Khi nhớ về Bà Gi (2)

Tôi chẳng ham gì lính tráng
Nhưng thời thế đẩy đưa tôi đến với tháp Hời
Suốt gần bốn năm trời  núp dưới ngọn đỉnh trời
Tôi cũng hóa thân  thành tháp lúc nào không biết
Tháp Chàm khóc  cho thưở vàng son đã chết
Còn tháp tôi thì cho cả một trái tim đau
Tháp có thành Đồ Bàn chôn dưới mộ sâu
Tôi chỉ  có thơ làm bàn thờ để mà xông trầm đốt khói

Thì cứ kết tội tôi là tên thám báo
Cứ tha hồ đấu tố hỡi bà con
Tôi  đứng đây, lưng vẫn thằng chẳng còm
Vẫn khinh mạn vẫn ngẩng đầu thách thức
Thơ tôi  đây,  viết bằng cục than trên vách
Vẫn còn in đậm   mãi mãi đến  hôm nay… (1)

wall-1


(1) trich nhật ký hành quân:

1200 H. NGÀY N.

Hầm nhiều không thể tả. Ở đây, mới thấy được cảnh thương tâm của quê hương. Không còn gì nữa. Nhà ngói chỉ còn nền và hầm trú ẩn. Nhớ lại những lần cùng mẹ trốn dưới hầm trong những ngày kháng chiến. Mẹ ôm mình thật chặt. Nước mắt mẹ thấm cả má. Mẹ vừa ôm vừa đọc kinh. Bây giờ cũng vậy. Thôi đừng nghĩ nữa, bảo lính bố trí. Hầm nhiều lắm. Một thằng la lên: “Còn cơm nóng. Bọn nó vừa đi hồi sáng, thiếu úy.” Mình đi vào nhà, nằm lăn trên nền. Chỉ muốn nằm dài trên nền, chỉ muốn nhìn quê hương mà khóc. Chỉ muốn lau những đám bụi dầy đóng trên lư nhang. Một tượng Phật bị đạn soi lủng thân thể. Chiến tranh không chừa một ai.

Mình đi tìm một viên than, vào viết trên vách một câu thơ:

Khi con về quê hương chừng đã ngủ,
Giấc ngủ ngàn đời trong tuổi đạn bom
Ru nước mắt, con cúi đầu nhận lỗi
Mẹ Việt-Nam, mẹ đã mất hay còn?

(ngày đột kích H.L.)
(Văn 100 & 101)

( trich truyện ngắn thời chiến của THT, Thư Ấn quán xb năm 2018)