Cảm tạ văn chương (1) (hồi ức của THT)

Lời tác giả: Kể từ hôm nay, chúng tôi khởi post hồi  ức Cảm tạ văn chương. Hồi ức sẽ post nhiều kỳ, Bắt đầu là Tuổi thơ (THT). 

Bóng tối và ánh sáng

Tuổi thơ của tôi lớn lên, từ một gia đình chẳng ruột rà, từ một quê hương chẳng bao giờ biết được dấu vết, từ một đất nước loạn lạc nhiểu nhương. Thành phố vào những năm cuối thập niên 40 và  đầu của thập niên 50, chiến tranh ngày một cận kề vòng đai. Từ đồn binh  ở vòng đai phía con sông Cái, đêm nào tiếng nổ nghe rất gần như ở bên kia bờ sông. Thỉnh thoảng vào buổi sáng, người đi đường phát giác một thi thể nằm chết bên đường, kèm theo bản án. Và có đêm, cả nhà phải chui xuống giường, xuống dưới phản vì  từ đồn binh, súng nả xuống xóm như mưa. Có thể nói xóm Rộc là mục tiêu để hứng những trận mưa đạn mỗi khi đám lính ở đồn nghi ngờ có quân kháng chiến ẩn núp. Có khi đường đạn nghe rít rất gần.  Để sáng ra lỗ đạn chi chít trên vách nhà. Có khi giữa lòng đêm, tôi nghe những bước chân chạy rầm rập. Đó là những người bên kia sông. Có lẽ họ vừa đánh đồn, và rút đi. Thỉnh thoảng lính trên đồn tung xuống xóm và những vùng phụ cận những cuộc bố ráp, sau đó tập trung người ở khu đất cạnh đồn để thanh lọc. Trong khi ấy, đêm đêm ngọn đèn pha từ đồn cứ tiếp tục quét bóng tối, hay ngừng lại dưới  Rộc. Con mắt ác thú ấy đã khiến đám trẻ không còn dám ra ngoài đêm  để chơi trò bắn súng đạp lon nữa.

Rõ ràng, người dân trong xóm phải sống trong nỗi đe dọa thường trực.

Không biết tại sao mà bác lại định cư tại xóm này. Nó chỉ là một cái trủng lớn, nằm bên quốc lộ 1.  Đặc biệt rộc chỉ trồng toàn rau muống. Rau muống suốt năm. Khi đứng trên đường nhìn xuống, ta chỉ thấy một vùng rau muống xanh bá ngát trải dài từ xóm dưới đến xóm trên. Với những ô ruộng vuông vắn. Chiều chiều những chiếc gàu nan, gàu sòng tưới nước, những tia nước rót xuống, đan nhau thành hình vòng cung, rải đều khắp thửa ruộng. Dưới ánh nắng hoàng hôn, những tia nước lóng lánh trông hết sức đẹp mắt.

Chỉ có ban đêm, theo gió, mùi thúi nồng nặc của nước phân chuồng tưới rau bay về. Nhưng riết rồi cũng quen.

Thời ấy làm gì có phân hóa học.

Đặc biệt vào mùa hè là cả một thinh không vang lừng tiếng dế. Dế rất thích rau non nên qui tụ về đây rất nhiều. Có điều bọn trẻ chúng tôi phải chịu thua, vì không đứa nào dám dẫm trên rau để dò xem chỗ ẩn trú của dế. Chỉ khi ruộng cắt xong, chờ một mùa rau mới, thì đó là dịp để chúng tôi tha hồ. Chúng tôi đổ nước vào những hang nghi ngờ hay vạch những gốc rau. Thế nào cũng có một vài chú xuất đầu lộ diện.

Vì là một trủng thấp so với mặt đường nên cứ sau vài cơn mưa lớn, Rộc lại bị ngập nước mênh mông. Lụt lội quá quen thuộc, và là một dịp để đám trẻ tha hồ vùng vẫy. Có khi nước dâng rất mau, khi ngủ nước chưa vào nhà, đến khi thức thì nước dẵ dâng lên  tận mép giường.

