Hoa đồng

      thongay-thuminh_8u4

 

Ngày đầu tiên gặp em
si tình mà không dám ngỏ
Em đứng giữa vườn,
tưới cà tưới cải
Anh ngẩn ngơ nhìn như phải chiêm bao
Sân nhà em lấm tấm hoa ngâu
Khế cũng trổ hoa
Rụng bên bờ giếng nước
Chiều chậm xuống
nhả lên trời khói trắng
mất… mất… dần trong ánh nắng hoàng hôn…

Em xinh vô cùng giữa vườn xanh trổ bông
Khiến bướm ong quên buổi chiều sắp ngủ
Bướm trắng bướm vàng tham lam nhụy nở
Để si tình càng nẩy nở hồn anh

Đừng nói gì tôi,
hỡi người truyền tin
Anh có biết là tim tôi đang ca hát
Anh không biết, khi nàng xách thùng tưới nước
Là bụi ớt bụi cà hớn hở mừng vui
Là hồn tôi cũng  được tắm mát lắm anh ơi…

Từ đấy mỗi lần trước khi vượt sông
Chàng lính vẫn dừng lại bên nhà
Để nhìn người em gái nhỏ
áo bà ba giữa khóm cà khóm cải
Xinh xinh cỏ nội hoa đồng…

Cau mới trổ buồng, trái nhỏ còn non
Khi cau lớn em nhớ để dành cho anh em nhé…
Rồi anh sẽ đứng bên người yêu nhỏ bé
Sẽ dâng cau
dâng trầu
dâng rượu đến khắp bà con
Cha mẹ anh xa, chỉ còn đám bạn lột lon
Mượn chiếc dodge cũ mèm
không mui làm xe đám cưới
Và súng nổ liên thanh mừng cô dâu mới
Để mọi người vui dùm những thằng thám báo chịu chơi…

Nhưng cuối cùng sông núi vẫn chia phôi
Có ai biết một ngày anh phải bỏ
Phải đành đoạn xa lìa người em nhỏ
Phải tha phương nơi xứ  lạ quê người
Đã bao năm rồi nước vẫn cứ trôi
Chắc những mùa cau vẫn trổ buồng trổ trái
Không biết có buồng nào em dành cho anh
ngày anh về lại
Để anh còn tưởng nhớ lại người thương
của hoa đồng cỏ nội quê hương…?

Oreste hôm xưa và Oreste hôm nay

Nếu Jupiter nhân danh Thượng Đế, thì ông quan tòa trong Tòa án quân sự Mặt trận  nhân danh quốc gia.  Không ai có quyền chống đối họ.  Vậy mà chỉ có Oreste đã thách thức, Trong thần thoại Hy Lạp, Oreste nhân danh tự do của con người. Trong tòa án quân sự mặt trận, Oreste Việt nam nhân danh tuổi trẻ. Tại sao tôi ví người quân phâm ấy là Oreste vì anh ta đã dám nói lên một cách uy dũng về cái quyền của tuổi trẻ của anh.

Oreste của thời chiến Việt Nam:

… Tôi nhân danh tuổi trẻ Việt Nam, kết án Cộng Sản, tư bản đã đưa đất nước tôi vào cuộc chiến tương tàn. Chúng tôi là nạn nhân từ những thế lực. Nếu kết tội là kết tội những ông lãnh tụ đã không biết thương dân tộc mình. Chúng tôi không gây nên cuộc chiến này. Chúng tôi không có tội. Nếu các ông không bắt tôi ở tù chung thân, tôi sẽ đào ngũ nữa. Tên lính lạnh lùng nói. Ông toà đập chiếc búa gỗ lên bàn, nói lớn:

Bị can trở về hàng. 

Tên quân phạm trở về chỗ ngồi, nhìn ra ngoài cửa sổ.

Toà nghị án. Có tiếng xê dịch khô khan nặng nề trên hàng ghế chánh thẩm. Đám quân phạm được đẩy lên xe, chỉ còn lại lưa thưa những người thân nhân trên hàng ghế chờ đợi. Ông trung úy ủy viên chính phủ ra ngoài hành lang xem báo. Tên trung sĩ quân pháp phụ trách việc gọi tên bị can đã xách xe chạy rong ra phố. Đám lính dàn chào ngủ gục trên ghế.

