Cảm tạ văn chương (6)

Ngày từ biệt xóm Rộc

Ngày tôi rời khỏi Rộc, tôi vẫn còn nhớ, nhằm vào buổi sáng. Rộc trủng đầy sương sớm. Những ruộng rau bát ngát chìm trong sương. Dượng bảo mẹ nên đưa tôi đi, nhưng mẹ không chịu. Tôi ra khỏi nhà, lên dốc, cả xóm cũng chẳng biết.. Tôi chưa hề đi máy bay, nhưng hôm ấy, tôi đã đi một mình, chẳng nhờ ai hướng dẫn. Năm ấy tôi 12 tuổi. Học lớp Đệ Lục trường Cô Nhi Viện Hòn Chồng.

Tôi đi, với chiếc vali thiếc và chiếc áo chim cò. Chẳng có gì để mà lưu luyến. Ngay cả mẹ mà mẹ cũng không chịu đưa tiễn thì trên đời này  còn ai nữa mà đưa tiễn, hở Trời ? Nhưng mà không sao. Tôi đã quen, quen cái cay đắng, tủi nhục, tủi thân. Quen như quen cả những vòi máu đỏ lòm chảy tuôn lai láng. Làm kiếp người, nói như nhà Phật, đã là một nghiệp khổ. Làm người VN, sinh ra và lớn lên trong chiến tranh thù hận, thì phải khổ gấp bội. Và làm cái kiếp con riêng thì phải khổ gấp trăm ngàn lần.

Tôi đã rời xóm Rộc, đi bộ lên chỗ trạm hàng không Air Vietnam gần rạp Tân Tân. Quên nữa rồi. Tôi mang gì theo trong valy thiếc. Chai dầu nhị thiên đường mà mẹ đã bỏ vào. Và cuốn truyện Dế Mèn Phiêu Lưu Ký của Tô Hoài do cô Hồng  Ân tặng. Trang sách bằng giấy bổi, còn thấy cả cọng rơm ép trên mặt giấy.

Tôi sẽ nhớ gì. Chẳng có gì  để mà lưu luyến ở đàng sau.  Nhưng tôi sẽ nhớ đến cô Hồng Ân, đến đám trẻ trong cô nhi viện Hòn Chồng. Nhớ đến thằng Marốc, da đen tóc quắn. Nó là bạn thân. Luôn luôn dấu những thẻ kẹo cao su hay những hộp trái cây. Có khi cả quần áo nữa. Hôm nay là ngày thứ ba, có giờ Việt Văn của cô Hồng Ân. Chắc cô Hồng Ân đã cúi đầu nhắm mắt để cầu nguyện cho tôi đi đường được bình an. Và nỗi buồn của thằng Marốc khi nghe tin tôi bỏ học.

Vâng, tôi bước đi, trên những con đường  tuổi thơ hằng bước. Đây là đường số một, tới đầu Ty Thông Tin,  gặp đường Độc Lập, rẽ phải. Độ chừng một cây số nữa là trạm hàng không. Vé ba đã mua sẵn. Ngồi trên chiếc ghế chờ đợi để sau đó chiếc xe buýt mang về phi trường Nha Trang. Không ai hướng dẫn, không ai chỉ bày. Không ai đàng sau. Và cũng không biết ai ở đàng trước. Không biết ba thế nào, hình dáng ra sao,  mập hay ốm.

Không biết ông có nhận ra  con ông không. Nhưng mà thôi, chú dế mèn của xóm Rộc bắt đầu một chuyến phiêu lưu đây.

 

Người cha

 

Máy bay đáp xuống phi trường Phủ Bài vào buổi xế trưa. Nắng chói chang. Xung quanh tôi là bải cát trắng mênh mông. Trên sân bay, tôi thấy một người đàn ông mặc áo lương đen. Ông đến bên tôi, hỏi: Con có phải là Tý không. Tôi trả lời dạ. Tôi thấy đôi mắt ông long lanh nước. Bàn tay ông bóp chặt vai tôi. Ông hỏi: Con đi máy bay có bị mệt không. Tôi cố gắng hiểu âm thổ nặng của ba. Sau đó, ba dẫn tôi vào nhà khách. Tôi hơi ngượng trước chiếc áo lương đen của ông. Từ trước đến nay, tôi ít thấy người ta mặc chiếc áo này. Ông ốm, nhỏ con. Khác xa với dượng, cao ráo, đẹp người như Tây.