Dù là dân Rộc, tuy nhiên dượng không sống bằng nghề trồng rau muống. Nghe nói ngôi nhà mà chúng tôi đang ngụ cũng không phải là của bác nữa. Mà của một gia đình đã tản cư chưa về. Khác với các gia đình dưới rộc, nhà dượng có xe riêng. Chiếc xe của thời xa xưa mà ta thường thấy trên phim vua hề Charlot thủ diển. Điều này chứng tỏ là bác thuộc thành phần khá giả. Trước khi mẹ gặp bác, tôi nghe nói là bác mở tiệm phở. Sau này bác làm nghề thầu xây cất nhà cửa. Chuyện này là chuyện của người lớn. Tôi chỉ nghe nói lại. Hơn nữa, trong gia đình ấy, tôi không phải là một phần tử, thì cần gì mà để ý. Tôi cũng chẳng cần thắc mắc tại sao tôi lại bị buộc gọi tiếng « bác » thay vì tiếng « dượng » khi mà bác là cha ghẻ của tôi.

Từ thất bại này đến thất bại khác làm bác sa sút thấy rõ. Từ đấy bác buồn tình uống rượu.

Không ai có thể giúp bác. Trừ mẹ. Nghĩ lại chưa bao giờ tôi thấy mẹ  hy sinh cho bác như lúc này. Bác cần vốn cho một cuộc làm ăn mới, thì mẹ chạy đôn chạy đáo, hốt hụi kiếm tiền. Rồi sau đó, cuộc làm ăn lại thất bại, lại thêm một lần nữa, mẹ bị thiên hạ nguyền rũa. Làm sao tôi có thể quên được những lần mẹ sai tôi đi đòi tiền hụi. Có lần tôi đến vào bửa cơm tối,  nói: mẹ con bảo con đến lấy tiền đóng hụi. Chưa nói hết câu, người chồng trừng mắt, rồi quăng chén cơm xuống đất: Cút đi thằng con hoang, bộ hết lúc, lại lựa vào lúc tao đang ăn cơm…Tôi lại lủi thủi về lại nhà, báo lại mẹ. Cái cảnh đòi nợ hụi đã làm tôi chịu đựng cùng nỗi tủi nhục vô bờ. Nhưng tôi biết mẹ cần tiền, Tiền là tất cả. Gắng cắn răng, gắng đừng khóc để mang những tờ giấy bạc về nhà, để mẹ đưa cho dượng, hay  nuôi các miệng ăn. Ít khi những người chơi hụi trả liền. Họ khất, họ hẹn. Họ làm khó dễ. Và tôi như một kẻ đến gieo tai họa cho họ. Ngoài tôi ra, mẹ biết nhờ ai. Riết rồi cũng chai lì. Bất hạnh này đến bất hạnh khác, nếu không chai lì thì chỉ còn cách là gục xuống để thiên hạ đạp lên.

Cuối cùng, mẹ bỏ đứa con còn bé cho tôi giữ, lao vào con đường buôn gánh bán bưng. Mẹ già thấy rõ. Đôi vai giờ gánh khối nặng của một cái nghiệp hẩm hiu đến muốn khóc. Vì sao ? Chắc là vì quá yêu dượng. Tôi biết vậy vì không ngày nào, mẹ đưa tiền cho tôi để tôi xuống chợ Đầm mua một lít rượu trắng. Mẹ bận nên ít để ý đến tôi hơn. Ngày thì ở chợ, đi rão khắp các khu, mua hột gà, chuối, thanh long từ các người ở dưới quê lên rồi bán lại. Nhất là hột gà. Mẹ có mối giao cho một nhà hàng Tây ở  cạnh bờ biển. Vì cam kết phải giao đúng hạn và đầy đủ  số lượng, nên mẹ càng vất vả hơn bao giờ. Làm sao mà có đủ trứng cho nhà hàng mỗi ngày? Mẹ phải rảo khắp chợ, hay về vùng xa, tìm trứng. Và đêm về, mẹ phải dùng chanh đánh bóng từng quả một. Để võ láng bóng, có thể quyến dụ người mua  dễ dàng hơn. Mẹ nói thế. Những quả hư, vữa hay lộn, mẹ đều dành cho tôi. Như là phần thưởng. Riêng những nải chuối còn xanh, mẹ bỏ chúng vào trong hủ gạo, đốt nhang để võ chuối mau vàng. Và khi gà vừa gáy, mẹ thức dậy. Bóng mẹ in trên vách. Mẹ xếp những nải chuối vào hai thúng. Và bỏ trứng gà vào chiếc giỏ mây. Đó là phần việc mà mẹ giao phó cho tôi. Tôi sẽ mang nó tại nhà bếp của nhà hàng Tây dưới biển.

