cảm tạ văn chương (14)

Cuối cùng anh cũng đến được bến bờ. Cuối cùng anh cũng quì xuống trên bãi cát để cảm tạ ơn Trên. Tự do, mơ ước là đây. Biển bây giờ sao quá êm, và quá xanh biếc. Sóng bây giờ sao lại quá đỗi hiền từ. Anh quì, dù hai tay anh đã che đỡ những cú đánh, cú thoi, cú đá từ người lính Malaysia. Anh nhắm mắt lại, không kêu đau, không van xin. Để biết thêm về cái giá của một cuộc ra đi và thấm thía thêm thân phận của một người không có đất nước. Này, đất này là đất của vua ta, bãi biển này là bãi biển của vua ta… Còn ngươi, một thằng từ đâu lạc chợ trôi sông, mang bao khổ lụy, phiền toái đến đất nước này.

… Cứ chửi, cứ rủa đi anh lính đội chiếc nón bê rê đen, cầm thêm cây gậy, bên mình lủng lẳng khẩu súng ngắn. Tự do đâu phải quá dễ dàng như một lần du ngoạn. Bao nhiêu người đã không may. Bao nhiêu người đã nằm dưới lòng biển. Bao nhiêu người con gái đã bị hãm hiếp và bị bắt cóc. Những lưng trần đen bóng mồ hôi, và có người con gái tóc dài tung tóe, nhảy ào xuống biển. Còn nữa, còn bao nhiêu người đã lênh đênh trong vô tận của ngày của đêm, không thức ăn, nước uống, trên những vùng đá ngầm, san hô, cá mập… Tự do hay là chết. Chết hay là tự do. Anh cứ đập tôi đi, nhưng cơn đau bầm của tôi, bụm máu khạc ra từ cửa miệng tôi, đâu có thấm gì với cái bóng tối mà tôi đã bỏ lại. Tôi đã chờ đợi quá lâu, trong ngôi nhà mồ. Tôi đã muốn nhảy xuống biển tự tử khi nghĩ đến một lần họ bắt tôi trở lại. Bây giờ là ánh sáng rồi. Nó đã rực rỡ như muôn ngàn hào quang ân sủng. Và mùi nó đã si điếng châu thân tôi. Nó vô hình vô dạng, nhưng nó nồng nàn như mùi thuốc hồi sinh trong phòng cấp cứu. Tôi không buồn hay giận anh đâu. Bởi vì, rồi tôi sẽ đứng lên, dù run rẩy đi nữa, dù đau tận cùng đi nữa. Đất nước này là đất nước của anh, bầu không gian này là bầu không gian của anh, không ai dám quấy rầy bén mảng.

Em xa cách của anh,

Ngày đầu tiên anh nếm được cái hương vị của bến bờ là thế đấy.

