Viết về Hà Nội: Những cơn mơ cuối năm

Truyện của Trần Hoài Thư

Những ngày cuối năm, Đồng đã sống trong cơn mộng. Trời đã sang lạnh. Cái lạnh dịu dàng như ru anh vào giấc ngủ. Đôi mắt anh lim dim đằng sau ô lưới sắt. Anh như thấy lại một chút gì quen thuộc của quê anh. Tuy trời đã lập đông và những cơn gió giao mùa đã xôn xao những chiếc lá còn sót lại trên cành, nhưng anh cứ tưởng chừng là mùa thu. Miền núi miền Nam đã có một thời tiết khác xa miền Bắc.

Đọc tiếp

thơ làm ở phi trường

 khi chờ trực thăng bốc
(phi trường trực thăng Bà Gi, 1968)

Trưa bốc bụi mù, tàu lên tàu xuống
Mấy hàng quân ngồi, súng đạn ba lô
Anh bạn nghĩ gì khi nhìn tấm ảnh
Anh mang bên mình chụp đứa con thơ

Thì cũng quá quen cảnh  chờ tàu bốc
Sao mà không quen chống đở tấm thân
Khi chiếc trực thăng thả người xuống đất
Là ta với người tà lọt cùng lăn

Ôi tấm thân này trói gà không chặt
Sao mà mang đầy lịch sử ngàn cân ?
đọc tiếp

Viết lúc 4AM – Cám ơn em, người con gái miền Nam

Mỗi sáng thức dậy, nằm thật yên trên giường. Để lắng nghe. Nghe gì. Hạnh phúc được thêm một ngày với đời, với vợ con, với cháu nội. Đã qua rồi những bỉ cực. Nhưng không phải vì vậy mà lại quên.  Sợi tóc người đàn bà trong đời ta vẫn là sợi tóc để ta gìn giữ:

Sợi tóc nhớ nhung

Chuyến đò  nào đưa em về trong mưa
Tôi mang đôi mắt em theo dòng kinh xám
Tôi nói một mình, tôi chỉ còn em
Chỉ còn em, có nghĩa là lòng tôi  cảm động

Thì đò đưa người xa khuất rừng lau
Rồi  tôi sẽ về  cùng đầm dạ trạch
Em còn mang cho tôi chiếc khăn sọc rằn
Vướng thêm sợi tóc dài bỏ sót
đọc tiếp

Viết lúc 4AM- Về những trang sách cũ

 Vâng, hãy cho tôi trở về cùng những ngày tháng cũ. Chiếc bè đã đưa tôi vào dòng văn chương không phải đẹp và dịu dàng như một giấc mơ. Mà trái lại, văn chương bấy giờ là văn chương của lửa, lệ, và những gào thét, tra vấn, tử sinh. Văn chương bấy giờ là những ngày đêm trong lòng hỏa ngục, là những vết thương toé máu đớn đau, là tiếng kêu trầm thống của một thế hệ mà, nói theo ý Tolstoi, chỉ những ông già bụng phệ ký giấy tuyên chiến, còn phần chết thì dành cho bọn thanh niên.

đọc tiếp

Gần đến Giáng sinh, nhớ một bài thơ cũ :Ta bán cà rem hề !

ta bán cà rem hề, ta bán ca rem (Hình internet)


Ngày tốt nghiệp Master (1995)  bên vợ bên con

Ta đã về ôm những nhánh tang thương
Cúi đầu bước đi giữa lòng phố cũ
Con phố của ta, ruột rà trăm ngõ
Sao bây giờ mỗi khúc mỗi đau
Ta đã trở về, bốn năm phù du
Hồn hóa đá, người thành dã thú
Ta dỗ dành ta tai trời ách nước
Thôi đã hết rồi, món nợ tiền khiên

Thì tại sao xin một chỗ dung thân
Cố xứ  ơi, cây đào trước ngõ
Ngôi nhà ta, trời ơi bỗng lạ
Con đường xưa, thay đổi não nùng

Ngày xưa Từ Thức trở về, hương bưởi bâng khuâng
Đất trời quê hương dễ thương thế đó
Hôm nay ta trở về, đóng vai ông lão
Đi giữa lòng âm phủ trần gian

Ông lão buồn trong tuổi thanh niên
Ngày tháng lửa binh, già hơn quả đất
Sau cuộc chiến tranh làm tên sống sót
Sau cuộc tội tù đi bán cà rem

Ta bán cà rem hề, ta bán cà rem!
Lắc chiếc chuông đồng, khua làng khua ấp
Ôi những hồi chuông lâu rồi đã tắt
Bỗng hôm nay, thức dậy, ngỡ ngàng
Trên đầu ta, mây trắng thênh thang
Dưới chân ta, vòng xe nhật nguyệt
Chuông đồng leng keng, thay người đào huyệt
Gọi những âm hồn trong buổi đảo điên

Ta đạp qua cầu, qua bến, qua sông
Qua những trạm canh gầm gừ chó sói
Chiếc áo trận xanh, sạm mùi lửa khói
Chiếc mũ rơm đan, vương miện tội tù
Ta qua những miền thiên cổ âm u
Ta đập vào thùng, nghêu ngao ca hát
Ta bán cà rem hề, kem đường kem chảy
Thêm kem oan cừu chất ngất miền Nam

Ta bán cà rem hề, thì bán cà rem
Bà con ơi, đừng nhìn ta mà khóc
Ta đang đứng trong chuồng thú vật
Ít ra ta vẫn là một con người

Em bé quê ơi, nghèo lắm, phải không
Lại đây anh tặng em một cây kem chuối
Có phải em là con một người lính ngụy
Nên cuộc đời toàn là những cơn mơ ?