Như vậy, kể từ nay, tôi có cha thật sự. Người cha bằng xương bằng thịt nhưng hơi lạ lẩm ngoài sự ước đoán của tôi. Tôi cứ nghĩ là ba phải mang áo quần Tây, phải cao ráo, ít ra cũng như dượng, và phải khá giả. Vì nếu không cao ráo thì làm sao mẹ tôi lại ưng và nếu không khá giả thì ông có tiền đâu để mua vé máy bay cho tôi.

Nhưng sự thật trái ngược. Ba rất nhỏ con. Tôi đứng gần bằng ông rồi. Có lẽ tôi giống mẹ. Tôi nghe hơi thở nồng nặc phà lên mặt mũi tôi. Ông là ba tôi hay sao. Tôi tự hỏi. Tôi muốn hỏi thật nhiều điều nhưng ông im lặng quá. Đôi mắt ông đỏ. Tôi biết ông đang rớm lệ.

oOo

Nơi ba ở là một xóm nghèo mà hầu hết là những người di cư từ Quảng Bình vào năm 1954. Người ta gọi là xóm Trương Định. Lý do nó nằm bên cạnh con đường mang tên Trương Định. Hầu hết nhà đều lợp bằng tôn viện trợ Mỹ. Ba ở trọ tại nhà của một người đồng hương. Nhà nhỏ, nền đất thịt den láng, mái lợp tôn. Chũ nhà đã dành cho ba một chỗ vừa đủ kê chiếc giường ở  ngay gian giữa, gần cửa sổ. Ở cạnh giường kê chiếc rương gỗ. Và trên vách treo chiếc áo lương đen, chiếc mũ Tây và chiếc dù. Và dưới đất là đôi săn đan. Sản nghiệp của ba chỉ có bấy nhiêu.

Bỗng nhiên tôi nhớ Nha Trang quá đổi. Nhớ những cuộc vui bất tận. Nhớ những bạn nhỏ. Nhớ cô Hồng Ấn. Và nhớ cả mẹ tôi. Dù sao, ở đấy tôi không cô độc. Nhưng bây giờ, hai chân tôi trồng trụ, bên một người cha – không, một ông đồ đang bị đào thải bởi xã hội – đang thay người đàn bà làm gà trống nuôi thằng con từ lâu biệt tích..

 

Cha tôi, ông đồ

 

 