Nhân danh quốc gia Việt Nam, tôi long trọng tuyên bố các bản án …

Ông quan tòa trở ra phòng lúc 12 g 30. Ông bắt đầu đọc bản án. Một con chim sẻ vụt bay vào hội trường. Tù ở. Tù treo. Tha bổng. Cái danh sách dài như vô tận khiến ông phải ngừng lại, uống nước lấy hơi rồi tiếp tục đọc tiếp. Chỉ có những chiếc bàn chiếc ghế trong hội trường vắng ngắt mới nghe những lời tuyên án của ông.
(trích Cảm Tạ Văn chương của THT sắp xuất bản)

Oreste  của huyền thoại Hy Lạp:

Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967)

IMG_0280

Những Ruồi.Bản dịch của Phùng Thăng từ  Les Mouches của J.P.Sartre.   Thanh Hiên xb 1967, Thư Án Quán sưu tập, chụp, đóng bằng bìa cứng có bao jacket cover ở ngoài. Số lượng thực hiện là   2 tập.  Một dành cho Phùng Thăng. Và một dành cho THT.  Như là cách để biểu lộ sự tri ân đến  một dịch giả  trẻ đầy trí tuệ  đã cống hiến một dịch phẩm giá trị cho văn học VN, phải bị chết thảm khốc dưới bàn tay Miên quỉ Polpot vào năm 1975.

Trích văn

 

JUPITER:

Oreste ! Ta đã tạo người và ta đã tạo nên mọi sự : hãy nhìn đây. (Những bức tường của ngôi đền tự mở rộng. Bầu trời hiện ra, nhấp nhánh những ngôi sao xoay vần. Jupiter đứng ở cuối sân khấu. Giọng nói của Thần đã trở nêt to khiếp – máy vi âm – song người ta vẫn còn hơi nhận rỏ.) Ngươi hãy nhìn những hành tinh kia đang vận chuyển trong trật tự, và không bao giờ và chạm nhau: chính ta đã thu xếp sự vận hành của chúng, tuân thủ có công lý. Ngươi hãy nghe hòa điệu của những tinh cẩu, cái bài ca cảm tạ vĩ đại của khoáng chất đang vang dội khắp bốn phương trời (Ca nhạc.) Do ta mà những chúng loại được tồn tại mãi, ta đã ra lệnh rằng một người luôn luôn sinh ra một con người và con của loài chó là chó, chính do ta mà chiếc lưởi dịu hiền của những cơn thủy triều đến liếm nhẹ trên bãi cát và rút lui vào giờ nhất định, ta làm cây cối tăng trưởng và hơi thở của ta dần lối cho những đám mây phấn hoa vàng bay quanh trái đất. Hỡi kẻ tiếm vị, ngươi không phải đang ở tại nhà mình đâu ; ngươi đang ở trong thế giới như cây gai ở trong thịt da, như kẻ săn bắn trộm ở trong khu rừng của lãnh chúa; vì lẽ thế giới là thiện hảo ; ta đã tạo ra thế giới theo thánh ý của ta và ta là điều Thiện. Nhưng còn ngươi, ngươi đã gây nên điều ác, và những sự vật đang lên án ngươi bằng những giọng lời hóa đá của chúng : sự Thiện ở khắp mọi nơi, đấy là ruột của cãy hương mộc, là vẻ tươi mát của dòng suối, là đường vân của đá lửa, là trọng lực của hòn đá ; ngươi sẽ tìm thấy lại sự Thiện tận trong cả bản chất của lửa và ánh sáng, ngay cả thân xác người cũng phản bội người, vì nó vâng phục những mệnh lệnh của ta. Điều Thiện ở trong người, ở bên ngoài người: thâm nhập vào người như chiếc lưởi liềm, nó nghiến nát người như một ngọn núi, nó mang người đi và lăn tròn ngươi như thể một đại dương ; chính điều Thiện đó đã cho phép người thành công trong công việc xấu xa của mình, vì nó là sức sáng của những ngọn nến, sức cứng rắn của thanh gươm người xử dụng, sức mạnh của cánh tay người. Và cái điều ác mà người quá kiêu hãnh về nó thế kia, điều ác mà người tự nhận mình là tác giả, điều ác ấy là gì nếu không phải là một phản ánh của thực thể, một lời thối thác, một hình ảnh lừa phỉnh mà ngay cả sự hiện hữu của nó cũng được nâng đở bằng điều Thiện,

