Cảm tạ văn chương (4)

Cô nhi viện Hòn Chồng: Ai buồn hơn ai

 

Năm 1954 tôi đậu Tiểu học. Tôi được những bạn hàng của chợ Đầm hết người này vuốt tóc, lại rờ đầu, khen tôi học giỏi. Thời ấy thi tiểu học phải trải qua hai kỳ. Thi viết xong rồi thi vấn đáp. Nói là vấn đáp cho oai chứ đám choai choai như chúng tôi biết gì để trả lời. Thầy giám khảo chỉ hỏi chọn hát hay học thuộc lòng. Tôi chọn bài Anh hùng vô danh. Hình như cả lớp tôi đậu hết. Nhưng tôi lại hỏng kỳ khi vào lớp Đệ Thất trường công lập Võ Tánh. Giữa lúc tuyệt vọng, vì không có tiền để gởi tôi đến trường tư thì mẹ tôi nghe tại trường Cô Nhi Viện Hòn Chồng có mở lớp Đệ Thất miễn phí. Mẹ dẫn tôi đến xin được học. Không ngờ trường nhận tôi dễ dàng. Có lẽ vì  số đơn quá ít, nếu không nói, chỉ có một mình tôi mà thôi.

Bởi không có bậc cha mẹ nào dám để cho con họ phải lội bộ đi đi về vể mỗi ngày 10 cây số từ Nha Trang ra Hòn Chồng , trên con quốc lộ một thỉnh thoảng chỉ có những chiếc xe ngựa đưa khách.

Bây giờ tôi đã 11 tuổi. Hai chân tôi đã vững vàng để  mỗi ngày đi đi về về  trên mươi cây số, với cà men cơm và thức ăn gồm khô hay rau muống xào tỏi. Sang lắm mẹ phụ thêm trứng gà luộc dầm nước mắm, hay trứng gà chiên. Tôi đi học, qua cầu Hà Ra, Xóm Bóng, Tháp Bà, và ra tận Hòn Chồng. Qua hai nhánh sông, màu xanh mênh mông, qua những đầm lau lách, thấy cả bóng của mình bên cạnh những chú cá trắng như nằm ngủ hay say nắng dưới cầu. Thấy cả  mây theo tôi mà đi. Thấy cả những con chim sáo từ rừng về đậu trên những nhánh cây trên Tháp Bà. Tôi đi học, chưa bao giờ được diểm phúc có người thân dẫn đi, mà đôi chân  tự tìm mà bước. Ôi Nha Trang, mỗi ngày tôi thấy nó, chiếc cầu dài bắt ngang qua Hà Ra, để sông để nước mời mọc, để những chú cá sơn dưới chân cầu, để đàng sau, chùa Sinh Trung vươn lên cao, như chỗ ngụ của loài chim thần linh, và để trước mặt, tháp Bà u trầm nhìn xuống cửa biển. Tôi đi học, đôi chân chạy theo những chiếc xe ngựa từ thành phố ra Xóm Bóng, bất kể những trận roi tàn bạo từ người xà ích. Cứ phóng lên bàn đạp, đu theo xe, và ở  đằng trước, gã xà ích vừa quất roi vào mông ngựa, vừa quất trở lại phía sau. Tôi nhắm mắt nhắm mũi chịu đòn. Thì tôi chính là con ngựa con. Con ngựa ôn dịch từ lâu rồi mà.

Đấy, tôi đi học là thế. Cám ơn mẹ, ít ra bà cũng đã gởi tôi đến trường. Cám ơn về việc thi rớt  đệ thất này, để tôi càng mở rộng buồng phổi hít lấy cả mùi mặn của biển khi phải qua hai cầu Hà Ra và Xóm Bóng. Nghe như cả mùi thơm ngây ngây của loài hoa dúi dẽ ở ngọn dồi trước cổng cô nhi viện. Mỗi ngày là một ngày vui. Tôi chẳng khác con chim sổ lồng bay khắp bầu trời cao rộng no nê. Ít ra tôi cũng bỏ đàng sau một nơi đầy bóng tối ảm đạm. Bây giờ mắt tôi đầy mây, đầy mặt trời, đầy màu xanh của biển nước. Tai tôi nghe đầy tiếng lục lạc của chiếc xe ngựa qua cầu. Và Tháp Bà nữa. Những con chim ngụ trên ấy phải là chim thần linh. Và những tầng gạch màu hỏa hoàng keo sơn gắn chặc nhau, không phải là những tầng gạch thường tình, mà toát ra vẽ thiêng liêng. Tôi  không dám đuổi theo những con chim cu, chim sáo, chèo bẻo  trên những cành cổ thụ nữa. Tôi nghĩ chúng cũng là con vật thần linh. Có lần tôi đã đứng trước cửa tháp nhìn vào trong, thấy nhang đèn khói hương nghi ngút, thấy những pho tượng thật lạ lẩm  uy nghi. Tôi chấp tay, van lớn: Xin Bà che chở cho mẹ con, cứu thoát mẹ con khỏi cảnh khổ. Có buổi, tôi mang cà men cơm, ngồi trên bậc thềm dưới  tháp, ăn trưa. Có buổi tôi quanh quẩn ở Tháp Bà chờ chiếc xe ngựa bắt đầu cất bánh rồi xin đi nhờ về lại Nha Trang…

Đấy, những ngày của tuổi thơ tôi đã được dệt, không phài là đám mây hồng, đám mây xanh, như hầu hết những đứa học trò trên quả địa cầu này. Trái lại, là những đám mây lẽ loi, theo tôi đi bộ từ Rộc qua hai cầu Hà Ra và Xóm Bóng, nghỉ tạm dưới Tháp Bà, và nhìn bóng Tháp mà cầu khẩn để nỗi buồn vơi đi. Bà ở trên đấy chắc phải nghe. Tôi nghĩ vậy. Vì nếu không, thì tại sao thiên hạ lại đổ xô đến để cúng bái, nhang đèn?