Sau đó, tôi bị đánh thức dậy, lấy bài học. Thỉnh thoảng mẹ dạy tôi vài ba tiếng Pháp như le chien là con chó le chat con mèo, la maison cái nhà… Mẹ biết nhiều tiếng Pháp. Mẹ nói giọng như bà đầm mà tôi vẫn hay gặp ở nhà hàng. Tôi không thể ngờ một người đàn bà mỗi ngày gánh chiếc đòn gánh với hai thúng trái cây nặng trĩu như vậy lại có một số vốn về chữ nghĩa như thế.  (sau này tôi được biết mẹ có bằng Primaire gì đó)

Mẹ dậy rất sớm. Thường ở ngoài trời vẫn còn tối đen như mực. Cả nhà vẫn còn chìm trong giấc ngủ. Mẹ kêu tôi dậy học bài. Rồi bà thổi lửa, nấu nước sôi đổ vào bình thủy để dượng uống trà. Sau đó, mẹ chiên cơm nguội, dành cho tôi một bát. Ngọn lửa cháy, củi reo lách tách, vui tai. Trong chái nhà nhỏ hẹp, chỉ có hai mẹ con. Tôi thì ê a. Mẹ thì tiếp tục chuẩn bị cho phiên chợ sớm. Mẹ ốm, răng nhuộm đen, tóc đen lắm. Có điều, trong đôi mắt kia, tôi thấy cả một bể lệ, khi mẹ nhìn đâu đâu. Những lúc như thế, tôi và mẹ trở nên gần gũi nhau. Mẹ hay vạch áo tôi, xem những vết roi bầm và thêm một lần lấy dầu xoa, và luôn luôn dặn: Con người ta là con vàng con ngọc. Con đừng chọc chúng. Thấy con đau mẹ cũng khổ lắm.  Tôi phân trần: Tại chúng cứ chọc con là đứa con không cha. Chúng nói con là con hoang nữa…

Sau đó mẹ lao vào bóng đêm về sáng.   Có khi đôi thúng mẹ gánh đi trước, tôi mang một bị giỏ lẻo đẻo theo sau. Đàng sau mẹ là  ngôi nhà vẫn đang chìm trong giấc ngủ. Chiếc hồ bốc sương, nước đục ngầu bởi trăm ngàn thứ dơ bẩn trút xuống. Vì là trủng, nên sương bốc lên, dày dặc. Con  đường quốc lộ một đầu chạy ra cầu Hà Ra, một đầu dẫn về trường Tàu. Phía bên kia đường, cũng là một trủng rau muống, nhưng nhỏ hơn. Chính trủng này tôi vẫn men theo con đường ruộng để đế trường. Khi qua bến xe ngựa gần trường Tàu, mẹ thường hay nhìn, ngẩn ngơ. (Sau này tôi mới biết là trước đó, mẹ khá giả lắm, có nuôi cả một đàn ngựa để kéo xe ) Mẹ đến chợ, tìm một chỗ quen thuộc ngoài trời, dành cho khu bán trái cây. Trong lồng chợ thường là chỗ để bán tạp hóa vải vóc. Sau đó, mẹ bảo tôi ngồi giữ chỗ, để bà đi rão khắp chợ tìm mua đi bán lại  những hột gà, chuối, mảng cầu, thơm từ các người từ dưới quê lên. Trong thời gian chờ bà trở lại, tôi vẫn thường lấy bài ôn lại lần chót.

Sau đó mẹ trở về, tôi mới bắt đầu đi đến trường .