Hãy trở về lại nơi chính mình, Oreste : cả vũ trụ đang bất bình ngươi, và ngươi chỉ là kẻ yếu đuối trong vũ trụ. Hãy trở về lại với bản tính của mình, hỡi đứa con lạc tính: hãy nhìn nhận lỗi lầm minh, kinh tởm nó, nhổ vứt nó ra khỏi người như một chiếc răng sâu tấy mủ. Nếu không,  biển cả  sẽ rút đi trước mặt người, những dòng suối sẽ khô cạn trên đường người đi, những hòn đá cuội và đá tảng sẽ lăn ra khỏi đường và đất sẽ mủn ra dưới bước chân người.

ORESTE.
Đất cứ việc mun ra đi ! Các hòn đá tảng cứ việc buộc tội tôi và cây cối, cứ việc khô héo trên lối đi của tôi : toàn thể vũ trụ của ngài cũng sẽ không đủ để làm tôi thấy mình sai lầm. Jupiter, ngài là vua của các vị Trời, vua của đá và các vì sao, Vua của những làn sóng biển. Nhưng ngài không là của con người.

Những bức tường khép gần lại, Jupiter tái hiện, chán nản và mệt mỏi; Jupiter đã lấy lại giọng thường.

JUPITER:
Ta không phải là vua của người sao, hỡi loài sâu bọ vô sỉ. Vậy chứ ai đã tạo ra ngươi?

ORESTE:
Chính ngài. Nhưng lẽ ra ngài đang nên tạo ra tôi với tự do trong hồn.

JUPITER:
– Ta đã ban cho người tự do để phụng sự ta.

ORESTE
– Có thể như thế lắm, song tự do đó đã quay lại chống đối ngài, và cả tôi lẫn ngài đều không thể làm gì được cả.

JUPITER.- Dữ chưa ! Giờ ta mới nghe một lời tạ lỗi.
(Những Ruồi. Bản dịch của Phùng Thăng Thanh Hiên xb 1967 từ trang 122-124)

 

Những ngày với Trịnh Công Sơn

1.

      diemxua-ngoclan-384675

Trong những lần dưỡng quân,  chúng tôi hay chọn quán này là chỗ để trở về, vì nó là quán đầu tiên trong thành phố mở nhạc Trịnh Công Sơn.. Chúng tôi đến đấy, với ly cà phê đắng, với khói thuốc quyện tròn, để tâm hồn cùng rưng rưng theo những cơn mưa của TCS. Tuổi trẻ dường như trở thành một bộ lạc, về đây để nhìn lại phận mình. Phía sau quày cô hàng ngồi bất động, một phần mái tóc che khuất con mắt dưới ánh đèn mờ ảo. Chẳng còn nghe tiếng la ó hét hò thường lệ mỗi khi chúng tôi vào quán như kiểu Nguyễn Bắc Sơn: Mai ta đụng trận may còn sống/Về ghé Sông Mao phá phách chơi… mà trái lại là một nỗi im lặng đến bật khóc. Không ai bắt chúng tôi phải yêu nhạc TCS, nhưng chúng tôi đã tìm qua đấy những chuyên chở của tuổi trẻ. Có ai không, hở ? Ai nói hộ cho thế hệ chúng tôi, một thế hệ khi mở mắt chào đời đã thấy chiến tranh loạn lạc, rồi lớn lên phải bị còng vào chân vào tay một bản án vô hình của lịch sử. Nói như nhà văn Lữ Kiều: Lịch sữ chọn chúng tôi. Chúng tôi không chọn lịch sữ. Hay nói cách khác: Chiến tranh chọn chúng tôi, chúng tôi không chọn chiến tranh.
TCS là một trong số người hiếm hoi nói hộ ấy.

Ông nói hộ bằng Tình Nhớ, Diễm Xưa, Như Cánh Vạc Bay, Nhìn những mùa thu đi, Ướt Mi…

Và ông khóc dùm chúng tôi bằng Gia tài của Mẹ…

 

Tuy nhiên, ông chỉ đứng trong thành phố nghe đại bác đêm đêm vọng về để ôm mặt. Còn chúng tôi thì ở trong cuộc, ôm mặt, ôm tim cả trăm lần hơn thế nữa.

