cháu nội

Từ khi ông được thăng lên chức ông nội, ông mới hiểu đó là một phần thưởng ưu hạng mà thượng đế dành cho một đời người lúc về chiều. Món quà ấy đến lúc vợ chồng ông phải thui thủi trong căn nhà trống trải, đôi khi nỗi buồn hiu quạnh như rưng rưng trên những nhánh cây phong, cây sồi, mà lá mỗi năm lại xanh đó, vàng đó, úa héo đó, khi mà cảnh vật như héo hắt đến não nề. Nó có mặt khi mà ông gậm nhấm được thế nào là tuổi xế, tuổi già, tuổi về hưu, tuổi lão. Khi mà bốn bức tường trắng soi bóng ông mỗi ngày, trong khi cái kim đồng hồ như lưỡi hái tàn bạo cắt bỏ đi không thương xót những phần sinh động của đời. Mắt đã lóa, trí nhớ đã mòn, tóc đã bạc, da đã nhăn. Nó đến khi hơi thở đã hụt, và có những nỗi u hoài man mác khi ông nhìn trời đất, hay chạnh lòng khi nhìn một nghĩa trang xếp hàng những ngôi mộ bên đường hay đọc những tin cáo phó, phân ưu trên các báo.

Phải. Đó là tin mừng. Vợ con sinh rồi. Tại bệnh viện X. Số phòng. Chỉ một cái tin đánh lên từ xa vào nửa đêm từ thằng con là như một tín hiệu kỳ diệu. Để ông bà phải hối hả lên xe, và lên đường giữa đêm khuya với tất cả sự náo nức.

Náo nức đến độ ông quên nghiên cứu bản đồ về địa điểm phải đến, nơi mà đứa bé mà ông gọi là cháu nội, mở mắt chào đời. Ông cũng quên mang cả áo lạnh. Còn phần bà, thì hối thúc ông không kém. Bên tai ông bây giờ chỉ vang vọng hai tiếng rất yêu dấu. Cháu nội. Hai tiếng lạ lẫm, bây giờ trở thành quen thuộc. Cháu nội. Phần quà quý báu đến với đời người có phải để làm sưởi lại những ngày tháng quạnh hiu? Cháu nội. Với quả đất này, thêm một con người nữa góp mặt vào cõi nhân sinh đông đúc, và với đất nước này có thêm một công dân, với giòng tộc ông, hay nói riêng, với cái gia đình tị nạn này sau hai mươi lăm năm ở xứ người, nó là cái chồi để từ đó nó đâm nhánh tỏa cành sum suê hoa trái. Cháu nội. Cám ơn thằng cháu vì nhờ nó mà ông bà mới có được niềm vui hân hoan trong bóng xế chắc chắn là không vui. Thật vậy, có ai dám nghĩ đến cảnh cô liêu của người già phải chạm trán nhất là người ấy có một quê nhà phải bỏ mà đi. Có ai dám nghĩ về những bước gậy trúc khấp khểnh, và một mặt trời đỏ ối trên hàng cây thánh giá. Cháu nội. Hay là một bông hoa quý mà tuổi già được nhận từ đời trong khi thân cây đã sắp hết nhựa?

Trong cõi đêm dày sương mù có hai kẻ đang cố gắng tìm đường qua tiểu bang lân cận. Mắt ông kém, nhưng chân ông đạp mạnh ga. Bà luôn luôn cảnh cáo về cái kim vận tốc đã vượt xa giới hạn. Những chiếc xe chạy muộn màng, mờ ẩn hai ngọn đèn pha khi xe lên cao. Những cửa nạp tiền mãi lộ (toll) chắn lối. Ném đồng tiền vào chiếc rổ lưới sắt, và lại rồ máy nhấn ga. Có khi qua vùng núi, sương che phủ đến ngợp thở, mà sao ông vẫn quên đi nỗi mệt nhọc hay cơn buồn ngủ, để lòng cứ bồi hồi nôn nao. Và khi trả chặng cuối cùng, ông hỏi người thu tiền về thị trấn mà ông đang tìm đến. Bà ta sốt sắng chỉ vẽ, và khi ông kể là ông đi thăm cháu nội đầu của ông, là bà ta reo lên: “Congratulations!” để chia sẻ niềm vui với ông. Vâng, cảm ơn bà. Và cảm ơn cuộc đời. Cuộc đời đã dâng tặng biết bao niềm vui kỳ diệu. Có điều là mình không biết đón nhận đó thôi, phải không thưa bà. Tôi biết là nửa đêm này, có một cặp vợ chồng trẻ đang ngất ngây vì có đứa con đầu lòng, thì cũng có một đôi vợ chồng già đang vui mừng quá độ vì có đứa cháu đầu tiên. Khi lửa sắp nguội tàn thì vẫn có ngọn lửa khác cháy lên. Khi sự sống sắp khô héo thì vẫn còn sự sống khác tiếp trợ. Phải vậy không, thưa bà?