Anh đã đón nhận nó sau cả tuần lênh đênh trên biển cả. Nó là một vệt đen mờ ẩn cuối chân trời. Nó hiện ra khi mây đen cuồn cuộn. Khi những cơn gió lạ mang điềm chướng. Nó làm người trên khoang ngạt thở. Ghe ơi, hãy ráng thêm một chặng nữa. Đừng bỏ cuộc. Ráng lên, mình gần tới đích. Và ghe vẫn chồm dậy, lướt trên mặt sóng. Gió lại càng mạnh. Mặt biển từ màu xanh sẫm đã biến thành màu tối đen. Những cơn sóng đã trở nên cao hơn, mạnh hơn, ván ghe lại kêu thêm một lần răng rắc. Nước lại thêm một lần chảy vào. Ngày tiền sử con tàu Noah vượt bờ hoạn nạn trong ba năm trên biển, Thượng Đế không thịnh nộ. Nhưng bây giờ chỉ còn không bao xa nữa, sao những tràng sấm dậy gầm gừ. Hay nó không phải là bờ, mà chỉ là cái ảo giác. Sao thời gian lại dài như cả một trăm năm. Và tiếng khàn đục của người chủ tàu vẫn tiếp tục: Thăng, Mạnh ơi, tiếp tục tát nước đi. Cuối cùng chiếc ghe vẫn đạt đến đích sau hơn bốn tiếng đồng hồ. Bờ đã tỏ lộ. Những thân dừa đan nhau san sát. Đồi mập mờ trong mây. Bãi biển chạy dài tươi mát. Những con chim biển đập cánh trắng chao lượn trên cao. Rồi chiếc ghe bị khựng lại. Rồi đám người lội xuống. Rồi máy bị tháo và vất xuống biển. Rồi chiếc ghe được kéo lên bờ cát. Và anh đã đứng lặng người trên bãi. Thì ra, đây là tự do. Chỉ một đại dương ngăn cách, nhưng gió duờng như đã lạ, không gian dường như đã bao la, nắng dường như thơm tho tươi mát. Em yêu dấu, mừng vui dùm anh. Mừng cho một kẻ được may mắn tồn sinh sau bảy ngày bảy đêm chàng robinson crusoe đi tìm kho tàng. Không biết từ ngày khai thiên lập địa đến bây giờ có một chiếc ghe nào dài 14 thước vượt biển Thái Bình Dương hay không. Chẳng những 14 thước, mà là tam bản, bè bằng ruột xe hơi, thùng phuy, can nước. Cái đảo nhỏ không thấy một bóng người, nhưng những chứng tích của những người vượt biển vẫn còn thấy trên bãi. Anh không hiểu họ được may mắn như anh hay là những di vật kia đã từ giữa cõi trùng khơi tấp lạc vào bờ. Anh đã hướng mặt về phía quê nhà. Em có nghe anh nói không? Dĩ nhiên là không. Nhưng anh vẫn thầm thì: Em yêu dấu, anh đã đến bờ bình an.

Như vậy thì bảy ngày anh xa em và con. Như vậy em lại bắt đầu chống cự với những cay đắng và hoạn nạn mới. Ngày em đi thăm nuôi anh, anh đã bắt gặp những sợi tóc trắng lẽ loi trên mái tóc mà ngày xưa như một giòng suối. Anh si dại mái tóc ấy từ ngày anh gặp em lần đầu. Anh nhớ nhung giòng suối ấy khi ánh trăng trong vườn i soi qua vòm lá vú sửa và đậu lại trên mái tóc. Bây giờ, ai điểm trang mà em phấn son. Chúng ta trong hàng ngũ bại trận, thì những sợi tóc bạc kia, chiếc áo bà ba bạc màu kia, những đường nhăn gian khổ, đâu có nghĩa lý gì. Nhưng bây giờ- không những em ở trong hàng ngũ bại trận mà còn có thêm một tên chồng vượt thoát – thì chắc chắn em phải đau khổ đến dường nào.

Vượt thoát hay một cuộc từ ly đầy lệ. Anh lại nhớ đến bóng tối của căn phòng. . May mà còn căn phòng, mà căn phòng lại bị che khuất bởi một căn nhà của kẻ chiến thắng. Cảm tạ em, vì em còn nghe được tiếng thở dài  và niềm ao ước của anh. Anh phải đi. Em chấp nhận để anh ra đi. Em sẽ ở lại, nuôi con chờ đợi một ngày mai sum họp. Sum họp.  Anh yếu mềm, không dám nghĩ. Hết chiến tranh, nhưng bây giờ anh lại gặp thêm một trận chiến khác. Đi và ở. Ở và đi. Nhưng em đã giấu anh, tìm đến một chủ tàu năn nỉ. Ông chủ tàu nói: “Chị hãy suy nghĩ lại. Chúng tôi không muốn làm anh chị phải phân lìa”. Em cương quyết: “Tôi sẳn sàng để cho chồng tôi ra đi. Xin ông cứu giùm ảnh”