Ở chợ, tôi càng hiểu thế nào là những giọt mồ hôi gian khổ của mẹ. Đó là nỗi đau thật, nỗi đau làm bà mau già, làm phận bà hạ xuống, trước bao kẻ mua người bán giữa chợ đời. Người ta trả giá, chê bai, nhún vai, lắc đầu. Có khi ế ẩm, những nải chuối mốc chuối xiêm, hay những trái bưởi, thanh long, thơm vẫn còn nằm ngủ buồn hiu, thì nỗi đau lại càng tê tái. Tiền bạc bỏ ra, mà chẳng thu lại vốn. Và thêm một lần nữa, chính tôi  là kẻ phụ trợ bà để giải quyết những đồ ế ẩm này. Chuối ế lại luộc. Bưởi hay thơm ế lại được xẻ ra. Thêm chén muối ớt. Thêm những miếng lá chuối. Và  thằng con riêng của bà lại thêm một lần được bà kêu mang rỗ rão khắp nơi trong thành phố. Từ bến xe, đến sân vận động, rạp hát. Tôi phải giành khách cùng với những tay bán hàng khôn lanh già dặn khác. Thường thường vào dịp có đá banh hay hội chợ, là cơ hội tôi hốt được nhiều tiền.Trái lại, lúc mưa hay trời lạnh, thì ế ẩm quá chừng. Có nghĩa là phần này mẹ cho tôi hay các em tôi thanh toán.

Đó, cái lai lịch nguồn gốc của tôi là thế. Cám ơn đời, vì đời quá khắc nghiệt để đôi mắt thằng bé nhìn nó, không phải màu xanh mà trái lại màu xám màu đen. Cám ơn loài người, vì con tim nhân đạo để thằng bé tiếp tục có mặt, hai chân gầy tong teo, mắt trủng vì nước mắt đã đổ ra quá nhiều. Cái tôi của tôi là thế. Xin đừng tội nghiệp dùm tôi. Tôi vui lắm mà. Tôi có những chú chim trên núi, có những chú còng dưới biển. Không biết có bao nhiêu ngọn sóng dã thấy tôi nô đùa, tim như ngừng đập khi chờ chúng lù lù tiến vào bờ. Và nắng và mặt trời chói lọi, đã làm làn da tôi xạm đen. Biển đã bao bọc tôi khi tôi buồn, đêm nằm trên bãi cát nhìn lên bầu trời mà tìm một vì sao. Người ta nói mỗi  người có một vì sao chiếu mạng, tôi cứ nghĩ trên ấy là một thế giới khác, với những bà tiên hiền dịu, khác với thế giới khắc nghiệt mà tôi hiện đang sống… Cát lạnh, gió lạnh, đêm càng tối đen, để sao càng thấp xuống. Chòm đại hùng tiểu hùng hay chòm thần nông hay người cấy lúa, tôi miên man tìm. Rồi ngoài khơi, thuyền câu đêm san sát, tạo thành một vệt dài ánh sáng lung linh trên mặt biển đêm như một chuổi kim cương. Và trong cõi im ắng, chỉ có lời biển ru, đưa trí tưởng tượng thắng bé bay cao, bay xa… Ôi những giấc mơ tuổi nhỏ. Những giấc mơ tội nghiệp. Giấc mơ đưa tôi bay đến những hoang đảo như trong truyện Robinson Crusoe hay qua bên kia sông Cái, đến tận những dãy núi mịt mùng. Nơi đó là chiến khu như lời mẹ tôi vẫn hay hát khi bà ru đứa con bà: Còn đâu trên chiến khu trong rừng chiều. Êm đềm tiếng suối reo ngàn thông réo… Hay những bài học dạy thời nhỏ dại của Bằng Phong: Họ là những anh hùng không tên tuổi… Tôi mơ một ngày tôi sẽ vượt qua sông Cái, để trở thành một người lính bộ đội đánh Tây. Tôi mơ một ngày có mặt dưới cánh rừng phia cuối trời, mà tiếng hát của mẹ mỗi ngày cú đẩy trí tưởng tôi bềnh bồng cùng giòng suối, cùng chim muông, cùng những anh hùng vô danh…
Mẹ lại tiếp tục đẻ con. Lần này là con gái. Cả nhà mừng lắm. Kể cả bà vợ lớn của bác. Vì tất cả con của  bác toàn là con trai.

