Cảm tạ văn chương (7)

Bài văn định mệnh

 

 

Tôi là một con ngựa bất kham. Ngày nhỏ, mẹ tôi đã không có thì giờ để huấn luyện tôi, bắt tôi bỏ vào chuồng, kềm cương cho tôi khỏi chạy, trái lại bà để tôi lêu lỏng cùng những đám mây hay như con dế mèn phiêu lưu trong cuốn sách của Tô Hoài mà cô Hồng Ấn đã bắt học trò cô phải đọc. Bây giờ tôi lại bị đẩy vào một chuồng lớn hơn, khắc khe hơn, bảo thủ hơn, phong kiến hơn.

Xứ Huế lại buồn, buồn không thể tả. Mưa ủ dột dầm dề suốt ngày. Trời thì sương muối, sương mù sáng đến trưa, che cả sông Hương. Và mùa gió thì gió cắt da cắt thịt. Lại thêm những thành quách cũ mờ nhạt nổi hiện như những nghĩa trang vua chúa đìu hiu.
Tôi thúc thủ trong thế giới ấy, hai chân chịu trận. Tôi mang dép Nhật, để tóc dài. Mà hồn và trí thì muốn nổi loạn. Tôi tôn sùng cụ Trần Tế Xương, Cao Bá Quát. Tôi si mê nhân vật Alexis Zorba the Greek.

Ba tôi buồn vì tôi không thể tả. May mà tôi học tạm khá. Toán luôn luôn xuất sắc. Kỳ thi nào tôi cũng đậu kỳ đầu. Ai cũng nghĩ  tôi học hành chăm chỉ, không biết gái là gì, cô đơn, sợ bạn bè và suốt ngày chỉ miệt mài trong thư viện.. Nào ai biết,  bên trong tôi, nỗi buồn tuổi trẻ đến rưng rưng. Chiến tranh cận kề, tiếng nổ cũng cận kề. Những tín hiệu càng lúc càng đánh về, mỗi ngày qua những đài ngoại quốc. Mỗi ngày, trang nhật báo đầy tin chiến sự. Cả thế giới đã nhìn vào nước tôi và khóc dùm nước tôi. Lệnh Tổng động viên đã ban hành. Một lứa tuổi được lệnh trình diện. Rồi một ngày nào đó đến phiên  lứa tuổi của tôi. Chắc chắn phải vậy.

Có những buổi chiều chỉ còn tôi với lòng thư viện rộng mênh mông và lặng lẽ. Trong khi bên ngoài  ánh nắng chiều đã hắt lên giàn hoa giấy từ phía trường Jeanne D’Arc và trên mặt lộ những lá ngâu, lá điệp  đuổi nhau  bay theo gió… Lúc ấy những con tính theo nỗi chán chường mà  trở thành một số zero buồn bã.

Như chiều nay, trang báo của tạp chí Time mở ra. Trân đánh Bình Giả vẫn đang tiếp diễn. Thêm một tấm hình làm đau  xót cả thế giới. Đứa bé gái  vừa chống gậy vừa khóc.  Tấm hình chụp để nhìn chứ không để nghe. Đối với kẻ không cận kề với chiến tranh, không nghe tiếng đạn bom, thì bức hình chỉ mang đến sự hãi hùng, kinh hoàng qua chiếc miệng gào khóc, qua đôi mắt tột cùng sợ hãi và đau thương. Còn tôi, tôi còn nghe cả tiếng nổ, còn thấy được thế nào là nỗi bất hạnh của những đứa bé không cha không mẹ. Em kêu mẹ, kêu ba hay là em kêu lương tâm loài người ? Rồi sau đó, em ở đâu?

Lòng tôi muốn nói, muốn chia sẻ. Tôi nghĩ đến những hình ảnh cũ, trong viện mồ côi Hòn Chồng. Một giai đoạn lịch sử đã qua, nhưng nỗi bất hạnh vẫn là bất hạnh cũ. Và tự dưng, tôi viết. Viết về một thảm kịch tuổi thơ. Nuớc mắt tuổi thơ.

Tôi không bao giờ mơ ước thành nhà văn. Nhưng chiều hôm ấy, tôi đã bỏ vào phong bì, và gởi về tòa soạn báo tạp chí Bách Khoa. Bởi lẻ nó là tạp chí độc nhất mà tôi  có thể tìm được tại thư viện Xavier này. Tôi muốn mang nước mắt ấy cho người đọc khắp nơi. Tôi xin làm một tiếng khóc  để khóc cho em bé trên trang báo này.