Bây giờ anh đã đi. Và bây giờ em trở thành một cô phụ. Anh biết em lo cho anh và lo cả cho em. Nếu cơ quan biết được thì em sẽ bị đuổi việc. Và tiền đâu để nuôi con. Ngoài ra, ngày xả chế của anh nữa. Tại sao nó không phải là ngày nào khác trong 365 ngày, mà lại là ngày tiếp sau ngày anh vượt thoát. Anh hiểu em đã trải qua những bấn loạn khi người ta đặt câu hỏi về sự vắng mặt. ừ, xả chế là ngày quan trọng nhất cho một người cải tạo về. Nó trả lại quyền công dân, quyền làm ăn lương thiện, thế mà tại sao chồng chị lại vắng mặt? Anh ấy đi đâu? Em yêu dấu, nói đi, nói lại cái vở kịch mà anh, em và mẹ đã đóng trong căn nhà bếp. Nói lại vở tuồng mà mẹ là tác giả, anh em là diễn viên. “Con à, mình phải đóng tuồng. Hai vợ chồng con giả bộ gây lộn, để hàng xóm biết, từ nay hai vợ chồng con mạnh ai nấy đi. Con hẳn biết, bên nhà hàng xóm là đảng viên…”

Đóng tuồng. Đóng kịch. Người ta thường nói sân khấu là một xã hội thu hẹp. Sân khấu của chúng ta là chái bếp nhìn sang bên nhà bà đảng viên hàng xóm. Chúng ta không cần phông màn, nơi trang điểm. Và vở kịch thì quá dễ. Anh chỉ việc đập phá la hét, nhiều chừng nào hay chừng nấy, lớn chừng nào thì tốt chừng nấy. Và em, nhớ là đừng cười, vì em hay cười khi nhìn anh la hét giận dữ. Em chỉ có việc nói một câu: Tới nay thì liên hệ giữa tôi và anh kể như chấm dứt. Đừng tin dị đoan. Tác giả vở kịch này là mẹ. Mà mẹ thì hiền từ đức độ. Chắc ơn Trên đã dẫn dắt. Và chúng ta bắt đầu.

“Tôi chán các người lắm rồi. Tôi sợ các người lắm rồi. ừ, các người nghĩ rằng cái nhà ni tôi không có chỗ đứng, thì tôi xin từ giã. Này… Này… Tao đập hết… Tao phá hết. Thử xem các người… ”  Chúng ta đã diễn xuất để che mắt hàng xóm. Không cần đạo diễn. Không cần ôn tập. Chỉ có chai đập, nồi liệng. Chỉ có ba người biết rõ những gì trong lòng. Chúng ta chưa bao giờ lên sân khấu, nhưng từ căn nhà bếp âm u kia chúng ta đã là những người diễn viên lỗi lạc. Em đã đóng vai người vợ có chồng vô luân, bỏ bê nhà cửa. “Tui nói với bà con cô bác rằng từ ni tui không còn liên hệ gì đến người chồng của tui nữa.” Chỉ có mẹ, mẹ quá hiền, quá tội, mẹ chưa một lần biết nói láo, đóng kịch. Mẹ chỉ biết ôm cháu mà khóc. Còn anh, anh cũng thủ một vai thằng chồng chơi bời đàng điếm bạc tình bạc nghĩa. Nhưng em không biết tim anh phải cứa đau khi nghe chiếc ly vỡ tan, chiếc xoong quăng móp, đồ đạc tơi tả. Em không biết khi anh làm dữ, thì đôi mắt anh bắt gặp đôi mắt của em, như thấy cả một trời chịu đựng, và lúc ấy anh chỉ muốn ôm em vào lòng, hôn lên đôi mắt, mái tóc, xoa bóp bờ vai em. Nhưng em đang bặm môi, quay mặt và cúi đầu. Hình như em cố dằn lấy tiếng cười sắp phát. Vì vở kịch hay vì tài nghệ của anh?

