Tặng phẩm của bạn cùng thời ở Huế

Bạn bè tôi ở huế còn lại mấy  người . Thái Ngọc San, Phạm Ngọc Lư đã ra đi. Còn lại phần lớn bỏ viết.
Bởi vậy khi nhận được Email của nhà thơ Trần đình Sơn Cước, với bài viết về ĐÁ, dành cho ĐÁ những  ân cần khiến tôi vừa vui mừng vừa cảm kích.

Vui là anh vẫn chưa hề bỏ cuộc chơi. Từ bài thơ Ngày tục giảng ở Huế viết về biến cố Mậu Thân  đăng trên Văn năm 1968  (*)  đến bài nhận định thi ca HÒN ĐÁ ÂN NHÂN được viết vào tháng 7 năm 2020 : Hơn nửa thế Kỷ. Vậy mà chử nghĩa vẫn lên đường. Chiếc xe chở văn chương vẫn lăn bánh.

Bởi vì văn chương khõng bỏ chúng ta, chỉ có chúng ta mới bỏ văn chương.

 

HÒN ĐÁ ÂN NHÂN

Người viết: Trần Đình Sơn Cước

Đầu năm 2020 khi đại dịch Coronavirus-19 mới bùng phát, tôi nhận được hai tập thơ mang chung một cái tên gần trùng hợp một cách bất ngờ thú vị: ĐÁ của nhà thơ nhà văn Trần Hoài Thư. THƠ & ĐÁ của nhà thơ vừa qua đời Nguyễn Đức Sơn. Tập thơ của Nguyễn Đức Sơn có rất nhiều bài thơ về đá, về đá và thơ, kể cả ý định của ông muốn khắc thơ lên đá. Về “Thơ & Đá” của ông, tôi không dám bàn ở đây, tôi chỉ xin trích lại lời của thầy Tuệ Sỹ trong Thay Lời Tựa:”…Tôi không thể nói gì về thơ Sơn, cũng không thể nói gì về bi kịch tồn sinh ấy. Bởi, đời sống thực của Sơn là những chuỗi nghịch lý của thương và ghét, yêu và hận. Đọc thơ Sơn, như người điên mất trí nhớ ném từng viên sỏi vào hồ nước để nhìn những đợt sóng lăn tăn. Tôi thật vô cảm với những chữ thơ khô khan như sỏi đá vô tri, tự bộc lộ thơ thành đá, đá thành thơ, hay thơ là đá, đá là thơ…”.

Đá vô tri. Thế nhưng, Nguyễn Đức Sơn lại “Cám ơn đá”:

Đá vây ta

                                                nhưng ta yêu đá

                                                Bởi vì nhờ đá

                                                Mà dù lở lói xương da

                                                Hồn ta sớm thoát ra

                                                Cái gì quái lạ”.

Trong văn chương, đá dù vô tri, nhưng đá lại là biểu tượng gợi nhiều cảm hứng cho các thi sĩ nhạc sĩ. Xa như các đại thi hào Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan,…trong câu thơ của họ cũng đôi lần nhắc đến đá, có lúc mượn đá để giải bày tâm sự của mình.

Gần chúng ta hơn, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn trong ” Diễm Xưa” đã tra vấn người mình yêu bằng câu hỏi rất triết lý “làm sao em biết bia đá không đau.”.Ngày sau sỏi đá cũng cần có nhau“. Sỏi đá vô tri. Sỏi đá vô ngôn. Phải chăng tâm trạng người cần có nhau, trai gái cần tình yêu, là tâm thức của Trịnh Công  Sơn và ông gán ghép cho đá sỏi. Sỏi đá không biết và không hề tự hỏi có hay không cần có nhau. Đá sỏi không nói lên khát vọng tình yêu . Người nhạc sĩ tài hoa đó đã nói thay cho đá.

