LƯƠNG THƯ TRUNG: CHẤT THƠ TRONG VĂN PHONG CỦA TRầN HOÀI THƯ

Trong sinh hoạt văn học nghệ thuật hải ngoại hôm nay, bút hiệu Trần Hoài Thư được nhắc đến như một nhà văn hơn là một nhà thơ . Với bốn tác phẩm của tác giả trước năm 1975 là Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang (1970), Những Vì Sao Vĩnh Biệt (1971), Ngọn Cỏ Ngậm Ngùi (1972), Một Nơi Nào Để Nhớ (1974) cùng với bốn tập truyện sau này ở hải ngoại Ra Biển Gọi Thầm (1995), Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối (1997), Về Hướng Mặt Trời Lặn (1998) và Mặc Niệm Chiến Tranh (1999) so với thi phẩm duy nhất là “Thơ Trần Hoài Thư”, đã cho phép bất cứ người đọc nào đã từng quan tâm theo dõi đến nền văn học Việt Nam hiện đại đều nhận ra rằng Trần Hoài Thư quả nhiên là một nhà văn hiện đại .

Riêng những tác phẩm xuất bản trước năm 1975, ngày nay đã tuyệt bản. Nhưng với bốn tập truyện vừa nêu được tác giả cho xuất bản liên tục trong vài năm qua quả đã nói lên rằng Trần Hoài Thư là một cây bút đang viết rất mạnh, rất hăng. Dù đang ở cái tuổi chưa già, nhưng chắc chắn đã dày dạn phong trần qua bao cuộc đổi dời dâu bể của cuộc đời đã làm nên những chất liệu phong phú cho ngòi bút Trần Hoài Thư như lúc nào cũng muốn viết lại và viết không mệt mỏi về những người lính trận có một thời là những người bạn đồng ngũ với tác giả .

Những truyện ngắn, những tùy bút, những ký sự giống như những chiếc áo trận được Trần Hoài Thư khoác bên ngoài những tác phẩm nói lên nỗi cơ cực đoạn trường, những gian khổ hiểm nguy cùng nỗi bất hạnh của người đồng đội với mình, nhưng Trần Hoài Thư che giấu bên trong một hồn thơ dạt dào nhiều cảm xúc … Cái phong cốt đó trong văn chương Trần Hoài Thư là cái nét đặc trưng thật hiếm hoi trong các tác phẩm văn xuôi ngày nay . Ngoài những cốt truyện có thật hoặc thật gần với sự thật về người lính qua 94 truyện ngắn trong bốn tác phẩm Ra Biển Gọi Thầm (20 truyện), Ban Mê Thuột Ngày Đầu Ngày Cuối (21 truyện), Về Hướng Mặt Trời Lặn ((33 truyện) và Mặc Niệm Chiến Tranh mới phát hành tháng 8-99 (20 truyện), Trần Hoài Thư đã viết cho bạn, viết cho người tình, viết cho vợ, viết cho con, viết cho những thế hệ trẻ, viết cho người nằm xuống cũng như cho cả người còn sống bằng lương tâm của một người lính còn may mắn sống sót sau khi khi chiến tranh tàn lụi . Trần Hoài Thư viết mà như tha thiết kêu gào loài người nói chung và lịch sử Việt Nam cận đại nói riêng, hãy trả lại danh dự cho những người lính trận, những lao công đào binh, những thương binh, những anh linh tử sĩ đã hơn một lần hiến dâng đời mình cho quê hương xứ sở.

Những tiếng kêu gào ấy không phải là những tiếng la hét đinh tai, nhức óc mà Trần Hoài Thư thì thầm, nói mãi, nói hoài bằng con tim thương yêu người lính một cách chân thật, bằng cả cái hồn thơ của một tâm hồn nghệ sĩ . Tiếng kêu gào ấy có lúc tưởng chừng như nổi giận nhưng cả cái hồn thơ giàu chất lãng mạn, tác giả đã mang lại cho những tác phẩm của ông trở thành một cái nơi chốn ấm êm của những mảnh hồn đồng điệu, của tâm tình, của thương xót, của cảm thông, của rộng lượng, của tình người …

