Tại sao tác giả Hai sắc hoa tigôn lại dấu tên? (Viết lại)

 

Tại sao tác giả “hai sắc hoa ti gôn” lại ẩn danh, dấu tên dấu tuổi ?
Theo ý kiến của tôi, dù TTKH là nữ  (Trần thị Khánh) hay nam (nhà thơ Thâm Tâm) đi nữa, trước sau họ cũng phải dấu mặt. Continue reading “Tại sao tác giả Hai sắc hoa tigôn lại dấu tên? (Viết lại)”

THTSáng sớm vương vít lời ca ngâm…

Đêm qua tôi đã trải qua một giấc ngủ rất khó. Không phải khó dỗ giấc ngủ mà khó vì mấy cái tập báo cũ hành hạ tôi. Bởi tôi không thể vất chúng, nên mới ra tay “làm sạch”. Cuộc hành trình dọn sạch này thật là gay go vì trang scan chụp không tốt. Hơn nữa, cái laptop windows 10 của tôi không đủ nhu liệu phải “mượn đất” ở một desktop windows 7. Mà cái desktop này chạy rất chậm. Chậm khủng khiếp.
Continue reading THTSáng sớm vương vít lời ca ngâm…

Tản mạn về thơ

Thức dậy lúc 4 AM. Nằm nán khoảng 10 phút trên giường. Như ngày thơ, mẹ kêu dậy học bài, vẫn giả vờ không nghe, để nán lại ít lâu. Ngày ấy, nán vì ngại dậy, ngại học bài, ngại ra ngoài sân lạnh cắt để rửa mặt. Và có khi là còn vướng vất cơn mơ… Nhưng bây giờ tuổi già, thì nằm nán, để tâm hồn như bay bổng. Thơ hình như nhập vào hồn. Bong bóng thì nhẹ, và bay kên trời thì lơ lửng. Thơ cũng vậy. Lơ lửng. Lâng lâng. Có khi nghĩ đến một câu thơ cũ, thấy lại hình ảnh xưa, trở lại cùng quá khứ: Nghe như bùn ướt còn vương tóc/ Lính bụi mà em có thương không ? Thơ tôi đấy. Cái chàng trung đội trưởng thám kích ấy may mắn lắm. Bởi hắn là thi sĩ. Hắn thăng hoa nỗi khỗ cực trăm bề của một đêm trắng mắt, hay lội đồng, băng rạch, bùn dính cả áo quần tóc tai… để dỗ dành hắn. Hắn vinh danh mùi bùn để an ủi trái tim trong khi các em quay mặt hay chỉ mơ những hoàng tử…. Ôi hớp cà phê đầu ngày, điếu thuốc đầu ngày. Rồi tiếng nước sôi, tiếng lửa reo, rồi đôi má của cô hàng chợ Huyện trở nên au hồng dưới ánh lửa. Cô hàng chợ Huyện mơ gì nhỉ / mà sao im lặng như tương tư/ Tôi biết đêm rồi không chó sủa/ Đêm rồi tôi cũng dệt cơn mơ…

Niềm vui tùy theo người  có một quan niệm riêng. TCS thì mỗi ngày cho tôi chọn niềm vui.  Ông chọn bởi vì niềm vui quá nhiều. Còn tôi làm gì có nhiều để mà chọn nó cho đẹp cuộc đời. Đêm trắng mắt giữa lòng mật khu.  Và ngày thì trưa mới thấy rõ những vách đá vây quanh, thì làm gì mà được cơ hội tìm một nụ hoa cho đời mình… Cũng như bây giờ, cái hoàn cảnh của một lão già có vợ bị liệt bại không thể ngồi dậy, rồi thêm cái con quỉ nhập tràng đã chiếm lấn bộ bán cầu não, thì làm sao tôi có thể chọn cho đời mình một niềm vui ? Cái bát rượu đời của tôi tuổi trẻ thì đầy máu, hay mồ hôi tủi nhục, và bây giờ thì đầy lệ…
May mắn, tôi là nhà thơ.  Tại sao nhà thơ đồng nghĩa với nỗi may mắn ?

Bởi vì thơ đi với cái đẹp. Khổ cũng đẹp. Sướng cũng đẹp. Em là gái trời bắt xấu cũng đep. Hay em đẹp như tiên nga cũng đẹp. Dưới mắt nhà thơ, hình ảnh những bông súng trên đầm khổ sai khác với con mắt thường tình. Hay cái thập tự giá trên ngọn đồi sọ ở Kinh Nhà Chung khác với cái nhìn của người thường. Nếu trong những năm tháng làm lính dữ, lạc lỏng trong rừng, nếu những con kiến, lá giang, nước sương, con chuột là những thứ vật chất để tôi có thể áp dụng bài học mưu sinh thoát hiểm, thì nửa đêm vầng trăng lấp ló giữa những cành lá rậm rạp của núi rừng, hay những nụ hoa vàng, hoa đỏ, hỏa hoàng, mọc dại giữa bãi cốt xương, thì làm lòng mình cảm thấy nao nao… Thơ là sự giao cảm giữa  giác quan, nhất là đôi mắt và trái tim và bộ bán cầu nảo. Đôi mắt nhìn. Chưa đủ. Phải nhờ trái tim mới có thể rung động. Và cuối cùng qua cái đầu, sữ rung động kia được thăng hoa, vinh danh.