 

Người ta bảo nhạc TCS đã mang đầy nước mắt. Đúng. Nhưng nói nhạc TCS như tiếng sáo Trương Lương, làm cho cả thế hệ phải chán nãn chiến tranh, buông súng, bỏ ngũ thì  có lẽ hơi quá lời chăng.

 

Không phải nhạc TCS vọng về trong đêm khi  nằm trên gò mã hay dưới kênh rạch, trắng mắt trong những chuỵến tiền đồn hay phục kích,  làm ta thấy chán nãn, mà nghĩ đến cách bắn vào ngón tay bóp cò súng hay hy sinh bàn chân. Mà trái lại là tiếng nhạc nhảy đầm vọng về khi mất khi còn từ thành phố hay  Bộ tư lệnh … Dù bài nhạc là  Lính mà em hay Người ở lại Charlie hay Anh không chết đâu anh… Trong đêm, tiếng gió âm ty địa ngục xen lẫn âm vọng đĩ thỏa, vô tâm từ thành phố ăn chơi, làm tim người lính như nhói lên, lòng người lính sôi sục, có khi đau đớn khi nhận ra lý tưởng của mình phải tan vỡ…

 

Xin đọc bài thơ do chúng tôi sưu tầm của Trang Châu được sáng tác tại Tam Quan Bình Định vào năm 1966. để hiểu rõ hơn về tâm tư tuổi trẻ trong chiến tranh  bấy giờ. Tác giả là y sĩ thuộc binh chủng nhảy dù .

 

Xin Một Ngày

              Trang Châu

 

Mầy nói anh em

Ngưng một ngày đấu tranh

Xin các thầy

Đêm nay rằm

Đình chỉ xuống đường

Xin các cha

Sáng mai chúa nhựt

Đừng căng biểu ngữ

 

Mầy nói chính quyền

Đừng nhân danh chúng tao

Nói những tên tham nhủng

Ngưng đục khoét một ngày

Nói các tay gian thương

Giảm giá hàng một buổi

 

Mầy nói bác tài xế taxi

Sáng mai có thằng nhà binh đi phép

Nó gọi xe nên dừng lại

Nói ông chủ nhà đèn

Đừng cúp điện đêm nay

 

Mầy nói người đàn bà có chồng đi xa

Ngưng một ngày ngoại tình

Nói các em bán bar hôm nay cuối tháng

Đừng đi với ngoại kiều

 

Tất cả để khi tao về

Thấy một niềm an ủi

Tất cả cho ngày tao đi

Trong tâm hồn phấn khởi

 

Mầy nói mọi người

Hãy lừa dối tao

Đừng cho tao hay sự thực

Tao sẽ chết đi

Nếu không đào ngũ.

 

(Tam Quan 10 -4-66 )

 

 

2.

Nhạc TCS đầy nước mắt. Nhất là Gia tài của Mẹ.  Nhưng nước mắt không phải là một hình thức yếu mềm bạc nhược. Nước mắt là từ con tim, từ tình người, từ những tấm lòng bát ngát lời kinh Chúa và Phật, từ sự răn dạy của cha mẹ ông bà, của thầy giáo già trường làng khi thằng bé mới làm quen với sách vở. Nước mắt không phải là bỏ súng,  phất cờ trắng. Nước mắt là kết quả của sự thông cảm nỗi đau khổ của tha nhân. Càng thương người dân, càng quí trọng sinh mạng con người. Khi gọi pháo binh yểm trợ cố làm sao để đạn khỏi rớt xuống nhà dân, vào trường học, chợ búa. Khi vào lục soát mục tiêu, cố làm sao thuyết phục đám người ngoan cố chui lên hầm thay vi ném trái lựu đạn xuống cho banh thây. Cố nén tức giận trước lời rũa xã của tên tù binh cuồng tín. Trái lại mời hắn điếu thuốc. Bởi vì hắn là con người. Hơn nhữa là người VN. Cố nén cơn sôi sục khi đồng đội mình ngả gục do một viên đạn từ trong làng bắn ra… Bởi vì không thể trả thù mụ đàn bà có bầu. Không thể lôi tù binh ra bắn để hả hê chiến công…

Nước mắt đã làm người lính lớn dậy, cao cả hơn. Để cố làm sao mang tiếng cười thay tiếng khóc. Như thể một buổi sáng trở về từ một điểm làm ăn đêm, nghe tiếng xe lam rộn rã trên đường,  lòng ta cảm thấy rộn ràng với niềm vui khó có thể diễn tả.