Xin mời bạn thử mở ra bất cứ truyện ngắn nào của Trần Hoài Thư trong số 94 truyên ngắn trong bốn tác phẩm vừa kể, ngoài những mẫu đối thoại, còn lại bạn có thể ngắt những câu và rồi xếp lại bằng cách xuống dòng ở những chồ đáng xuống dòng, bạn sẽ không khỏi ngạc nhiên những đoạn văn xuôi này lại mang vào thân xác nó cái hồn thơ của Trần Hoài Thư tự lúc nào . Để nhận ra cái chất thơ trong văn phong của Trần Hoài Thư, chúng tôi xin nêu ra vài ví dụ .Chẳng hạn, để mở đầu truyện ngắn Bãi Chiến, Trần Hoài Thư viết về bãi chiến năm xưa qua hình bóng trở về của người goá phụ dẫn con kiếm tìm ngôi mộ của chồng, của cha, mà hồn chữ nghĩa của nhà văn đã làm bãi chiến năm xưa hoang vắng cũng ngậm ngùi như đang cùng với lòng người goá phụ hoà nhập vào cảnh vật để mà tưởng vọng, chiêu hồn anh linh tử sĩ đang phảng phất đâu đây “đời đời, kiếp kiếp” :

“Người thiếu phụ ấy đã trở về chốn cũ,
Chốn cũ nào đây ?
Di Tích năm xưa như những ngọn cỏ ngậm ngùi .
Rừng vẫn ở cuối tầm nhìn,
Vẫn mênh mông ngàn năm sương và khói …
Và cỏ dại vẫn bạt trùng…
Và đất vẫn đậm đỏ cùng những vũng nước đọng như
đời đời kiếp kiếp…”

(RBGT trang 15)

Hoặc đoạn văn sau đây trong truyện ngắn Người Về Trăm Năm, giống như hai câu thơ tả về nỗi mê đắm của một người học trò đang yêu thầm nhớ trộm một người bạn nữ sinh có mái tóc dài “óng mượt” ngồi bên khung cửa lớp năm xưa :

“Tôi đã uống từ màu nắng vàng chiếu qua khung cửa lớp,   và đọng trên dòng suối mượt óng tựa mun …”

(RBGT trang 9)

Đôi lúc, Trần Hoài Thư cũng nghĩ ngợi đến thân phận mình, một thân phận được lý giải qua mấy dòng chữ cũng mang trong ấy cái hồn thơ dạt dào, pha chút suy tư về định mệnh :

“Đi ! Có phải mỗi đời người là một hành trình cô độc ?
Một ngày nào đó, nó sẽ tan biến vào vũ trụ khôn cùng …
Hằng hà tinh hệ …
một con số cực không !
Tôi đang là người lữ hành.
trong chiếc xe hàng liên tỉnh…
có một kẻ ra đi tiếp tục cuộc hành trình hun hút, vô định
Nhưng rồi, tôi cũng vẫn có một nơi để dừng chân lại …”

(Bãi Xương Rồng, BMTNĐNC, trang 125)

Một đoạn khác, Trần Hoài Thư cho người đọc thấy cái hồn thơ của mình qua mấy dòng cảm nhận về một nỗi cô đơn,
mong ngóng khi nhìn dòng Hudson vào những ngày cuối năm để rồi chợt nhớ người :

“Bây giờ lại thêm một ngày cuối năm nữa …lại về trên đất khách …

Trở lại dòng sông này mấy bận…Bên kia thành phố đã lên đèn.Cơn mưa nhoà nhạt hoàng hôn lạnh.Chiều cuối năm trời mau tối thêm !

Chiếc cầu Skyway xa mờ run rẩy …Đàn chim biển trên bến phà gọi nhau náo loạn,Những con tàu nằm bất động bên bờ xa
Tôi đang thấy lại người …Người đứng ở bên này sông,sông mờ theo mây thấp…và tóc người bay cuốn quýt, và những ngón tay người giữ lấy những sợi mây mềm…Tôi đang nghe tiếng nói của người .Trong phòng lớp.từ chiếc ghế đầu bàn. Trong thư viện.bên này, bên kia, bàn xanh, và hồn sách vở …”

(Đợi Chờ, VHMTL trang 107 và 108)

Trần Hoài Thư, trong một truyện ngắn khác, Nội Chiến trong tập truyện Mặc Niệm Chiến Tranh mới phát hành, đã viết về cái vùng quê yêu dấu của ông sau bao năm xa vắng mà dìu dặt hồn thơ :

“Tôi đang trở về xóm cũ .Hơn ba mươi năm xa cách, tôi vẫn còn nhớ cái tên mà tuổi thơ của tôi gởi trọn,hôn trọn một thời !Nhưng đâu là những ruộng rau xanh ngắt,đâu là những con đường đất nhỏ len giữa bờ rau, đâu là cái hồ bên cạnh nhà, những cây dừa, cây mít, và cái sân đất thịt …

Tôi đã trở về,
quê nhà ơi, yêu dấu …để nhận ra sự thay đổi đến não nùng …
Sông kia giờ đã lên cồn.
Bắt chước người xưa tôi gọi cụ Tế Xương !”