Phiến đá sầu” là một bài hát hay của nhạc sĩ  Diệu Hương với những khắc khoải về đá và tình yêu được lập lại nhiều lần. “Tôi hỏi em đá có linh hồn không? Đá có tình yêu không? Khi em quay mặt đi, lòng tôi tựa phiến đá sầu. Linh hồn tôi là đá sỏi, như đá nằm khổ đau với tình yêu em“. Đá sỏi vô tri. Triệu ngàn năm trước và cả nghìn năm sau, sỏi đá mãi là vô tri. Thi sĩ nhạc sĩ đã nhân cách hóa đá sỏi. Lạ thay, đọc họ, nghe họ, hình như ta vẫn cảm nhận như đá sỏi có đau có giận có thương có ghét và có cả tình yêu say đắm như ta…

Chỉ riêng Trần Hoài Thư trong bài thơ “ĐÁ” của ông thì lại khác. Ông viết:

Nếu có phép mầu gì anh ước được bay về

Lên lại ngọn đồi Kỳ Sơn tìm hòn đá tảng

Anh sẽ đứng thật nghiêm và chào tay kính cẩn

Cảm ơn vô cùng một hòn đá ân nhân…”

Đá sỏi vô tri. Thế nên nghe ông nói thế, có thể vợ ông, vặn hỏi ông:

“- đá đâu phải là người sao lại bảo ân nhân?”

Ông trả lời:

Vậy thì anh hỏi em:

– có người nào giúp anh thoát nạn?”

Em có bao giờ thấy một người nào chắn đạn?

Em có bao giờ nhìn những khói đá bốc lên

Và những tia lửa hồng tức tối xẹt cuồng điên

khi trăm ngàn đầu đạn đâm vào thân thể đá?”

Bài thơ rất thật.  Ông không nhân cách hóa đá. Đá vẫn là tảng đá vô tri. Trong cuộc chiến tranh đau thương và khốc liệt vừa qua của quê hương chúng ta, Trần Hoài Thư là sĩ quan của quân đội Việt Nam Cọng Hòa phục vụ trong đơn vị tham kích trinh sát. Ông đã thường trực đối diện với hiểm nguy, cái chết luôn rình rập khắp nơi. Một hôm, ông và đồng đội đã bị phục kích, đạn đối phương truy đuổi ông “cuồng điên”. Nhưng, may mắn thay, đã có đá đưa thân ra chắn đạn, chịu thay thân thể ông và đồng đội những “tia lửa hồng tức tối cuồng điên“, khói bốc, lửa tóe xẹt. Ông thoát chết. Cảm ơn Trời Phật? Cảm ơn phước đức ông bà? Cảm ơn số mệnh? Đúng. Chắc ông cảm ơn tất cả. Nhưng cụ thể hơn hết, ông cảm ơn “HÒN ĐÁ ÂN NHÂN” có ghi rõ địa chỉ nơi đá tọa lạc, đồi KỲ SƠN, quận TUY PHƯỚC, tỉnh BÌNH ĐỊNH. Ông không văn- chương- hóa đá, không nhân- cách- hóa đá. Ông biết ơn hòn đá tảng vô tri. Ông có thể tự nhiên cúi lạy tạ ơn hòn đá, hòn đá cứu mạng ông và đồng đội. Hòn đá nầy không cần biết đá có linh hồn hay không, có tình yêu hay không. Hòn đá này không khắc khoải trầm tư ngày sau có cần có nhau. Hòn đá nầy vẫn trơ cùng năm tháng gió mưa bão tố, trước và sau những “tia lửa hồng tức tối cuồng điên“, đá vẫn nguyên là đá vô tri. Trần Hoài Thư không lãng- mạn- hóa hòn đá. Cuối đời lưu vong nơi quê hương mới, ông chỉ mong được về ” đứng thật nghiêm và chào tay kính cẩn” hòn đá cứu mạng cho ông. Phần ông muốn tỏ lòng biết ơn. Nhưng hòn đá kia, vẫn muôn đời trơ gan cùng năm tháng trên đồi Kỳ Sơn, tỉnh Bình Định quê nhà…