Đó là lý do tại sao tôi tự cho mình là nhà thơ. Nó cứu tôi. Dù tôi biết thơ tôi thúi lắm, ghê lám. Hãy tha lỗi, tôi không phải là nhà đạo đức. Tôi là cựu  linh thám kích, quen chủi thề, ăn tục, nói tục:

Giờ tôi chân rã tay rời
Lơ trăng lơ gió lơ trời lơ mây
Lơ lồn để nó leo cây
Đê tôi còn lại cái …cọc này buồn thiu !
2.

Mỗi ngày mấy tiếng thăm nom
Mỗi ngày mấy tiếng bồ hòn nuốt vô
Vô rồi ra cửa hậu môn
Có khi, không hậu mà ra môn làng
Thơ thì thum thủm thảm thương !

 

Tính phổ quát trong một bài thơ

Bài thơ Lưu biệt của Phạm Ngọc Lư được trích từ thi phẩm Đan Tâm  (1) có nội dung như sau:

Qua cầu một cỗ áo quan
Tiếng sênh dìu bước hai hàng âm công
Bước theo khăn chế áo sồng
Hắt hiu cờ rũ lạnh lùng vàng rơi
Chân cầu nước ngậm ngùi trôi
Tiếng kinh tiếp dẫn bồi hồi tràng giang
Đôi bờ lưu biệt linh quan
Nước soi bóng nến hai hàng lung linh
Người không về cõi u minh
Người về bản thổ nặng tình cố hương
Từ nay mây khói vô thường
Theo người nhập thể cội nguồn nghìn xưa

                                         (Nam Phước, tháng 6 – 1998)

 

 

 

 

 

 

 

Một câu hỏi là tại sao thi sĩ lại chọn giòng sông  làm bối cảnh cho đám tang thay vì chọn ngọn đồi, đồng cỏ, chân đèo hay con đường tỉnh lộ, hay ngoại ô thành phố như  trong bài thơ của Phổ Đức sau đây: 

vào khuya phố ngủ đèn mờ
đường heo hút gió dưới bờ cây đêm
xe đi khấp khểnh gập ghềnh
thây nằm trơ lạnh ngả nghiêng gục đầu
mặt mày nhầy nhụa mắt sâu
tay xuôi má hõm máu sầu tràn môi
về đâu khi héo cuộc đời ?
chiếc thân mệnh bạc quê người dở dang
xác vùi đâu giữa đêm tàn?
xe qua cầu nhỏ tiếng than lạc loài
công danh sự nghiệp mấy ai?
thấy gì hơn mảnh hình hài quắp co!
rũ đời trong chiếc xe bò
hỏi ai tránh được bước đò thời gian
ngoại ô sương lạnh buông màn
không gian truy niệm mây đan mưa nhòa
đường vào nghĩa địa mờ xa
xe lăn tiếng mỏi nghe mà buồn tênh!

 (Phổ Đức – Xe bò đưa xác)

 hay ở một xóm ăn chơi giang hồ trong một bài thơ của Văn Cao:

Ngã tư nghiêng nghiêng xe xác
Ði vào ngõ khói Công Yên
Thấy bâng khuâng lối cỏ u huyền
Hương nha phiến chập chờn mộng ảo
Bánh nghiến nhựa đang kêu xào xạo
Ai vạc xương đổ sọ xuống lòng xe
Chiếc quỷ xa qua bốn ngả ê chề
Chở vạn kiếp đi hoang ra khỏi vực
Mưa, mưa hằng thao thức
Trong phố lội đìu hiu
Mưa, mưa tràn trên vực
Trong tối gục tiêu điều
Mang linh hồn cô liêu
Tiếng xe càng ám ảnh
Tiếng xe dần xa lánh
Khi gà đầu ô kêu.

(Văn Cao – Chiếc xe xác qua phường Dạ Lạc)

Ở Phổ Đức nhà thơ chọn bối cảnh là một ngoại ô trong đêm về sáng. Ở Văn Cao, là Phường Dạ Lạc. Còn ở Phạm Ngọc Lư là giòng sông. Mỗi tác giả có mỗi lối chọn lựa để mà sơn phết vào thơ mình.
.
Theo tôi, chỉ có giòng sông mới thật sự trọn vẹn.. Chỉ có giòng sông mới có đôi bờ sinh và tử…  Bao nhiêu áng thơ văn, có áng thơ văn nào lấy ngoại ô hay một xóm ăn chơi để nói về ý nghĩa của cái bến cuối cùng của một đời người trên quả đất? Chỉ có giòng sông. Hàng triệu năm trôi qua, giòng sông vẫn vậy, con đò nhân sinh vẫn tiếp tục đón người về bên kia cõi khác… Vẫn là cuối cùng là hai chữ “không” và “về”. Vẫn là “lưu” và “biệt”.

Chân cầu nước ngậm ngùi trôi
Tiếng kinh tiếp dẫn bồi hồi tràng giang
Đôi bờ lưu biệt linh quan
Nước soi bóng nến hai hàng lung linh
Người không về cõi u minh
Người về bản thổ nặng tình cố hương…

Đó là lý do tại sao tác phẩm Câu chuyện một dòng sông  của H. Hesse do Phùng Khánh & Phùng Thăng dịch lại dược đón nhận.
Có phải vậy không ?

(1) Đan Tâm, thơ Phạm Ngọc Lư, Thư Ấn Quán tái bản tại Hoa Kỳ