 

Xin được tặng em bài thơ thứ hai của Trang Châu, được sáng tác vào năm 1967.

 

Nước Mắt Kẻ Thù

 

                thơ Trang Châu

 

nó bị thương

bị bắt sống

mọi người đòi giết nó:

nó núp trong hầm

với một khẩu tiểu liên

cầm chân cả trung đội:

nó bắn ngã chúng tôi một người

bắn bị thương hai người khác

tôi đọc nét căm hờn

trên những khuôn mặt đồng đội

mọi người đòi giết nó

tên du kích vùng khốn nạn

gài lụu đạn lùm cây bờ ruộng

giết những người bắt cá mò tôm

 

nó nằm đó

mình bết bùn

máu cánh tay nhầy nhụa

tránh những tia nhìn nổ lửa

những báng súng gờm gờm

nó nằm chờ

một phát súng vào đầu

một lưỡi dao rạch bụng

một cái đạp xuống hố sâu

nó nằm chờ nằm chờ

tử thần

 

nhưng

chỉ có bàn tay vuốt dịu căm hờn

bàn tay băng bó vết thương

bàn tay vỗ về an ủi

nó nằm chờ tử thần

sững sờ bắt gặp tình thương

đồng loại

đôi mắt sát nhân vụt bỗng hiền từ

nhen hai dòng lệ nhỏ

 

trong cuộc chiến hôm nay

cho tôi xin chiến đấu không hận thù

xin những vết thương bình đẳng

cho tôi đổi một trăm chiến thắng

lấy một giọt nước mắt kẻ thù

 

Bên bờ Kinh Sáng 17-2-67

( trong dấu vết chiến tranh)

 

Đấy, là lý do để bây giờ, chiếc áo lính dù bị nhuộm đen, nhưng ít ra nó cũng giúp ta được quyền hãnh diện,  với cõi lòng rất an ổn khi nhìn lại những ngày hôm qua.

 

Ngẩng đầu như hôm nay, ta đang mặc lại nó, chiếc áo đen của một thời tai nghiệt. Dù đôi chân đã mỏi, bước chân đã chậm. Dù mua ở chợ Trời xứ Mỹ.

 

Và mưa trên đầu, mưa trên tóc. Mưa ở Mỹ thì cũng như mưa trên quê hương. Mưa bây giờ thì vẫn như mưa hôm qua : Mưa vẫn mưa bay trên tầng tháp cổ/Dài tay em mấy thưở mắt xanh xao…Chiếu nay còn mưa sao em không lại. Em vẫn là em, cho dù anh chưa một lần nắm tay, vuốt tóc. Em vẫn là em, như đôi mắt ngàn đời, mà thằng con trai một hôm nào thấy lòng chết đứng. Mưa dù lạnh buốt của ngày bắc mỹ cũng vẫn là mưa ràn rụa lệ, để anh thèm lắm nụ hôn ngày chiếc xe mười bánh đưa về mặt trận Tam Quan. Em vẫn là em, dù em chẳng bao giờ trở lại…

 

Cám ơn bản nhạc của thời tuổi trẻ. Để ta biết được cho dù, tuổi trẻ có chập chùng những trận mưa oan khiên, mưa pháo, mưa hỏa tiền, mưa máu, mưa âm ỉ trên chiến hào, mưa ngoài phòng tuyến, mưa làm đôi mắt phải căng trừng, làm nồi cơm  nhão nhẹt, làm đôi giày lún sâu, làm răng đánh cằm cập, làm trái sáng mù đui, làm thi thể càng căng phình như xác chết trôi… Mưa  ơi mưa ơi, kênh đào ngoi ngóp, nước ngập quá đầu, để con người trở thành con thú. bên những bó tràm bó củi.. Mưa làm thau cơm chó bên hiên doanh trại binh VC  lềnh bềnh nước, mà ta đói quá, thằng tù đi không nổi, phải bò, phải há hốc mồm mà thở  phải vồ chụp thau cơm chó hôi tanh vữa thiu mà nhai, mà ngấu nghiến… Và mưa mưa  mưa hết rồi em tôn nữ, em mong manh em nghiêng nghiêng vành nón, em mỏng manh, tội tình…Để em đôi chân rướm máu, mái tóc đã sớm bạc khi lội rừng băng suối, qua đèo qua ải đi thăm nuôi chồng…

 

May mà còn có trời còn làm mưa mưa rơi mênh mang sợi tóc em bồng trôi nhanh trôi nhanh… May mà chiều nay còn mưa sao em không lại, may mà mưa vẫn mưa bay… để đời còn biết thế nào là đáng yêu và đáng sống…

 

3.

