Vậy mà tôi đã xa nhà đến 40 năm…(1)

1.

 

Vậy mà tôi đã xa nhà đến 40 năm. Và đã trải qua 52 năm cùng hành trình văn chương chữ nghĩa. Một khoảng thời gian quá dài, để có thể làm chai sạn hồn người. Đã quá quen rồi những ngày trôi qua nhật nguyệt. Đã chai sạn rồi cái tình hoài hương, cho dù nghe bài Tình Hoài Hương của Phạm Duy. Nhìn những phóng sự trên video về quê nhà, sao lòng lại chẳng mảy may rung động. Hình như tôi không còn sống trong thế giới ấy nữa. Có phải nỗi chai sạn này là hậu quả của thời gian?

Nhưng mỗi lần mùa Giáng sinh về, dù ngoài trời thỉnh thoảng dập dìu những bông hoa tuyết, dù cái lạnh giá của mùa đông bắt đầu, dù tôi đang ấm êm trong căn nhà có lò sưởi, vậy mà hồn tôi lại như lênh đênh. Có phải những con đường của thời tuổi trẻ trong đêm Giáng sinh hay tiếng chuông nhà thờ lanh lảnh ngân nga, hay những người con gái dập dìu xuống phố? Không. Tôi không có những thứ đó. Thời tuổi trẻ của tôi là chiến tranh, là tiền đồn, là ở những nơi rất gần sao mà cũng rất gần huyệt địa. Lạnh thì chỉ biết trùm poncho. Có khi buồn quá, trùm ponho, phủ thêm cái mền dạ ở ngoài, bật đèn pin quân đội và viết. Viết chẳng cần suy nghĩ, Viết để quên buồn. Viết bằng hơi thở của mình.
Thời tuổi trẻ, Giáng sinh là cảm tạ. Người ta ngưng bắn. Và lính dĩ nhiên được thêm một ngày còn sống.

Sống để chờ đợi hòa bình. Sống để mơ một ngày ngưng tiếng súng, để dẫn em xuống phố, hòa nhập vào giòng người trẩy hội, để được uống cốc rượu trong đêm Réveillon, để nghe thánh ca chúc tụng…

Nhưng tiếng súng thì ngưng, mà giấc mơ thì chẳng bao giờ có thật.

Vậy mà tôi xa nhà hơn 40 năm. 40 năm đã làm thay đổi tất cả, từ ngoại cảnh đến lòng người. Như vậy tôi còn gì ở đó. Mắt tôi đã mờ rồi. Mọi thứ đều như một giấc chiêm bao. Thì hãy cho tôi mơ. Đôi mắt nào dù không thấy nhưng tôi biết là đẹp lắm. Gương mặt nào khuất chìm trong bóng tối, nhưng tôi biết là quá thánh khiết dịu dàng. Và con tim tôi không nghe nhịp, nhưng tôi hiểu là những âm vang vô lượng của Chúa, Phật đã ca hát trong em, trong mẹ, trong chị… Tôi xin giữ như giữ những điều quý báu nhất của một đời người. Để mỗi mùa Giáng sinh trở về, còn chắp tay cảm tạ, ít ra tôi được diễm phúc là được sinh ra và lớn lên tại miền Nam

 

2.
Ngày Giáng sinh tôi trở lại Núi Trầu
Bè tràm qua sông dưới đồi Núi Sọ

Con kênh Nhà chung dẫn từ Núi Trầu vào rừng tràm dài khoảng 10 cây số. Tháng 12, mưa lũ, và giòng kênh nước ngập bờ. Buổi sáng, nước chảy từ rừng ra sông lớn. Buổi chiều nước chảy ngược. Cuồn cuộn.
Chính vì nước chảy ngược nên người tù càng cực khổ hơn bao giờ. Bởi vì, không thể vác cả 5 cây tràm như cột nhà mà lội bộ. Phải bè. Nước ngược làm bè tràm như con thú ngỗ nghịch, bất kham, khó điều khiển. Và nhất là trước khi đạt bờ, phải vượt qua giòng sông Hà Tiên. Sông rộng mênh mông, không đò không thuyền, lũ tù phải vừa đẩy bè gỗ vừa bơi. Hơi thở như hụt. Hai chân như quỵ, hay tay như rã.

Khi ấy nhìn về phía cuối trời, thấy chiếc thập tự nhỏ nhoi hiện giữa nền trời ráng đỏ hoàng hôn, tôi có ý nghĩ là Chúa ở rất xa, rất cao, một cõi nào đó. Không cúi xuống những phận đời đen tối. Những lời khẩn cầu từ một trái tim hào hển chỉ có tôi nghe. Những lần ngã quỵ, chỉ có tôi vực tôi dậy, để tiếp tục kéo món nợ của lịch sử… Xin phép cho tôi được quyền nghi ngờ tôn giáo…

Đêm đó, trên nền nhà của ngôi trường đạo, anh em chúng tôi cùng quây quần bên nhau để vui mừng Giáng sinh. Chúng tôi cùng uống nước nhãn lồng để thay trà, và chia nhau bình thuốc lào hay miếng đường thẻ. Trong khi ngoài đêm, tiếng la hét của tay cai tù say rượu đi nhậu về, làm kinh động cả một khu xóm đạo gài then kín cửa.

Bỗng nhiên, có một bóng hình xuất hiện. Một nữ tu. Nàng mang theo một thau đồ ăn, rồi hối hả nói:
“Mẹ Bề Trên bảo tôi mang cho anh em ít đồ ăn, xin anh em nhận để Mẹ vui”.
Sau đó nàng rút mau, biến mất trong bóng tối.

Có phải đó là phép lạ? Bởi vì nếu không có con tim của Chúa, Phật trong con tim của người thì chắc gì chúng tôi nhận được tặng vật? Trái lại là những căm thù cuồng tín mà những người thắng trận đã dành cho chúng tôi. Hả hê hê hả.