Cuôi cùng là phần thưởng…

Thư quán bản thảo số 91 chủ đề Đầu Xuân Lộc mới giới thiệu một người viết trẻ ở hải ngoại: Nguyễn Thụy Đan đã bay đến khắp 4 phương trời, ngay cả trong nước. Dưới đây là vài thư phản hồi:

Từ San Diego:

Cảm ơn anh TH.Thư đã gửi tặng TQBT. #91, tháng 01/2021. Món quà văn nghệ hiếm quý. Ngàn lần trân trọng

NHT

Từ Dallas:
Đã nhận TQBT số mới.
Mừng anh vẫn làm việc tuyệt vời!

Cám ơn anh.
TDN

Từ San Jose:

Không thể tin  là anh có thể thực hiện một số báo giá trị  trong  hoàn cảnh khó khăn như vậy.
Cám ơn lắm lắm!
MAS

Từ Florida

N. nhận được quà Xuân thật sớm rồi nha. Số báo này đặc biệt về một nhà ngôn ngữ học (N. nghĩ người viết trẻ Nguyễn Thụy Đan như thế) trong thế giới Hán cổ: Toàn những điều N, chưa biết bao giờ.
Gần đây đọc báo thì có nghe đến tên người “Nguyễn Thụy Đan”, nhưng rồi lại đi vào quên lãng như chiếc lá giữa dòng thời sự nóng như lửa đốt hiện nay! N. chú ý đến bài viết: “Cổ Duệ từ: Bước đầu tìm hiểu từ sử Việt Nam” …

Giới thiệu vài trang trong TQBT 81

Sơ lược vè NTĐ:

Tiên sinh chào đời ở thủ phủ Sacramento, tiểu bang California, năm Giáp Tuất, 1994.  Niên tuế nay đã tam cửu chính phương niên, 27 tuổi. Theo dương lịch thì vừa tròn 26 tuổi Tây.  Tuổi thơ ấu tiên sinh theo gia đình dọn về sống tại một vùng rừng núi hẻo lánh ở mạn bắc California. Năm 13 tuổi tiên sinh theo cha mẹ về thăm Việt Nam, đi khắp ba miền Bắc Trung Nam.  Đến Hà Nội mua được một quyển tự điển chữ Nôm và bắt đầu tự học, làm quen với cổ ngữ từ đấy.  Năm 16 tuổi tiên sinh theo chân dòng Đức Bà Truyền Giáo về Việt Nam dạy tiếng Anh ở Củ Chi, đồng thời nhân dịp ấy học thêm chữ quốc ngữ.  Tại đây, một tối nọ tiên sinh tình cờ được nghe một thiếu nữ họ Trần đọc thơ Bà Huyện Thanh Quan mà đâm ra sinh mê âm điệu cổ thi. Khi trở về Mỹ  bắt đầu tìm hiểu về niêm luật thi ca, lại bị quyến rũ bởi ma lực của Đường thi và thi ca tiền chiến Việt Nam qua thơ Bích Khê, Hàn Mặc Tử, Đinh Hùng, Phạm Hầu…  Hai năm sau, lúc vừa 18 tuổi, Việt Thạch gặp chuyện đau buồn đến độ bị khủng hoảng tinh thần.  Nhưng nỗi bất hạnh ấy lại là cơ duyên làm bừng lên một động lực mạnh mẽ nhất quyết thúc đẩy việc tu học Hán văn, trau dồi kiến thức cổ nhân.  Từ đấy tiên sinh bắt đầu tìm đọc Hán thư, từ cổ phong Hán Ngụy đến Đường thi, Tống từ, lại quay sang đọc Khổng, Mạnh, Lão, Tứ thư, Đạo Đức Kinh đủ cả. Đọc đến đâu vỡ đến đấy. Đến là kỳ lạ.  Trong một mùa hè đã đọc thạo cổ văn Hán ngữ.  Sau khi tốt nghiệp trung học, tiên sinh có chí hướng muốn xuất thế ẩn tu nhưng mộng không thành, nên vào trường Đại học  Houston học dương cầm, sau chuyển qua đàn clavecin (tiền thân của piano) và đại phong cầm (pipe organ), là các loại đàn cổ, nay còn thường được dùng trong các thánh đường nhà thờ Công giáo. Đồng thời đọc thêm Trang tử, Minh Tâm Bửu Giám, lại đọc toàn tập từ khúc đời Đường, đời Ngũ Đại, toàn tập từ khúc đời Thanh v.v.. Sáng tác nhiều bài từ bằng chữ Hán, gộp chung lại là Chướng Vân Tập. Đọc nhiều sách triết học Tây phương nhất là phái Khắc Kỷ (Stoics), Marcus Aurlius, Epictetus. Sau khi tốt nghiệp hai văn bằng cử nhân Âm nhạc và Văn chương Anh tại Đại học Houston năm 2016, Việt Thạch dọn về California, nghiên cứu thêm về Thần học Công giáo và Chính Thống giáo, chú trọng nhất vào các tư tưởng chịu ảnh hưởng của văn hóa Hy Lạp.  Ngoài ra cũng chuyên sâu vào tư tưởng Tống Nho, vượt ra ngoài Hạo, Di nhị Trình, Chu Hy, và đặc biệt nghiên cứu về một danh nho Việt Nam dưới thời Tự Đức là Nguyễn Đức Đạt.  Năm 2018, Việt Thạch được học bổng của Hội Bảo Tồn Di Sản Chữ Nôm về Hà Nội khoảng 3 tháng nghiên cứu thêm tại Viện Hán Nôm.  Năm 2019 trở về Mỹ, nhân dịp Đại học Columbia ở New York bắt đầu thành lập ngành Việt Nam học, Việt Thạch được nhận vào học chương trình tiến sĩ khoa Ngôn ngữ và Văn hóa Đông Á, đặc biệt nghiên cứu về sự hình thành và phát triển của tư tưởng Việt Nam thời trung đại và cận đại.