Đêm lăn đều trên bốn bánh xe. Những con đường vắng xe thưa thớt. Những ngôi nhà bên đường đóng cửa. Thị trấn đã chìm trong giấc ngủ say. Chỉ có một tiệm fast food còn mở cửa. Ông ghé hỏi thăm đường. Người bán hàng ân cần chỉ dẫn. Ông ta lại lo lắng hỏi: “Bộ ông bà có chuyện gì emergency mà hỏi bệnh viện?” “Không, chúng tôi đến thăm cháu chúng tôi mới chào đời.” Người đàn ông đưa tay bắt: “Congratulations!

“Congratulations! Chúc mừng!” Từ người thu tiền mãi lộ đến người bán hàng đêm. Và có lẽ, khi nghe tin này, không một ai lại không chia vui giùm ông bà. Ông theo hướng chỉ, chạy chậm để tìm tên đường. Và bên cạnh ông, bà reo lên. Bệnh viện đây rồi. Xe vào parking trống trải. Dễ chừng hai giờ sáng. Người nữ y tá trực sau khi nghe ông giải thích lý do, cũng buông lời chúc tụng. Congratulations! Rồi ông bà lên thang máy. Ở đây, người nữ hộ sinh hướng dẫn ông bà vào phòng nghỉ hộ sản. Cậu con trai xem như con chim trống, đứng đấy, không biết làm gì. Cô dâu gương mặt rạng rỡ niềm vui. Chúc mừng một đôi vợ chồng được lên ngôi vị là cha mẹ. Bé nằm trong nôi, được quấn trong chăn chỉ chừa mặt đỏ hỏn. Chúc mừng vợ chồng hai con… Bà nói. Ông áp mặt vào cháu ông. Miệng bé khẽ mở. Ông bỗng nghe lòng thật ấm áp vô cùng. Một nỗi ấm áp khó có thể diễn tả.

Sự mầu nhiệm kỳ diệu của cuộc sống là đây. Bắt đầu là một hài nhi đỏ hỏn, đôi mắt nhắm nghiền. Ông nắm bàn tay của nó. Ông bồng nó vào lòng. Nhỏ bé trong vòng ôm, ông áp mũi lên đầu, ông khe khẽ hát ru.

Bắt đầu từ đó, hai vợ chồng ông có thêm niềm vui mới. Những niềm vui nho nhỏ mỗi ngày mỗi nẩy nở, như những giọt nắng lóng lánh trong cảnh cô tịch của tuổi già. Ngày ngày bà gọi điện thoại để hỏi thăm về đứa cháu. Hàng ngày ông bà nhận được những tin tức báo cáo về nhân vật mà ông phong là “thống soái tý hon”. Và cứ một hay hai tuần, ông bà đều lái xe trên ba tiếng đồng hồ để thêm một lần bồng ẵm, nưng niu đứa cháu nội của mình.