Tôi lại một phen cực thêm.  Ngày mẹ nằm nhà  hộ sinh, tôi xách cơm nuôi mẹ. Và sau khi mẹ về nhà, tạm thời chưa dám làm việc nặng, tôi lại thay bà gánh nước, nấu nước sôi, hay mua rượu cho bác. Sau đó. mẹ trở lại với hai đôi thúng trỉu nặng. tôi lại phải thay mặt mẹ bồng, ẫm em giúp mẹ  khi mẹ bận bịu ngoài chợ.

oOo

Mùa đông ấy trời giá rét hơn mọi khi. Một trận lụt vừa dứt. Làng xóm trở nên tiêu điều. Những hồ rau muống ngập nước bùn, những cọng rau xanh bò lan trên mặt nước. Những gốc cây dừa, xoài, ổi, mít vẫn còn thấy một màu xám của đất bùn còn sót lại. Con  đường từ xóm lên đường quốc lộ trở nên nhão nhẹt. Bầu trời u ám lạ lùng. Mưa phùn  tạt vù vù  cùng với gió buốt da buốt thịt. Mưa đã giam cầm bước chân hoang đàng của tôi. Tôi đứng trước hiên nhà, hai chân thúc thủ. Mẹ đang cho con bú. Nơi này là thế giới của mẹ con chúng tôi. Bên kia là cửa hông đóng kín mít. Cùng là một nhà, nhưng ở bên đó là thế giới khác. Một thế giới hoàn toàn trái ngược với cái thế giới ở đây, với chiếc giường tre, với những thúng, những gánh, những nãi chuối bồ hương, những trái thanh long, những rổ hột gà cùng cái phản mà tôi ngủ.

Bỗng nhiên tôi nghe tiếng chó sủa. Mưa tạt vào mặt khiến rất khó để nhận ra người lạ mặt. Tôi chỉ thấy lờ mờ một người đàn bà khoác chiếc tơi lá đứng bên hàng dậu. Gió và mưa làm át tiếng nói của người đàn bà.

– Em ơi, cho tôi hỏi thăm. Có phải đây là nhà bà Án ?

Tôi trả lời. La thì đúng hơn:

– Bà tìm lộn nhà rồi. Ở đây không có bà nào là bà Án hết !

Bỗng có tiếng mẹ ở phía trong nhà:

– Cái gì thế Tý ?

Tôi quay đầu lại, nói:

– Có một bà hỏi bà Án. Con nói không có ai tên Án hết.

Nhưng mẹ đã bước ra ngoài sân, dưới mưa. Mẹ nói:

– Phải, tôi là Án đây !

Có tiếng mừng kêu:

– Thưa bà. Tôi là Bảy  đây !

– Bà Bảy. Sao bà tại biết tôi ở đây ?

– Chú Tuất chỉ. Chú ấy bảo bà làm công ở tiệm phở  Ngọc Lợi dưới chợ Đầm…

Mẹ quay sang tôi, ra lệnh:

– Con mang vở học bài đi. Để má nói chuyện.

–  Cậu nào đó, thưa bà ?

Bà Bảy hỏi.

– Thằng Tý đó.

– Cậu Tý đó sao ? Chao ơi là lớn !

Mẹ nói:

– Nó hoang nghịch lắm, bà Bảy ơi. Không ai dạy nó được.

Tôi chẳng bận tâm gì đến lời trách của mẹ. Với tôi bây giờ là người đàn bà lạ, tại sao lại quá quen thuộc với mẹ, tại sao bà lại gọi mẹ là bà Án.

Rồi mẹ nói thêm:

– Bà Bảy là vú của con đó.

Tôi không hiểu:

– Vú là gì, hở má ?

– Vú là người bồng ẩm con giúp dùm má  khi con còn nhỏ.

Bà Bảy gạt nước mắt. Xem bà rất nễ trọng mẹ.

Tôi lấy vở học bài, tuy nhiên lòng tôi không yên. Tai tôi vẫn nghe tiếng rầm rì to nhỏ của hai người đàn bà, và tiếng khóc tấm tức của bà mà mẹ nói là vú nuôi tôi. Căn chái đèn điện mờ in bóng hai người trên vách. Bên ngoài trời vẫn mưa lớn. Tôi nghe mơ hồ cái tên Thanh xa lạ nào đó mà hai người trao đổi. Nhưng tôi chẳng bận tâm. Mẹ lúc nào cũng bí ẩn như gỗ  đá. Ngay cả lai lịch của tôi mẹ cũng không bao giờ mẹ cho biết nữa. Huống hồ là mẹ.