Em yêu dấu,

Anh viết tiếp cho em. Và viết với tất cả cõi lòng, không cần bận tâm thắc mắc. Anh yêu em và yêu ngòi viết. Giờ thì ngòi viết đã được trả lại hơi thở nhưng đâu còn em để yêu mến những giòng chữ của anh. Giờ này em đang làm gì ở quê nhà. Có lẽ em đã bị đuổi khỏi cơ quan, hay có lẽ em đang lo âu đón chờ tin mừng. Buổi chiều anh xuống khu C, nói cùng biển, gọi cùng sóng, thầm thì cùng chim. Buổi sáng anh lên tận rừng cao, đốn cây chặt củi, để đứng trên mỏm đá, nhìn rừng bạt ngàn. Nơi nào là Việt Nam. Nơi nào là Ban Mê Thuột. Nơi nào là Qui Nhơn hay Nha Trang. Càng xa cách anh lại càng yêu mến quê hương. Anh nhớ đến cả khu rừng năm xưa với những hàng cây cao cổ thụ. Hôm nào, hương mật hương trăng hương man dại sực nức mười mấy mùa con gái. Chúng ta đã từ văn chương để yêu nhau, và từ  văn chương để làm chồng làm vợ. Nhưng giờ thì hai đàng hai ngả. Chẳng thà không biết thì thôi. Biết rồi mỗi đứa một nơi cũng buồn. Phải trách ai đây. Anh chạy đông tây nam bắc, giữa trên 50 ngàn người của hòn đảo Bidong này. Anh mặc quần xà lỏn khiêng từng bó đòn tay từ rừng xuống chợ để người đời khen chê trả giá. Đêm mưa bão, anh chạy trốn lên đồi tôn giáo, nằm dưới hiên chùa, nhà thờ. Sáng tinh sương, anh đã nhìn trăm ngàn bờ mông phóng uế dưới đồi. Anh không còn là anh nữa. Còn bao nhiêu cửa để anh đặt chân đến thiên đàng. Lúc này con người đã không còn hiện hữu được nữa. Thế giới bên ngoài cách ly với thế giới bên trong. Những người cảnh binh Malaysia vẫn cây gậy và súng ngắn hờm sẳn ngoài trại. Một chỉ vàng mua một cái nồi. Một lượng vàng mua một cái tấm lều nylong. Không giếng. Không nhà tiêu, cầu tiểu. Phân người thì đầy ngập nhớp nháp dưới chân.