Những ngày đầu tiên ở Huế, thì quá lam lũ. Huế có những ngày mưa dầm, có những buổi trời lạnh căm căm, và gió thì cắt bầm da thịt. Và ba đã đứng ở giữa Huế, đi ở giữa Huế, chống đỡ cùng đời sống ở Huế. Vẫn chiếc áo lương đen bạc màu. Vẫn chiếc áo tơi nylon màu sậm rêu đã rách. Và vẫn chiếc dù đen. Ba đã không những chống cự cùng cơm áo mà còn chống cự cùng cái nền văn minh đang mỗi ngày một lấn áp xã hội. Nhưng nếu cơm áo đã làm ba lao đao lận đận, thì cái nền văn minh kia đã làm ba cô độc hàng vạn lần. Ở đâu người ta cũng quay mặt. Ở đâu, khói bụi, và sản phẩm của những luồng gió từ phương Tây vẫn cuốn lốc, vẫn vần vũ. Ba đã đi tìm lại những người thân chủ cũ. Mong đợi họ để ba bấm tay xem lại kinh mạch, để ba kê toa thuốc, và cuối cùng là ít tiền công. Ba cũng đã đi qua những phòng mạch bác sĩ chen chúc người. Ba nhìn người ta đang bị đầu độc bởi khói xe, dầu mỡ, nước đá, trụ sinh. Và càng đau hơn nữa, ba phải nhìn những trang giấy kinh điển, những dòng chữ hiền nhân, những suy nghĩ vạn đại từ từ bay cuốn hay vùi dập dưới bước chân người không thương tiếc. Khi ấy ba chỉ biết cúi đầu, lưng khom xuống, và lượm và nhặt. Khi ấy ba buồn bã nhìn về phía Đại Nội, trường Quốc Tử Giám, nơi mà ngày xưa ba đã từng học những dòng chữ của thánh hiền. Huế vào những ngày đầu tiên, mây thì màu chì, và sũng nước. Những con quạ đen in bóng trên thành quách cũ, từ Thượng Tứ qua Đông Ba. Huế vào những ngày đầu tiên, đêm thấp thoáng những ngọn đèn lu mờ giữa dòng sông Hương, và tiếng hò Nam Ai thỉnh thoảng cất lên ủ dột. Huế, học trò Đồng Khánh, Quốc Học, bãi học qua cầu như cả một đàn bướm. Huế có đài phát thanh bên cầu, còn nghe âm vang tiếng đôi song ca Ngọc Cẩm và Nguyễ­n hữu Thiết. Huế có tiếng rao hàng rong não nuột trong bóng tối âm u từ đường Trương Định về Hàng Đoát. Và Huế có một mình ba, đứng lại, còn lại một mình. Nhưng ba không bao giờ chịu làm kẻ thua cuộc. Ba vẫn mặc chiếc áo lương đen, mang chiếc dù đen, chiếc áo tơi màu rêu sậm, và đi bộ, đi mãi, đi miết. Từ Morin về Đập Đá. Từ Morin lên Phủ Cam. Từ Morin qua cầu Trường Tiền, qua Đông Ba, Thượng Tứ, vào Hồ Tịnh Tâm, ngược lên Bến Ngự. Dáng ba nhỏ, gầy. Hai chân ba khẳng khiu, vai hơi khom xuống. Đôi khi một chiếc xe phóng qua vũng nước, và cả người ba bị nước bắn tung tóe. Đôi khi những con chó hung dữ sẵn sàng nhảy bổ vào người ba, nếu không nhờ cây dù bên người, chắc ba sẽ phải bỏ cuộc. Rồi ba trở về cùng con. Mái nhà tôn nào bên đường Trương Định, nền nhà đất thịt, chiếc giường tre nương tựa cơ hàn. Những đêm mùa đông năm ấy, Huế trở trời, lạnh căm căm da thịt. Vì lạ lẫm, và vì hơi lạnh buốt bốc lên từ nền đất, thấm qua tấm chiếu, qua cả chiếc mền dạ nhà binh, khiến tôi không thể nào ngủ được. Và ba cũng vậy, nằm bên tôi, mắt mở. Chúng ta đã không thể tưởng tượng có một ngày ba phải nương thân tại nhà của một người khác, trong khi ở quê nhà, ba có cả ngôi nhà gạch khang trang, có nền xi măng, giường rộng, chiếu hoa. Chắc ông không thể tưởng tượng một ngày ông dẫn đứa con của ông đi tìm quán ăn nghèo nàn bên chợ Đông Ba, để nghe mệ chủ quán bĩu môi nói trắng trợn: Quán tôi dơ bẩn, ông nên tìm chỗ khác, chỉ vì ông cẩn thận lấy tờ giấy mang trong mình lau đôi đũa, cái chén. Mắt ông đã mở trong đêm, nhìn lên chiếc mùng, hay đang trở về cùng quá khứ. ông, tôi biết, lệ thầm ấy là quá khứ. Và với tôi, lệ thầm ấy là mền không đủ ấm, là khoảng đêm dày dặc, là gió bên ngoài hú từng cơn, đập vào mái tôn kêu âm ỉ, là cả thân thể co rúm lại trước cái lạnh bốc xuống từ mái tôn, bốc lên từ đất…Phải, với ba, lệ thầm ấy là quá khứ. Con người ba đã nặng trĩu quá khứ. Ngay ở hiện tại này, ba cũng là ngọn đèn của quá khứ.

Với một mẫu người như thế, làm sao ba và mẹ sống chung nhau đươc, trong khi mẹ thi ảnh hưởng của Tây học còn ba thì hấp thụ nặng Nho phong ?  Có lần tôi nghĩ thế để tìm câu trả lời.

Ngày xưa, mỗi lần ba ngủ không được, ba vẫn trở dậy pha trà và đọc sách thánh hiền, hay ngâm những vần thơ cổ. Bây giờ không ai cho phép ba trở dậy, để ngồi độc ẩm cùng bóng đêm. Người ta đang ngủ. Nếu có thức chăng là những hồn ma từ những thành quách rêu rong. Chúng thức để mà khóc cho một thời đại. Nhưng dù sao, chúng vẫn là hồn ma. Còn ba, ba lại là con người thật. So với chúng, ai khổ hơn ai? Vâng, ai khổ hơn ai. Dù sao những hồn ma kia cũng vẫn còn bầu bạn. Còn ba, một người còn sót lại cuối cùng, quá chừng lẻ loi, và cô độc. Nếu có bạn chăng là con quạ đen trên nhánh cây phượng gầy bên Thành Nội hay tiếng dế khóc than dưới mấy tầng gạch cổ.