Và đó là định mệnh. Đó là lý do tôi có thể nói tôi xuất thân từ lò Bách Khoa.

Tôi đã may mắn chọn đúng chỗ, và đúng người.

Bởi vì, không thể ngờ, tạp chí Bách Khoa đã đi bài của tôi. Xúc động, đọc cả chục lần. Nhưng mà, những phần bôi đen thê thảm như mảng tang chế. Tôi đã viết thật, vì tôi đã thấy và đã sống ờ trong cô nhi viện, vì tôi cũng đã từng nín thở  nằm ép dưới đáy giường, phản, để tránh đạn. Tôi đã khóc tuổi thơ của tôi vì chiến tranh. Bây giờ tôi khóc cho tuổi thơ của các em tôi. Nhưng người ta đã tàn bạo đục, cắt, bôi, xóa viện cớ làm lợi cho địch.


Ba biết được. Bởi lẽ tôi dùng tên thật   Người ta mách lại ông.  Ông rầy tôi dữ dội. Ông nói cái nghề này chỉ thương mây khóc gió, nghèo mạt rệp, không có danh giá gì. Ông sợ tôi xao lãng học hành nên thi  hỏng chăng.

Sự thật, xét cho cùng, ba tôi có lý.
Đời ông đã quá khổ. Ông không muốn tôi khổ như ông. Ông muốn tôi phải đổ đạt, ra đời có bằng cấp và chức phận.

Nhưng từ cái bài văn định mệnh ấy, tôi bị chất cần sa ma túy là văn chương hành hạ. Tôi đã nếm thử, và đã bị chất độc thấm vào máu huyết.
Nó làm tôi ngất ngư. Tôi xao lãng việc học hành. Tôi bỏ qua cơ hội khi trường đại học sư phạm Huế cho phép  thu nhận những  sinh viên có chứng chỉ dự bị Toán hay Toán Lý Hóa vào thẳng năm thứ hai. Đó là dịp tốt nhất để được hoãn dịch. Và đó cũng là cơ hội tốt để kiếm một cô vợ mỹ miều xinh đẹp, khỏi cảnh “người qua nhà tôi mỗi ngày bốn bận/nón che ngang nên chẳng thấy tôi buồn” (thơ của Phan Nhự Thức).

Tôi hiểu rằng con đường văn chương là con đường đầy tai họa không phải lót hoa trải thảm.

Nó  mang đến cho gia đình và bản thân sự bất an. Vì văn chương đã dựa vào sự thật. Mà sự thật vẫn là điều tối kỵ cho một xứ sở đảng trị hay độc tài.  Cái sự thật mà tuổi trẻ của chúng tôi không thể nói lên tiếng nói, trừ tiếng hấp hối trên bãi chiến trường, trong phòng cấp cứu.

Cũng vì tôi đi vào con đường viết văn ấy, mà ba tôi rầu vì tôi không ít.. Tôi ứa nước mắt. Phải, tôi chính là con ngựa ôn dịch. Ngày trước, tôi đã gây khổ, gây buồn cho mẹ. Và bây giờ cho ba.
Tình thương của ông ngập lụt trên thân thể tôi. Ông là mẹ từ tâm. Ông là ông thánh hiền hào quang soi rọi cả cuộc đời ngỡ như tàn tạ của tôi. Ông  đã quạt cho tôi bao nhiêu đêm, hết tay phải qua tay trái, để tôi được mát. Và cả những giọt lệ tủi cực như cứng  đầy ở cuống họng không thoát ra được, vì phải sống giữa loài ngạ quỉ. Ấy vậy, tôi không lạy ông, lại bắt ông lạy tôi:

– Tao lạy mày, đừng viết nữa.

Tôi sa ngã rồi. Văn chương ơi..

Không phải riêng ba tôi  nói lạy tôi mà còn người con gái mà tôi yêu đầu đời cũng lạy tôi.

Đừng xây dựng nhân vật nữ giống như em nữa. Đừng có  nói  truyện văn chỉ là hư cấu, và nhà văn là ông vua có quyền tối thượng để hành hạ em nữa.

Trời ơi, khi tiếng thì thầm mà miệng không thể nói ra,  thì văn chương sẽ thay dùm để nói hộ dùm tim mình. Khi tôi không có ai trên đời này, mẹ cha anh em bạn hữu, thì chỉ có em làm cõi nương tựa, sao em lại trách tôi.