Cầu Xóm bóng (1957) (hình từ Net)

Vâng, thì tôi đi học. Nhưng thật ra, đi để mà đi. Chẳng ai kiểm soát, chẳng học bạ, chẳng lời phê. Bỏ giờ học thì cũng chả sao. Có lẽ trường chỉ chú trọng đến các đứa học trò cô nhi mà thôi. Còn tôi chỉ là đứa học trò ngoài cuộc, đến để mà dự thính thôi.

Nói là trường nhưng chỉ có một dãy gồm 3 phòng, có lẽ. Năm tôi học, trường mới vừa lập, phòng ốc mới vừa xây xong, những cây phượng mới bắt đầu trồng. Chung quanh toàn là bãi trống. Văn phòng của trường là văn phòng của Viện. Nơi này là một ngôi nhà lớn, được dùng làm nơi trú ngụ của gia đình ông mục sư viện trưởng viện mồ côi. Tại đây, có đàn dương cầm, có tủ sách thư viện.

Tôi đi học.Tôi đã đến một nơi để hiểu rõ hơn về thân phận của những đứa bé mồ côi và những nỗi buồn của chúng. Chúng tôi được dạy Thần Học hay Giáo lý bởi vị mục sư, Anh văn bởi một giáo sĩ Gia Nã Đại, Việt văn bởi cô Hồng Ân, và Toán Lý Hóa bởi thầy Tân. Nơi ấy đầy ngập những lời ca và tiếng hát qua những bài thánh ca cùng những lời cầu nguyện. Làm gì cũng cầu nguyện. Làm gì cũng thánh ca. Cầu nguyện khi bắt đầu mỗi buổi học. Cầu nguyện bắt đầu giờ ăn, bắt đầu giờ ngủ.

Mỗi buổi sáng, chúng tôi phải tụ họp tại sân trường để cùng đồng ca bài  hát của trường do cô Hồng Ân mượn nhạc từ bài thánh ca để chuyển sang lời Việt. Tôi không nhớ tên bài hát, nhưng nhớ những lời  như: “Trường yêu dấu, chốn biển núi, bên đồi xanh.” và lời cuối là..”Học sinh hỡi Bết Lê Hem. Tại nơi này bao ý thơ đang nở hoa…”

Cô Hồng Ân đã đưa cái cảnh hùng vĩ của thiên nhiên trời đất vào bài hát, quả thật đúng vô cùng.

Thật vậy, đây là nơi biển và núi tiếp cận nhau. Ngay đối diện cổng vào cũng là một đồi thấp. Và rất gần, như ở phía đất liền là núi sừng sửng in ngọn trong mây. Bên cạnh  viện là một trại binh. Trại binh lúc nào cũng nghe tiếng còi và tiếng kèn vang vọng. Có lúc tôi say mê nhìn những người lính đang tập luyện võ Judo. Một người nắm áo người kia và tức tốc quay lưng, kéo người kia trên vai rồi vật xuống đất. Có khi tôi và một thằng bạn học thầm lén rũ nhau ra cuối sân và tập lại động tác.

Có khi tôi tìm đến Hòn Chồng để cạy hào hay tắm lội. Có khi tôi hồi hộp rình mò những chú chim cu, chim sáo, với cái ná thun trong tay. Sách vở làm gối gối đầu, tôi hay đánh giấc giữa buổi trưa nắng cháy, dưới tàn cây mát. Tôi đã lợi dụng việc đi học xa để lêu lổng hơn, hoang đàng hơn. Da tôi nám đen hơn. Và tóc tôi đã cháy khét hơn.

 

Những mảng nắng đã không chảy trên những đứa bạn cùng lớp. Chúng như những chú chim được nhốt trong lồng son. Quần áo, tặng phẩm, ngay cả thức ăn thức uống được tiếp trợ ê hề bời các cơ quan bác ái thiện nguyện. Nhưng tôi biết có đứa vẫn thèm được bay nhảy như tôi. Bằng chứng  thằng Thừa đã năn nỉ xin tôi một con dế lửa mà tôi rất nưng niu. Chú dế có đôi càng thật bự, chiếc đầu láng bóng, mỗi lần gặp đối thủ thì đôi cánh phồng lên, hung hăng nhào đến tấn công. Và vì hắn quá thích chú dế nên để ngay ở chỗ đầu giường. Báo hại nửa đêm chú dế nhà ta gáy lên inh ỏi, khiến chị phụ trách phải tập họp cả phòng để khiển trách…

Như vậy, giữa tôi với hắn, dĩ nhiên là tôi sung sướng hơn nhiều. Tôi không phải mang bộ đồng phục, cũng không phải sắp hàng hoặc phải tuân theo giờ giấc khi ăn khi ngủ. Ôi  những con chim đáng lẽ có một bầu trời cao rộng mà tung bay, nay đang bị thúc thủ tội nghiệp. Những tiếng dế gáy ngoài sân khi thì lớn khi thì nhỏ, chắc chắn phải quỵến rủ bất cứ một đứa trẻ nào. Những chùm trái dzúi dzẻ vàng ngậy, ngọt lịm làm sao cũng đang chờ chúng tôi. Và những con còng đỏ ở đầm lầy trên quảng đường Hà Ra Xóm Bóng cũng đầy sức hấp dẫn lạ thường. Trong bốn bức tường không hiểu chúng có niềm vui khác hay không trừ suốt ngày phải nhắm mắt cầu nguyện và hát thánh ca.

(trường trung học cô nhi viện Bết Lê Hem, Hòn Chồng Nha Trang) (hình từ Net)
(Còn tiếp)