Từ một xóm nghèo bên Morin, ba lại dẫn tôi đi nương nhờ tại Đập Đá, rồi qua Bến Ngự, rồi về Phủ Cam, rồi qua Thành Nội. Cơm áo cuối cùng cũng xong. Những bà chủ nhà nghiệt ngã cuối cùng cũng xong. Những dốc lên dốc xuống cuối cùng cũng xong. Những ngày hừng hực nóng và những đêm buốt tận xương tủy cuối cùng cũng xong. Dòng sông Hương vẫn xanh lơ. Đêm Nam Ai, Nam Bình vẫn bềnh bồng trên những chuyến đò côi cút. Người di cư bắt đầu hòa nhập vào cuộc sống mới. Ông Bá đã trở thành một người thân tín của chế độ, và được giao một nhiệm vụ cao cấp của đảng chính quyền. Anh Trinh được lên Trung sĩ nhất. Bác Cấn được phong trung sĩ nhất hậu cần. Ông Phán lên làm Phó Tỉnh trưởng hành chánh. Bây giờ những người di cư mới tìm lại ba như ngày xưa họ đã tìm đến. Thân chủ của ba đã không còn bao gồm trong thành phố Huế mà đã được bung ra đến Đà Nẵng, Hội An. Người ta cuối cùng đã tìm đến một vị thầy sau bao năm ngoảnh mặt. Và trong lòng chiếc xe hàng Phi Long, Tiến Lực màu vàng da cam ấy, ba vượt đèo Hải Vân, xuống bến xe, và lại đi bộ, đi hoài đi mãi. Áo lương đen, chiếc mũ dạ, chiếc dù đen. Và cái túi áo mỗi lúc mỗi đầy những trang giấy thánh hiền. Phố lầu cao che mái ra bờ lề, bóng ba lẻ loi giữa chợ người. Ngày mưa cũng như ngày nắng. Ngày lạnh căm căm cũng như ngày lửa oi nồng, một mình ba đông tây nam bắc, bước tới, đi tới. Để làm gì. Hai trăm đồng học phí một tháng cho lớp Đệ Ngũ của trường Việt Hương. Ba trăm đồng học phí cho lớp Đệ Tứ của trường Bán Công, để tôi tiếp tục đến trường. Và đêm đêm, ba ngồi viết hàng trăm verbe qui tắc hay bất qui tắc, những demander à hay demander pour, thành ngữ, văn phạm trên cuốn sổ tay bìa đỏ để dạy tôi. Ba hãnh diện nhắc lại ngày ba cứu dân làng thoát khỏi lần bố ráp của Tây bởi vì ba là người nói và viết được tiếng Pháp. “Ông quan ba đọc xong thơ của ba, bèn kêu ba tới và bắt tay kêu ba là monsieur”. Ba nói về cuốn tự điển Larousse dày cả ngàn trang mà ba thuộc lòng. Người ta thường nói về một người mẹ như một hình ảnh yêu quí nhất, dịu hiền nhất, nhưng với ông, cho tôi được ngừng lại một giây, một phút, để cho nước mắt cứ tuôn, để đôi mắt mờ nhạt, để hiểu rằng tôi được tự hào có một người cha còn tuyệt vời hơn cả vạn lần một người mẹ nữa. Có lần tôi thấy con gà trống dẫn đàn con đi kiếm mồi, con vật sao cô đơn quá. Nó có mồng, cựa, bộ lông sặc sở, uy dũng hiên ngang làm sao, thế mà cứ mỗi lần tìm được mồi, nó lại kêu tục tục, gọi đàn con đến… Cũng như ba. Tục tục hoài. Hết tay này quạt lại đến tay kia quạt trong những đêm mùa hè dưới mái nhà tôn. Chiếc mền đắp lại trên người tôi, trong đêm giá buốt. Và đôi khi, giữa đêm, tôi còn nghe tiếng ba nằm mơ. Ú ớ. Một ác mộng cũng nên. Tại sao ba không bao giờ kể cho tôi nghe về cái ác mộng ấy để tôi hiểu thế nào là lịch sử, những biến cố của đất nước hay cái thảm kịch của chính ba?

