Người lính viết văn…

 

1.Người lính miền Nam vừa đánh giặc vừa viết văn có hai con người trong họ. Khi cầm súng họ là người lính như mọi người. Và khi cầm viết họ trở lại con người đích thực.

Vì là con người, cho nên qua chữ nghĩa của họ, tính nhân bản được biểu lộ hơn bao giờ…
Vì là người lính cho nên họ đã chịu những số phần như bạn bè đồng đội của họ.

Họ viết vì họ, vì đồng đội của họ, vì những gì họ nghĩ, họ thấy, chứ không phải từ đơn đặt hàng. Họ chính là nhà văn chứ không phải là thợ văn. Họ viết bằng chính mồ hôi, máu và nước mắt của họ chứ không bằng tưởng tượng, thêu dệt, vẽ vời. 

Có người vĩnh viễn ra đi. Có người bị tàn phế. Có người bị lịch sử đá lên đá xuống tơi tả tả tơi.

Cuối cùng, văn chương và cả họ đều biệt tích…

Bởi vì biệt tích nên rất khó mà tìm lại đứa con bất hạnh. Như những bài thơ của Trần Như Liên Phượng, bút hiêu quá quen và quá dễ thương của nền văn chương thời chiến mà TQBT mong được đi trên số Viết dưới trời khói lửa này. Ngòai nước thì vô phương, còn trong nước bạn bè thì lục lọi khắp nơi, nhưng cũng không hơn không kém.
May tìm được một bài văn độc nhất của Trần Như Liên Phượng được ký dưới bút hiệu Hoàng Yên Trang. Chúng ta không thể ngờ TNLP còn viết văn nữa. Nhưng sáng tác này lại là đầu tiên và cuối cùng của anh: Khi truyện lên khuôn thì tác giả đã tử trận ở Đồng Tháp.

Như vậy, mỗi sáng tác của người viết trẻ mang bộ đồng phục thời ấy ít nhiều mang dấu hiệu của một chúc thư cũng nên. Bao nhiêu điều bất an sẵn sàng bủa chụp. Bởi vậy trong hầu hết những sáng tác viết về chiến tranh của họ, đọan kết luôn luôn là một nỗi buồn, hay bi thảm..
Truyện Buổi Dừng Quân của Lê Bá Lăng đi trong số này (trích lại từ Văn năm 1969) cũng không tránh được ngọai lệ. Nó nói lên tất cả những bi thương nhất, tàn nhẫn nhất về một cuộc chiến. Tàn nhẫn như chuyện người lính vô tình bắn vào thi thể bạn mình. Đau thương như người dân giữa hai lằn đạn. Phản trắc lừa dối hiểm độc của người dân trong vùng sôi đậu. Bi thảm như niềm ước mong của người lính tên Nuôi: Súng súng và súng. Ráng kiếm súng không phải vì huy chương nhưng để nhận được phép thăm vợ con. Và cuối cùng là lá thư gởi về vợ chưa gởi được tìm thấy trên xác của Nuôi:
…Ông (trung đội trưởng) nhân đạo quá. Đ.m, Việt-cọng nó giết mình như ngoé mà bắt được thằng nào ông cũng cấm đánh đập. Anh thương ổng quá chứ không thì anh xin qua tiểu đội quân báo rồi.