Em bắt tôi phải điên khùng. Em khiến cái kiêu ngạo của tên thanh niên bị lép vế, trở thành số không. Và cái tự ái của hắn càng bốc cao ngùn ngụt. Em cười cười nói nói, đọc kinh nhắm mắt dịu dàng làm sao. Em mang áo màu lam đi lễ chùa qua nhà tôi ngày rằm mồng một khiến tôi phải nín thở, trời ơi,  đến độ phải thuộc lòng câu thơ của một thi sĩ nào đó: em đi dáng mỏng như là gió, phơi tuổi vàng ta trên ngọn cây, và ghen đến cả ông trụ trì.  Em không hiểu con tim tôi  không phải là một cái máy bơm máu. Nó còn hơn thế nữa. Ðang yên ngủ bỗng nhiên một hôm nào bị đánh thức như ba hồi trống dục. Nó đòi được yêu. Tui không thể cứ nhảy hoài một điệu buồn bã như vậy. Tui phải vùng dậy, cách mạng. Tui phải đòi quyền sống. Tui phải yêu ai cứ bảo là yêu. Ghét ai cứ bảo là ghét.

Em làm sao hiểu có biết bao nhiêu trang giấy tôi đã chung thủy với một nhân vật Quỳnh không, hỡi em hiền như ma soeur ma sao tâm như là gỗ đá ?

Vâng, thì tôi sẽ vì em mà xa.

Tôi đã lỡ dại dột sa vào tình yêu, cũng như sa vào văn chương.

Nhưng tôi làm sao biết bài văn ấy là khởi đầu cho một định mệnh. Y. luôn luôn nói về bài văn này trước khi gặp tôi. Nàng cũng đã khóc. Khóc nức nở, Để những giọt lệ đã theo tôi trên khắp ngã đường lênh đênh. Từ người tình đến người chinh phụ đến người vợ tù, khuyến khích tôi viết, dồng hành với tôi suốt mười năm Vục dậy phục hồi một nền văn học bị phần thư bức tử…

Cảm tạ văn chương  vì nhò nó tôi mới biết  Bách Khoa. Và nhờ  ngôi nhà 160 Phan Đình Phùng
giúp tôi cơ duyên cho một người lính từ miền cao xuống, và  cô gái  từ đồng bằng lên, có cơ hội gặp nhau, như nhà phê bình Đặng Tiến đã nhận xét:

“Khi được tin Lê Châu mất, tôi có điện thư cho nhà văn Trần Hoài Thư, anh trả lời là đã được Lữ Quỳnh điện thoại thông báo: cả hai cùng lò Bách Khoa. Anh kể: mình là quân nhân, từ Cao Nguyên về Sài Gòn, hẹn với người yêu – vốn là độc giả hâm mộ, từ Lục Tỉnh lên – tại tòa soạn Bách Khoa, 160 Phan đình Phùng. Sau đó hai người thành vợ thành chồng.

Tôi còn giữ trong tay số Bách Khoa Thời Đại đầu năm 1968, có đăng truyện « Trên Đồi nhìn xuống » ký tên Trần Quý Sách, bên cạnh truyện Võ Phiến, Võ Hồng, Linh Bảo; và bài thơ « Một vì sao lạ » ký Trần Hoài Thư bên cạnh thơ Đoàn Thêm, Bùi Khánh Đản và thơ Đông Hồ tặng Vũ Hoàng Chương.

Trụ sở Bách Khoa là nơi hẹn và là hộp thư. Chuyện tình Trần Hoài Thư, lúc ấy còn ký Trần Quý Sách, là chính đáng, còn những quan hệ linh tinh, bay bướm của các nhà văn, nam và nữ, thì hằng hà sa số. Nhưng Lê Châu không bao giờ kể.” (1)

Tôi cần phải cảm tạ Văn chương,  Nhờ nó. tôi mới được giải thưởng cao quí nhất. Không phải giải văn học, mà chính là Y. Và chính là gia đình tôi,  – giống như mọi gia dình bình thường khác như tấm hình dưới đây:


Hình chụp gia đình tôi trong ngày tôi tốt nghiệp Master in Applied Math (Stevens Institute of technology)

______

(1) Đặng Tiến: 160 Phan Đình Phùng  Phổ biến nhiều trên Net