Em yêu dấu,

Như vậy anh đã ở tại đảo người gần sáu tháng. Sáu tháng làm một chàng Kiều ngồi trên đồi Tôn Giáo nhìn xuống biển khơi. Không có cánh bườm nào thấp thoáng. Chỉ có chăng là một vài chiếc ghe được may mắn tấp vào bờ, và cả đảo ùa ra, tiếp hơi tiếp sức. Họ đục ghe, phá máy tàu. Họ sợ chiếc ghe bị kéo thêm một lần nữa. Anh đã chứng kiến cả chiếc ghe trên hai trăm người bị kéo trong một ngày biển động, và cả hai trăm người tuyệt vọng cùng chiếc ghe từ từ chìm dưới lòng biển cả. Không một chiếc tàu nào chạy ra cứu. Không một chiếc phao nào được quăng xuống biển. Cảnh tượng ấy đã được quay vào ống kính khiến cả thế giới kinh hoàng. Còn nữa. Những người con gái kiệt lả trên chiếc băng ca được khiêng lên bờ.  Con tàu lênh đênh trên biển hơn một tháng, người ta đã uống cả nước tiểu. Đó là một trong bao nhiêu thảm kịch mỗi ngày anh nghe và thấy. Những thảm kịch mà lịch sử sẽ phải ghi đậm còn hơn cả Holocaust. Hình như cả nước đang chuẩn bị cho một cuộc tự sát tập thể. Dù biết chắc ra đi là cầm chắc cái chết hay ôm mối tủi nhục suốt đời. Kỳ lạ, ai cũng hân hoan để lao mình vào địa ngục trước mặt. Để rồi ai mất ai còn, chồng mất vợ, vợ lạc chồng, con mất cha mẹ, cha mẹ mất con, tiếng thở dài như khuấy động cả vầng trăng cao, dội cả tâm can người tị nạn. Anh đang ở trong lòng của một biển trời nước mắt. Anh đang đui mù, mắt không mang kính (Nó đã rơi xuống lòng biển hôm nào), nhớ em, nhớ con. Đôi khi trong đêm anh giật mình thức dậy, ngỡ ngàng tự hỏi mình đang ở đâu đây. Đêm thì nồng nặc mùi phân người. Riết rồi anh cũng quen thuộc. Và anh lại không ngủ được. Anh thương và nhớ con. Anh đang yếu mềm quá đỗi. Biển đêm vọng về một cung điệu buồn và xa vắng. Trăng tròn cần thiết. Giờ chỉ còn mỗi một anh cùng với một đêm trăng, một cõi bao la huyền diệu, một cõi huyền năng thăm thẳm. Ông mục sư đã hiểu anh, và khuyên nên cầu xin Thượng Đế. Ai tới gõ cửa ta, ta sẽ mở. Anh là kẻ vô đạo, lang bạc kỳ hồ, sân si hờn giận, nhưng lúc này anh cảm thấy anh cần một vòng tay của Ngài. Lúc này con người đã không còn là một lão ngư ông kiêu ngạo của Hemingway, cố gắng tranh đấu cùng một con cá mập. Cá mập thì quá nhiều ở dưới đáy tàu. Và hung bạo không phải là lũ cá mập mà là bão, chớp, sấm, đá ngầm, san hô, và cái máy tàu bất lực. Lão ngư ông ra đi khi biển quá êm, êm để đuổi theo con vật ngỗ nghịch. Nhưng chiếc ghe từ một chân trời bên kia biển Thái Bình Dương thì ra đi trong nỗi hãi sợ, thất thanh, rú gào, như thể từ một cõi âm ty. Và bởi vậy, anh đang nhắm mắt, đến chảy cả nước mắt, đến má phải nóng hổi. Anh cầu xin Chúa, Thượng Đế , Trời Phật quyền năng hãy cho anh gặp lại con và em. Để đáp lời anh là tiếng gió vọng về cùng với muôn lời vỗ về của sóng cứ xa vắng rồi rõ dần, rồi xa vắng.

 

Em xa cách của anh,

Anh đã tìm đến tôn giáo để nương tựa. Đừng cần đặt câu hỏi với Thượng Đế nào. Anh đã nhận ra các Ngài, cõi lòng vô lượng, ở trên những tầng mây che chở chiếc ghe nhỏ bé bình an qua bờ hồng thủy. Anh đã thấy con người chỉ là một hạt bụi, và chiếc ghe chỉ là chiếc lá giữa biển mịt mùng. Hãy kính sợ các Ngài. Anh biết đêm nào em cũng quì lạy trước bàn thờ Phật, để cầu xin Ngài độ trì anh. Em đã từng cầu xin như thế trong khi anh ở tuyến đầu, và trong vòng tù tội. Nhưng người vợ từ một kinh thành cũ của anh, em hãy nhìn lên những vì sao để thấy niềm ân sủng.

Và cũng vì vậy, anh đang xin Ngài mở cõi lòng. Con cầu xin Chúa. Con cầu xin Trời Phật… Và em yêu dấu, chúng ta đã không còn gì nữa để bấu víu, trừ Đất Trời Vô Lượng. Ngay cả văn chương. Cho dù nhờ văn chương chúng ta mới tìm đến với nhau, mới trở thành chồng vợ, mới có đứa con kháu khỉnh,   và những mất mát được đền bù.
Bởi vì nó đã trở nên bất lực,  Nó không thể giúp anh cứu em, cứu con. Tội nghiệp cho con chúng ta. Nó lại giống như bố nó ngày xưa.