Đêm hôm  ấy, vú Bảy ngủ chung với tôi. Lần đầu tiên tôi mới được một người khác giúp tôi giăng mùng, trải chiếu. Tôi đã mất sự săn sóc ấy rất lâu, không, chẳng có đâu để nói mà mất. Sự săn sóc ấy làm tôi cảm thấy ngượng. Và khi mùng giăng ra rồi, bà lại soi đèn đập muỗi nữa. Đó là chuyện hết sức lạ.  Tôi không thể hiểu tại sao bà lại bận tâm đến những con muỗi tí ti như thế. Thì chúng hút máu thật. Nhưng đâu có nghĩa lý gì so với cả vòi máu cam đã no nê tuôn ra  khỏi mũi khi mẹ tát ngay sóng mũi của tôi. Tôi lại để cho nó chảy, không cần ra bể nước hít vào thành xi măng hay dùng lá trầu quấn và nhét vào lỗ mũi để cầm lại. Tôi muốn người ta thấy. Tôi chẳng cần ai thương hại tôi hết.

Rồi vú Bảy nằm bên cạnh tôi. Vú thầm thì:

– Con thương má con không?

Tôi im lặng. Tại sao vú lại hỏi một câu vô duyên đến thế. Mẹ đâu có thương tôi sao tôi lại thương mẹ. Nhưng có khi tôi thương mẹ ghê gớm. Lúc mà mẹ lật áo lên để xoa dầu khuynh diệp hay xát muối vào vết roi bầm trên lưng tôi. Lúc ấy mẹ nói như khóc: Con có biết mỗi lần đánh con đau, má khổ lắm không. Con người ta là con vàng con ngọc. Con đừng chọc chúng…

Đó là lúc tôi thương mẹ tôi nhất. Cố gắng cắn răng để khỏi bật khóc, nhưng cớ sao tôi lại khóc mùi. Lúc này bà chính là mẹ đích thật của tôi. Lúc này đôi cánh của con gà mái đã phủ xuống để che chở  con khỏi loài diều hâu dữ dằn. Tôi nói, để biện hộ hành động của mình: Tại nó cứ bảo vì con là thằng  con không cha nên mất dạy…

Thấy tôi im lặng, vú Bảy tấm tức khóc:

– Ngày xưa con được cưng chiều, có người hầu kẻ hạ. Ngày xưa, vú bồng đút cơm, đút cháo, thay áo thay quần cho con. Ngày xưa, vú ở bên con suốt ba năm, con nói con thương vú hơn thương má… Bây giờ, thấy má, thấy con khổ, vú đau lòng lắm.

– Vú nói ngày xưa nhà mẹ giàu ?

– Phải. Nhà mẹ giàu lắm.

– Con có ba không?

– Ơ, thằng này nói lạ kỳ. Không có ba sao lại có con.

– Sao bọn nó nói con là con hoang không cha.

– Không phải. Con có cha có mẹ. Nhà có người ở. Có chú Tuất giúp làm vườn. Đất rộng nuôi cả bầy ngựa lận. Ngày xưa con hay đòi chú Tuất cho con cưởi ngựa. Có lần con ngựa lồng lên, khiến con bị té, gãy cả xương tay. Từ đó, mẹ không cho con cưởi ngựa nữa.

Chợt vú vuốt tóc tôi:

– Con còn nhỏ chưa hiểu đâu. Lớn lên rồi con sẽ hiểu.

– Sao vú lại kêu mẹ con là bà Án ? Mẹ tên khác mà ?

– Án là tên ba con. Ông giàu lắm. Cả thành phố đều biết tên ba con.

– Sao ba  mẹ không chịu ở với nhau, hở vú ?

– Tại  cái số hết con à. Rồi lớn lên con sẽ hiểu.Con nên thương mẹ, con đừng ghét mẹ con.

Rồi giọng bà sụt sùi:

– Ngày xưa vú không cửa không nhà, được mẹ mang về giúp đở. Vú không thể quên ơn nghĩa ấy đâu.

Chợt có tiếng của mẹ vọng sang:

– Bà Bảy ơi, để nó ngủ ngày mai còn phải dậy sớm nữa.

(Còn tiếp)