Ôi những tiếng reo giòn, ông già cà rem
Chưa đầy bốn mươi, ta già thế đó
Ta không buồn đâu, tóc ta bạc trắng
Như một ông già chuyện cổ phương Tây

Ông già Noel vào mùa Giáng Sinh

Lắc chiếc chuông đồng phát quà phát bánh
Ta cũng như ông đầu làng cuối xóm
Lắc chiếc chuông đồng, phát cả trái tim

Trời đã giêng rồi, em biết không

 Chỉ còn vài ngày nữa là Tết. Đối với kẻ xa hương, lúc này là những nỗi nhớ  nhung da diết… Càng da diết khi sáng nay, ngoài kia, tuyết trắng phủ ngập….

Tôi ở bên ni trời viễn biệt
Em xa. Xa ngái tận phương trời
Ở đây tuyết trắng giăng mờ ngõ
Tháng giêng em và tôi hai nơi
đọc tiếp

Ngày đảo chánh một “cổ trắng”

Lời tác giả:

 Những kẻ   tham dự cuộc đảo chánh  ấy đến từ VN,  Ấn Độ, Trung Quốc, Pakistan, Ba Lan, Tiệp Khắc… Họ thuộc một đội quân trí thức, dù nhỏ nhoi, nhưng vô cùng mạnh mẽ . Họ làm đổ nhào những người cổ trắng bản xứ. Họ làm lung lay tận gốc rễ cả một thành phần tự coi mình là chuyên viên, chuyên gia…Họ làm thay đổi quan niệm về trung thành, tận tâm, sống chết cho một công ty mà kẻ ấy phục vụ.
Ở  đây, kẻ  tham gia là một chàng thanh niên  VN,  nguyên là du học sinh, về nước và đuợc mướn bởi một công ty Mỹ có chi nhánh ở VN. (THT)
đọc tiếp

Viết lúc 4 AM – Đồng hương

Tôi ở tại một vùng rất ít người đồng hương. Mỗi lần thèm một tô phở, hay dĩa cơm tấm, phải lái xe ít nhất là hai tiếng đồng hồ. Mỗi lần đi chợ, nghe đàng sau, đàng trước, tiếng Việt cất lên, thì vợ chồng chúng tôi không ai bảo ai,  ngước mắt về phía tiếng nói. Sau đó là ánh mắt trao, nụ cười chào cho cái duyên gặp người cùng cố xứ.

đọc tiếp

Đứa cháu (truyện ngắn)

Truyện Trần Hoài Thư

…Chưa bao giờ ông nghe bà ca tuyệt vời đến vậy. Có lẽ cũng như ông, bà muốn biến lời ca thành những nốt nhạc diệu kỳ để mong cho đứa cháu nội của bà chấp thuận cuộc hưu chiến một vài tiếng đồng hồ trước khi bày ra một trận chiến khác.
đọc tiếp

Ngày sinh của một loài ngựa chứng – Truyện

Trần Hoài Thư

Tuổi thơ của tôi lớn lên, từ một gia đình chẳng ruột rà, từ một quê hương chẳng bao giờ biết được dấu vết, từ một đất nước loạn lạc nhiểu nhương. Thành phố vào những năm đầu của thập niên 50, chiến tranh ngày một cận kề vòng đai. Từ đồn binh  ở vòng đai phía con sông Cái, đêm nào tiếng nổ nghe rất gần như  ở bên kia bờ sông. đọc tiếp

Nỗi kiêu mạn của tuổi trẻ thời chiến

Có lẽ so với Cao Bá Quát, cái cao ngạo của Nguyễn Đức Sơn còn trội hơn một bậc. Xin đọc lá thư  gởi vợ viết từ nhà lao  tỉnh Bảo Lộc ngày 25 tháng 8 năm 1972,  được dùng làm tựa trong thi phẩm Du Sỹ Ca, mới thấy cái mức độ cao ngạo này:

“Anh tin rằng tất cả những  đứa làm thơ từ đây trở về sau đã vang danh thi sỹ từ bao kiếp trước nếu không đọc thuộc lòng ít nhiều bài Du Sỹ Ca này đều chẳng phải là thi sỹ nữa… (Du Sỹ Ca – An Tiêm xuất bản)..
đọc tiếp