Và giờ đây, thêm một lần lời ca tiếng hát ngày nào lại trở về trong một căn phòng của nhà dưỡng lão. Khi trang kinh không thể đọc, khi lời kinh không thể nghe, khi những nỗi đau nghẹn như những cục đá chặn ở cổ họng, khi dù có tay có chân mà không thể ôm, dìu, dẫn người thân. Khi người bệnh loạn cuồng cùng những cơn mê sảng. Còn gì cho em. Còn gì cho ta.
Còn chứ. Còn cái iphone. Còn youtube. Còn Trịnh Công Sơn. Ta mở lại bản diễm xưa, hay Tình nhớ. Ta mở lại âm thanh, không phải xúi dục hận thù, mổ gan, mổ tim, mà những sợi nắng, sợi mưa… Và em nhắm mắt. Và ta nhắm mắt. Chưa bao giờ ta có thể chìm đắm vào trong cơn mơ như bây giờ. Ngày xưa, nếu thưởng thức, thì thưởng thức trong quán cà phê, lưng dựa vào vách, và mắt nhắm trong làn khói thuốc… Ngày xưa, chỉ một khoảnh khắc là súng dạn cướp đi hay những rượu đàn bà chiếm ngự. Nhưng bây giờ, bên em, bên chiếc giường sắt tự động, ta lặng hàng giờ,l nghe đi nghe lại, vì em muốn nghe…

  1. nhắm mắt. Không hiểu vì say mê với lời ca tiếng hát hay đã ngủ. Tôi cũng vậy. Cũng thiu thiu. Cũng những cơn mơ rất êm đềm rất ngà ngọc như trải giăng làm màn làm chiếu làm drap làm nệm.
    Cám ơn TCS. Giúp tôi ru dùm người bệnh giữa lúc tôi không còn gì để bấu víu.

 

Đón Tết

 

IMG_20170624_4

Những ngày gần Tết, năm nào cũng vậy, Oanh vẫn loanh quanh với những chuẩn bị. Gia đình có ba người, nhưng đối với nàng, gia đình đầy ấp. Người đã khuất, người còn sống. Và cả những vị thần linh hiển thánh. Các ngài đã hiện diện cùng khắp, trong từng thước khối không gian. Để mỗi buổi tối, các ngài được gọi về giữa màn khói nhang nghi ngút, trong lời khấn vái thì thầm của vợ chàng. Chàng đã để vợ tự do chọn lựa các vị Thần nàng ưa thích. Người ta đã từng nói đôi khi niềm tin là một phương thuốc mầu nhiệm. Với Oanh, điều này là tuyệt đối. Nhất là sau chuyến vượt biên hãi hùng. Nàng luôn luôn kể về một sức mạnh vô hình nào đã chở che, dẫn dắt con thuyền đến bến bờ bình an sau những ngày lênh đênh trên biển cả, hết lương thực, cạn xăng dầu, bị cướp, bị bão. Nàng luôn luôn nhắc về một đấng quyền năng cao cả luôn luôn hiện diện trong cõi trần gian, nghe lời nàng cầu xin, thương hại giúp đỡ nàng lúc nàng bất lực. “Anh thấy không, tự nhiên một gia đình vô sản như gia đình chúng ta lại có mặt tại xứ này. Anh thấy không…” “Anh thấy không, em cầu ông Địa, ông Địa nghe lời em liền hà.” khi chiếc chìa khóa xe, cái bóp, cái bằng lái xe bị rớt, hay bị bỏ quên ở đâu đó, được tìm lại. Nàng đã chỉnh chàng khi chàng vô tình viết chữ trời không chữ T hoa. Phạm Trời không nên. Nàng cũng trách chàng khi chàng kêu lên Ôi Trời. Kêu như vậy là phạm thượng. Ngài ở trên cao đều nghe rõ. Sợ Ngài giận Ngài phạt. Chàng nghe lời nàng như tên lính tuân lệnh quan ba. “Như vậy cũng hay. Vừa lấy lòng vợ vừa đẹp dạ Ông Trời”.