(Nội chiến, MNCT trang 72)

Và có lẽ cái lãng mạn của người lính trận khi nhớ đến người yêu vì khác tín ngưỡng, đành phải chia xa đến tội tình. Và với họ, tất cả chỉ là điều “vô nghĩa”, mà Trần Hoài Thư đã dàn trải trong truyện ngắn Vườn Thánh, là một trong những bài văn đầy chất thơ nhất của tác giả :

“Mấy năm trôi qua, hình bóng cũng trôi qua ….
Nhưng dư niệm vẫn còn đầy ngập tâm hồn.
Trong những đêm, những ngày vật lộn, tranh giành cùng sự sống, và sự chết .
Là những lúc nằm trên gò mả,
là những lúc nhìn lên ánh trăng xanh,
là lúc cô đơn trên một ngọn đồi nhìn người Thượng già hát một bài ca xa xứ …
|Những đám mây vẫn phiêu bồng trên mái tóc,
những nỗi rã rời vẫn hôn từng bước chân đi
Anh vẫn đi tìm em…
Chén rượu cũng không làm phai đi nỗi nhớ,
Đàn bà cũng không làm vơi đi sầu muộn…
Trận mạc cũng không làm anh quên đi một đôi mắt giai nhân…
Không còn gì hết !
Vô nghĩa !
Vô nghĩa !!!”

(Vườn Thánh, VHMTL, trang 210).

Để có thể nhận ra chất thơ trong văn phong Trần Hoài Thư, có lẽ không gì xác thực hơn xin ghi lại mấy dòng chữ này mà Trần Hoài Thư đã viết cho một người bạn thương binh vùng Triệu Phong, Quảng Trị năm xưa, mà bất cứ người đọc nào cũng có thể nhận ra cái hồn thơ trong văn và ngược lại trong văn có hồn thơ của tác giả . Và tác giả cũng gọi bài viết này là “Thơ của Văn” vậy:

” Ngày hôm ấy tôi lên xe về núi . Núi có buồn kéo tận Trường Sơn. Có hòn đá xưa bỗng thành thiên cổ . Chinh phụ ơi, thương người hay thương con. Chinh phụ ơi, đừng nghe lời ủy mị . Vai người mềm sao gánh hết cô đơn. Tôi bỗng giận những phường sách vở . Dẹp quăng đi những dụ dỗ thiên đường. Vâng thưa chị, thưa em, thưa mẹ . Hai thúng tròn đã đổ bóng Triệu Phong. Bên đầu gánh. Con thơ tròn một tuổi . Bên đầu kia là gánh nhớ nhung. Gánh nhớ nhung ấp đầy động cát. Ấp đầy sông Thách Hãn, Cửu Long. Ai đã cất bài dân ca Nam bộ . Nghe đất trời nhỏ lệ Việt Nam …”

(Thơ Của Văn, tặng Nguyên, Thơ Trần Hoài Thư, trang 57)

Tóm lại, người đọc đến với tác phẩm của Trần Hoài Thư ngoài những truyện ngắn của một nhà văn viết về chiến tranh để biết đến thân phận của những người lính trận giữa đạn bom, chinh chiến với những bi thảm, hải hùng của lằn ranh sống chết của con người trong khói lửa, người đọc còn thưởng ngoạn một bút pháp đặc biệt của tác giảnữa . Một bút pháp rất giản dị, không nhằm làm dáng chữ nghĩa, không cầu kỳ gọt giũa mà tự nhiên phát tiết từ tâm hồn nghệ sĩ lãng mạn của mình . Đó là chất thơ trong văn phong Trần Hoài Thư . Có thể nói cái chất thơ trong văn phong của Trần Hoài Thư đã góp phần không nhỏ làm cho tác phẩm của tác giả đến với nhiều người đọc khắp nơi trong vòng hơn ba mươi năm qua . Và dĩ nhiên, cái văn phong đặc thù này đã cho phép người đọc nhận ra Trần Hoài Thư đã tạo được cho mình một lối viết mới mẻ, độc đáo trong ý hướng làm mới văn chương vậy !

Lương Thư Trung

Ngày 14-8-1999

(Kỷ niệm ngày ra mắt tập truyện Mặc Niệm Chiến Tranh của Trần Hoài Thư, tại Hoa Thịnh Đốn)