Trần Hoài Thư đã lấy bài thơ ” ĐÁ” để làm nhan đề cho toàn tập thơ của ông. Toàn tập thơ cũng chỉ có một bài thơ duy nhất viết về đá. Tôi đọc, và tôi thích thú với ý nghĩ từ trước đến nay trong văn chương của nước ta chưa có ai viết về đá thật và chân thật như ông. Trong văn chương, đá là biểu tượng được nhân cách hóa như đã nói ở trên. Ngoài ra, tôi được đọc một bài viết về “Đá trong thơ”(1) điểm qua thơ của các nhà thơ miền Bắc trước 1975: Chế Lan Viên, Thu Nguệt, Thu Bồn, Trần Đăng Khoa…đã viết về đá, về tượng đá, huyền thoại đá, nhưng tất cả đều  nhân cách hóa tâm hồn cho đá: “…Trong giấc ngủ vô cùng của đá. Cùng vô hạn đêm khuya và vô hạn sao trời… Ta bản lĩnh thì đá kia bản lĩnh, mà ta cô đơn thì đá hóa cô đơn.”(Chế Lan Viên). Như vậy, bài thơ “ĐÁ” của Trần Hoài Thư là một trường hợp đặc biệt, mặc dù hai câu cuối của bài thơ, ông lại muốn được làm như đá, dầu đá vẫn là đá: “Và bây giờ anh cũng mong được làm phiến đá. Để chai lì với những bọt sủi niềm đau“. Đó là ông muốn nói đến thân phận, tâm trạng ông hiện tại, chứ “hòn đá ân nhân” xưa của ông vẫn nằm yên, vô ngôn, vô tri, trên đồi Kỳ Sơn, không hề và không cần phải “chai lì”, bọt sủi niềm đau”…

Trần Đình Sơn Cước

(Chicago 7/20)

—————————————————————————————————————————————-

(1) Đá trong thơ. Huỳnh Văn Hoa. Đà Nẵng Online ngày 17/01/2010

 

________________________________________________

(*)

Trần Đình Sơn Cước

Ngày tục giảng ở Huế

1

 

ngày tục giảng khởi đầu  bằng buổi thượng kỳ
học trò xây thành hàng tròn quanh cột cờ
im lặng

lá quốc kỳ leo dần mệt mỏi
bài quốc ca không ai hát nổi say sưa
năm phút mặc niệm những người đã chết
học trò ứa nước mắt không dám nhớ
nơi chỗ đứng này
hai mươi ngày đầu năm
hàng trăm người gục chết
xác ngổn ngang như củi
đàn bà trẻ con ông già bà lão
lính quốc gia cộng sản
lính mỹ đại hàn
chồng sấp chồng ngửa lên nhau

nơi chỗ đứng này
hai mươi ngày đầu năm
công chức mất máu
công chức mất đầu
hai hầm chôn sống gần năm chục
người bỏ vợ bỏ con
người xa cha xa mẹ
người bị giết vì lầm
học trò cúi mặt không dám nhìn
thầy giáo cho nhanh vào lớp

2.

buổi học khởi đầu bằng thầy công dân
học trò nhìn thầy thầy nhìn học trò
chua xót
lớp học còn lại năm bảy đứa
phờ phạc như chim bị bão
như kẻ mất hồn
thầy hỏi những đứa kia đâu hết
học trò ngồi chết cứng nhìn nhau
có những trò đã chết
xác còn  chôn trên các vỉa hè
bên mủi cầu trong công viên trong rãnh nước
có những trò đi biệt
chưa biết được ngày về
bỏ sách vở bạn bè thành phố
gởi cuộc đời vui gian nan
có những trò nghỉ học
hoặc đã đi lính cũng nên
bởi cửa nhà cháy rụi
cha mẹ không đủ tiền
nuôi con…

thầy giáo như đã khóc
học trò ngồi nín lặng

lớp học vội vàng tan…

(4-1968)