Đó là việc đồi xữ với tù binh. Còn có biết bao nhiêu chuyện trên chiến trường, trên những vùng đất đầy tai họa, mà người lính bấy giờ là chúa tể có quyền bắn giết sinh sát:
…Chúng tôi không thể liệng lựu đạn xuống hầm một cách điên cuồng mà phải nạt, phải gào, phải dọa, để đám dân, gồm đàn bà, con nít, từ dưới hầm, chui lên, để họ còn được sống. Chúng tôi không thể đá vào người đàn bà có bầu, dù biết rằng tác giả cái bầu kia là một tên du kích… Chúng tôi dí nòng súng vào màng tang ông già, bà lão, dọa bắn, nhưng không thể bóp cò. Chúng tôi muốn đốt hết nhà, muốn phóng hỏa cả làng để trả thù, nhưng chúng tôi cũng đành bất lực. Chúng tôi phải chiến đấu trong sự dằng co của lương tâm và thù hận. Trời ơi, những câu hỏi và những câu hỏi. (1)
hay:
…Tôi đã bất lực. Tôi đã đầu hàng. Bà lão ấy là mẹ của kẻ địch. Người đàn bà có bầu ấy là vợ của kẻ thù. Đứa con nít ấy là con của kẻ địch. Tôi biết họ. Những người lính trong trung đội tôi cũng biết vậy. Họ chờ đợi tôi. Nơi này, tôi là vua là chúa có quyền sinh sát. Nhưng tôi không thể. Mái tóc bạc phơ của bà lão. Cái thai vô tội, hay cô thiếu nữ đang ở tuổi thanh xuân… Chẳng thà họ lấy súng bắn chúng tôi trước. Chẳng thà họ có dấu hiệu gì để chống lại chúng tôi. Nhưng họ ngồi im lặng trên sân. Mắt không sợ hãi mà ương ngạnh. (2)

hay
Nhớ hôm bắt được em Việt Cộng
Xinh đẹp như con gái Sài Gòn
Ta nổi máu giang hồ hảo hán
Gật đầu ra lệnh thả mỹ nhân (3)

2.
Dù phản chiến hay hiếu chiến, dù không thích mang bộ đồng phục hay thích màu áo lính, khi ra trận, nếu không tuân theo đám đông thì bị đào thải. Cá nhân bấy giờ bị triệt tiêu, trở thành một con số zero. Khi được lệnh xung phong, dù sợ hay không sợ, hai chân người lính cũng phải chạy, cổ họng phải gào, phải rống, ngón tay phải chạm vào lãy cò, cặp mắt phải láo liên, lỗ tai phải căng ra, mũi phải cố gắng đánh mùi tai hoạ. Nếu không bắn ngươi thì ngươi bắn ta… Không nghe lệnh ư. Ra tòa án mặt trận. Run sợ ư, cầm trái lựu đạn ra cách xa phòng tuyến 500 thước nằm chơi một mình trong đêm tối. Kích canh ngủ gật ư. Hãy bôi dầu nhị thiên đường vào mắt để nổ tròng cay xé. Không thể làm dấu thánh giá, hay đọc kinh siêu độ trước khi bóp lãy cò.

Nhưng sau khi trận đánh chấm dứt, tâm người lính trở thành tâm lành. Người lính trở lại bản chất của con người. Người lính thắp những nén nhang lòng lên người quá cố. Người lính lấy poncho trùm phủ những xác chết bị trúng đạn tóat lóat dị hởm. Người lính nhìn tên tù binh, thấy hình ảnh mình ở trong đó. Hắn cũng có mẹ già người yêu chờ đợi ở phương trời như người lính. Người lính bỗng thương hại. Và người lính bèn mời tên địch điếu thuốc.
Người lính không phải là ông thánh, nhưng tự trong bản chất, trái tim của người lính đã mọc
những hạt thánh thiện rồi.

Đấy. Sự khác biệt của người lính Nam và lính Bắc là thế.
Một đàng chỉ biết căm thù căm thù và căm thù. Ngay cả trong văn chương.

(Căm thù trên hầu như tất cả tác phẩm viết về chiến tranh của miền Bắc. Và ngay cả tác phẩm Nhật Ký của Đặng Thuỳ Trâm, một nữ bác sĩ đã nằm xuống trong chiến tranh, mới được phổ biến gần đây)
Và một đàng thì:

Ta bắn trúng ngươi vì ngươi bạc phước
Vì căn phần ngươi xui khiến đó thôi.

(Nguyễn Bắc Sơn)

3.

Nhiều người bảo thua là phải. Đúng vậy. Nhưng đùng trách người lính. Trách Phật, trách Chúa.

Có phải vậy không ?