(Tô Thẩm Huy – trích Việt Thạch Nguyễn Thụy Đan và tác lòng thiên cổ trang 12, 13 )

…..

Trên thi đàn hiện đại, Chướng Vân của Đan đã xuất hiện như một bông hoa lạ cắm rễ trên một vùng đất quen thuộc: Lạ về mặt hình thức, mà quen về mặt cảm xúc. Nếu như mấy chục năm về trước, khi nhà phê bình Hoài Thanh, trong tác phẩm Thi nhân Việt Nam đã lên tiếng tuyên chiến với toàn bộ nền thơ cũ để hướng về một tương lai tươi sáng của chủ nghĩa lãng mạn – như là một nhu cầu thiết yếu của cái tôi bị kiềm toả lâu ngày, thì nay thơ của Đan đã nhắc nhở chúng ta một điều thiết yếu hơn cả lớp vỏ ngôn từ và hình thức: Cảm xúc và nhân văn. Chướng Vân là một lời mời gọi tha thiết để quên đi lớp áo tạm bợ của ngôn từ, mà nghĩ nhiều hơn về linh hồn, về tình cảm của thơ. Thứ linh hồn này đã chẳng hề thay đổi một tí ti nào trong suốt hàng trăm thiên niên kỷ qua: nó vẫn sung sướng, nó vẫn bàng hoàng, nó vẫn thẩn thơ, nó vẫn đẫm lệ.

Vì thế mà suốt cả một tiến trình phát triển của văn học nhân loại, sẽ chẳng bao giờ có chuyện “rượu mới bình cũ” (36) cả. Tất cả thể thức, ngôn ngữ đều phải phục vụ cho mục đích truyền cảm của nghệ thuật và dưới bàn tay khéo léo của thi nhân, sẽ chẳng có chiếc bình nào là quá cũ để chứa đựng hồn người nặng trĩu.

Đọc từ của Đan, tôi nghĩ phải đọc thật chậm, thật lâu, như nhai đi nhai lại một thức quà ngon bổ dưỡng. Đừng đọc liên hồi ba mươi bài từ rồi vội vàng gấp sách lại, nhưng hãy đọc bằng cả kinh nghiệm, mỗi ngày đọc một ít và sống thật nhiều. Có vậy, nỗi buồn tiếc xuân bàng bạc mà ám ảnh mới có dịp hiển hiện cho trọn vẹn, mới có dịp rung cùng nhịp rung của con tim bạn đọc và nức nở cùng cái nức nở của khách thơ. Về phần tôi, đằng sau cái dáng vẻ Đông Phương cổ kính của thơ Đan, tôi lại thấy hình ảnh của một Apollinaire đứng thẫn thờ bên dòng sông Seine, tay chàng cầm đàn gảy một khúc ai ca, mắt đờ đẫn nhìn xa xăm, miệng bần thần ngâm nga:

Nhưng dĩ vãng
Với thời gian và tình yêu trong đó
Có bao giờ về lại Mirabeau
Năm tháng chạy sao ta còn nán lại
Thời gian ngân cùng với bóng đêm chìm  (37)

(Dương Nguyên Khang CHƯỚNG VÂN – ĐIỆU BUỒN VÔ THANH, trang 64)

 

oOo

NTĐ có sở trường về sáng tác Hát Nói.  Chúng tôi xin đăng 1 bài tiêu biểu để quí bạn biết rõ hơn về thi tài đa diện của tác giả. (TQBT)

 

Nguyễn Thụy Đan

Mộ xuân hữu cảm

 

Ngoài song mưa tạnh gió vờn,
Khắp sân tàn tạ hoa hờn xuân đi.
Chữ rằng vật hoán tinh di, (1)
Hoa thì héo rụng người thì già nua.

Canh khuya vắng ngắt,
Giễu thân quèn luống buộc chặt bang gia.
Tựa song thưa ngán cảnh phồn hoa,
Khách muôn dặm sa đà chừng biết đủ.

Vạn sự bất như bôi tại thủ,
Nhất niên kỷ kiến nguyệt đương không. (2)

Khoá buồng mây mặc chuyện bụi hồng,|
Bầu bạn có chén quỳnh cùng điệu nhã.

Quân bất kiến: Lưu thuỷ lạc hoa xuân khứ dã, (3)
Học người xưa bỉnh chúc khá quên âu. (4)
Màng chi thế sự đâu đâu.

____

(1) 物換星移。Dịch nghĩa: “Vật đổi sao dời.”
(2)    萬事不如杯在手,一年幾見月當空。Dịch nghĩa: “Muôn sự chẳng bằng chén trong tay; Một năm

(3) 君不見流水落花春去也。Dịch nghĩa: “Người chẳng thấy: ước trôi hoa rụng xuân đi mất rồi.” Câu “Lưu thủy lạc hoa…” trích bài từ theo điệu Lãng Đào Sa 浪淘沙 của Lý Dục 李煜 (937 – 978).
(4) Trong Cổ thi thập cửu thủ 古詩十九首 đời Hán Ngụy có câu: Sinh niên bất mãn bách; Thường hoài thiên niên ưu. Trú đoản khổ dạ trường; Hà bất bỉnh chúc du. 生年不滿百,常懷千歲憂。晝短苦夜長,何不秉燭遊。Nguyễn Sĩ Đại dịch thơ: “Người ta không trăm tuổi; Lại thường lo nghìn đời! Đêm dài ngày ngắn vậy; Sao không đốt đuốc chơi.”

(trính Nguyễn Thụy Đan – Hát Nói  trang 145)