 

Những ngày gần Tết, cơn khắc nghiệt của thời tiết đã lên cao điểm. Tuyết cứ đổ xuống hết trận này đến trận khác, đến nỗi những xe công lộ phải làm việc túi bụi. Gió cuốn từng đám tuyết bay trắng xóa. Bầu trời xám đục, ít nắng. Cây cối trơ vơ những thân cành trơ trụi. Tuy vậy, trong nhà, Oanh đã chuẩn bị tất cả để đón mùa xuân. Những nhánh hoa đào hoa mai nhân tạo cắm trong bình đặt trên bàn trong phòng khách. Mức bánh đặt gọn gàng trong hộp. Dưa hấu đỏ, và bánh chưng xanh đã sẵn sàng. Những phong bì đỏ để mừng tuổi, dù ở vùng này, không có lấy một gia đình đồng hương. Nàng đã cẩn thận ghi cả ngày giờ tốt để xuất hành. Nàng bắt chàng phải nghỉ ngày mồng một Tết, không được đi đâu. “Em xem lịch, xuất hành đầu năm không tốt đâu. Mồng hai là tốt nhất.” Nàng cảnh cáo chàng. Có lẽ nàng ngại chàng sẽ phá lệ ra quán cà phê nhìn cô nàng mắt xanh như mọi buổi sáng khác.

Đêm giao thừa, tuyết lại rơi. Trận bão tuyết đã bay ra biển Đại Tây Dương nhưng ảnh hưởng của nó vẫn còn lẩn quất trong nội địa. Tuyết rơi trắng xóa trên mái nhà, trên những hàng cây sồi, trên sân cỏ. Cả gió cũng vần vũ. Từ trong nhà, chàng nhìn ra ngoài. Oanh đã cảnh cáo chàng không được buồn, phải cười, phải vui, phải yêu đời, để cả năm vui cửa vui nhà. Nàng làm sao biết tâm trạng của chàng lúc này. Tê tái buồn. Chàng nhớ đến quê hương. Nhớ đến đêm giao thừa cũ. Nhớ đến bàn thờ tổ tiên. Nhớ đến  tiếng reo lách tách của bếp lửa và nồi bánh tét ấm cúng. Nhớ đến người con gái hàng xóm đi lễ chùa, áo vàng xinh đẹp làm sao. Nhớ đến bạn bè luân lạc, đứa mất kẻ còn… Tại sao lại phải nhớ hoài về một nơi chốn chỉ thấy chiến tranh thù hận triền miên. Tại sao lại không bằng lòng với hiện tại. Thì ra, đời vẫn có những điều rất nghịch lý.

Oanh đã cúng rước ông bà xong. Chàng nghe nàng khấn: “Lạy ông bà, gia đình chúng con xin cúng mâm cơm chay để rước tổ tiên ông bà về vui xuân với chúng con.” Nàng lại hối chàng vái ông bà. Bây giờ chàng chẳng khác là cậu học trò. Chàng hỏi: “Vái sao em ?” “Thì cầu xin ông bà phù hộ anh được ngồi mãi cùng cái job, phù hộ cho con mình học hành tấn tới” Chàng nghe lời, nhưng thật sự chàng cảm thấy hết sức khó khăn, như mỗi lần chàng được yêu cầu dành một phút mặc niệm cho những chiến hữu, đồng bào, bà con ruột thịt trong các buổi lể. Không biết trong lòng những người có mặt, có ai để lòng thật sự mặc niệm hay chỉ nhắm mắt để mà nhắm mắt ?

 

Sau đó, chàng và nàng xuống phòng khách. Nàng lại nói: “Ngày mai, anh nhớ đừng mang rác ra như thường lệ. Anh cũng phải tránh nổi giận, chửi thề, không hút thuốc.” Chàng muốn kêu lên : “Thì như vậy, sống để làm gì hở em?” Nhưng chàng phải cố nén. Phải vui. Chàng tự hứa. ít ra đêm nay, khác với mọi đêm.

 

Kim đồng hồ sắp nhảy lên số 12. Chàng nhìn vợ, muốn nói một lời chúc tụng. Nhưng chàng thấy trên má nàng hai giọt lệ lăn xuống. Nàng chùi mắt, mếu máo: “anh ơi, em nhớ má quá đi.”