Phải, ba đã giấu tôi. Nhưng ba không thể giấu nỗi những tiếng mớ u uẩn trong đêm. Rằng, nỗi buồn câm nín mà ba mang theo trên hai vai gầy guộc của một ông đồ, một người đàn ông, một người cha hẩm hiu đã trở thành tiếng ú ớ buồn thảm.

Cuối cùng, ba vẫn là người để người ta tìm đến, sau khi bệnh tình của họ, và người thân, bác sĩ đã bó tay. Vợ họ hiếm muộn con cái. Con trai họ mộng tinh di tinh trầm trọng. Có người bị mất ngủ kinh niên. Và mỗi lần kê toa thuốc xong, ba không bao giờ quên một câu dặn dò: Nhớ là đừng bao giờ dùng nước đá. Nước đá hàn, uống vào sẽ hại không ít thì nhiều. Ba đã dặn bệnh nhân của ba như vậy là vì lương tâm của vị thầy thuốc hay là vì cái nền văn minh kỹ thuật đang cuốn lốc mọi thứ cổ truyền mà ba tìm cách chối bỏ? Với con, cả hai. Ba vui mừng khi thấy con bệnh mà ba chữa trị đã bình phục, nhưng ba đau khổ không ít khi nhìn cốc nước đá lạnh mà người ta đã mời ba. Ba đã cố giải thích với họ về một nền văn minh chết người, đang tìm cách làm hủy diệt loài người. Tại sao những người xưa sống lâu cả trăm tuổi? Tại sao người ta mắc bệnh tâm thần ngày càng nhiều. Thuốc trụ sinh là gì chẳng qua là nấm? Và cả bao nhiêu loại thuốc men khác cũng bắt nguồn từ cây cỏ? Đôi khi gặp một vài người tri kỷ, ba lại nói về cái độc hại và phá sản của một nền văn hóa ngoại lai. Nó làm băng hoại gia đình và xã hội. Ba trách thế hệ trẻ tuổi sa đọa, quên hết cội nguồn, thương mây khóc gió, không còn biết trọng thánh hiền. Nhưng ba không biết, tôi đang ở trong thế hệ trẻ tuổi mà ba đã kết án. Ba không biết tuổi trẻ của tôi đang nổi loạn. Tuổi trẻ của tôi đầy những xâu xé, giành giựt, bị hành hạ bởi ý thức. Qua sách vở tôi đọc, qua lịch sử mà tôi đã sống và lớn lên để thừa hưởng, qua xứ Huế mà tôi đã cô đơn, qua cha mẹ phân ly, qua tình yêu mà tôi  đã vấp phải, qua mấy bức tường thành mà tôi bị giam hãm. Ý thức đẩy tôi xa ba, và càng xa, ba càng buồn vì tôi hơn ai hết. Ba muốn tôi lập thân, có nghĩa là đậu bằng cấp, có chức vụ để người đời trọng nể­. Nhưng tôi thì lại khác, ngồi trong thư viện, đọc trang sách của Sartre mà lạc loài, mà hư vô, mà nôn mửa. Đời là gì. Chiến tranh ở đâu đó, trên những trang nhật báo mỗi ngày. Tôi đọc Tội ác và Hình Phạt mà tìm hình bóng qua người trẻ tuổi. Tại sao? Đầu óc tôi muốn nổ bùng. Tôi lê dép Nhật, để tóc dài, như thách đố cùng Huế, cùng xã hội. Tôi bỏ lại sách vở, bằng cấp ở phía sau, để coi đời là áng mây trắng. Tôi đuổi theo áng mây ảo tưởng. Tôi coi đời là cuộc chơi. Chẳng cần thắc mắc. Khi người ta bắn tôi, viên đạn phá toạt da thịt tôi, những mảnh lựu đạn cắm sâu trong thân thể tôi, tôi vẫn nhìn lên bầu trời, không oán trách, giận hờn hay đổ tội. Rồi ở đâu, trong cõi này, những áng mây sẽ dịu dàng đậu lại, nương nhờ nhau, che chở nhau. Rồi ở đâu, cũng có ngày người Nam ôm kẻ Bắc, người Bắc ôm kẻ Nam…

(Còn tiếp)