oOo

Khi ông bà đến nhà, nhấn chuông, và khi cửa trong mở ra, thì gương mặt thằng cháu nội hơn một tuổi của ông bà hiện ra sau tấm kính. Trước hết là vẻ ngạc nhiên của nó qua cái nhìn đăm đăm chẳng hiếu khách tí nào. Có lẽ nó ngạc nhiên vì sự có mặt của hai người, lâu lâu lại cùng nhau xuất hiện. Có lẽ nó chưa đủ trí khôn để phân biệt thế nào là sự gần gũi ruột thịt ngoài bố mẹ của nó. Đôi mắt đen láy của nó hết rảo nhìn ông rồi đến bà, có vẻ lạnh lùng, chẳng có dấu hiệu gì mừng rỡ cùng hai kẻ lạ. Chỉ có ông bà thì như hai cơn gió lốc. Ông đòi bồng, bà đòi ẵm. Ông hôn lên đầu, bà hôn lên chân. Ông cắn lên bàn tay, bà hít hà má. Thằng bé lại càng mở mắt lớn. Có lẽ nó phải khóc thét lên vì khi không có hai kẻ vồ chụp nó như con mồi. Nhưng nó bắt đầu nhoẻn nụ cười. Bây giờ nó mới tỏ vẻ thân thiện. Nó cười khanh khách khi ông áp mặt ông vào ngực nó. Đôi mắt sáng làm gương mặt nó càng rực rỡ. Bây giờ ông mới để ý đến những sợi tóc loe hoe tuần trước nay đã trở nên rậm hơn, dầy hơn. Nó ngẩng đầu nhìn ông như một quan tòa. Một bàn tay sờ lên đầu tóc ông và bàn tay kia đã vội vàng chụp lấy cặp kính lão. Có tiếng mẹ nó cảnh cáo: “Coi chừng cái kính của ba”. Ông hốt hoảng giữ chiếc kính khỏi rớt. Mẹ nó lại cảnh cáo: “Chiếc kính của ba nó cũng bị nó làm hư gọng rồi. Nó hư lắm, gặp cái gì cũng phá…” Ông hôn lên đầu tóc của cháu mình. “Nhiệm vụ của cháu tôi là phá. Ai bảo các người không chịu gìn giữ… Phải không con?” Rồi ông lại ôm siết nó. Ông nghe một nỗi yêu dấu ruột rà trong vòng tay của ông. Như thể là một phần người của nó chuyền vào người ông. Mùi sữa vẫn còn thơm thơm. Ông siết mạnh đến độ thằng bé phải vùng vẫy, cục cựa tay chân, mặt đỏ gừ. Ôi cái mặt bầu bĩnh, những sợi tóc loe hoe, những ngón tay bé tí, mũm mĩm. Chiếc miệng lộ mấy răng cửa. Chiếc tã nổi phồng ở đáy quần. Đôi mắt đen lay láy. Ông cắn khẽ vào tay chân nó. Ông áp mặt vào lòng nó, đưa qua đưa lại giả vờ thụt lét. Nó nhắm mắt cười có vẻ thích chí. Sau đó nó lại nhìn ông. Bàn tay lại cố giựt lấy chiếc kính. Hình như nó xem chiếc kính là một thứ đồ chơi cũng nên.

Thằng bé không chịu ông đứng yên một chỗ. Nó bắt đầu vặn mình, hai chân đạp. Có lẽ nó không cần biết về cảm xúc của ông nội của nó. Ông tuân phục, bồng đi khắp phòng. Tới cửa kính, ông dừng lại. Thằng bé trao đôi mắt nhìn ra ngoài sân. Trời nắng. Mây màu xanh nhạt. Bải cỏ xanh. Hàng xe đậu dọc theo lề đường. Hai đứa bé Mỹ đang đạp xe đạp trên lối đi dành cho bộ hành. Ông thầm thì bên tai nó: Mau lớn lên để ông mua xe cho con đạp nhé.

Đến một lúc nào đó, hai tay ông cảm thấy rã. Ông trao lại cho vợ ông. Và thằng bé lại thêm một lần đổi chủ. Có lẽ nó quá chán với cảnh kẻ bồng người ẵm này, nên nó bắt đầu phản kháng. Hành động phản kháng này được biểu lộ qua hai chân chùi xuống, thân mình vùng vẫy. Nó muốn được tự do. Nó tụt xuống nhanh, đến nỗi bà nội của nó phải bó tay chịu thua. Không biết nó học ở đâu hành động phản kháng qua đường lối tích cực này. Không khóc, không nằm vạ, mà vùng vẫy rồi trườn cả thân hình như trăn xuống đất. Không ai có thể cản nó khi nó muốn. Và khi đôi chân vừa chạm xuống đất là nó bước như chạy. Đôi chân chưa vững, bước thấp bước cao, có lúc như thể hụt hẫng, thân hình như mất thăng bằng, khiến ông bà phải hoảng hốt, đưa tay đỡ. Ông ở góc phòng, bà ở đầu phòng. Và thằng bé thì cứ bước như bước vào chỗ không người. A, nó đến kệ sách của bố nó. Những cuốn sách dày cộm, bìa bọc giấy láng, người lớn cầm thấy nặng, vậy mà nó lại dám bỏ bàn tay nhỏ bé kia mà tìm cách lôi xuống. Không được, cậu quay sang mấy cái CD, rồi đổi hướng nhắm vào dàn máy stereo. Tội tình cho dàn máy hát tối tân, bị vá chùm vá đụp bởi băng keo, để đề phòng cậu bỏ tay vào lỗ điện nguy hiểm. Ông nhào đến, lái cậu sang mục tiêu khác. Ông bồng cậu bỏ lên sofa. May ra cậu ngồi yên một lúc. Quả vậy, cậu thích chỗ mới này. Hai chân duỗi ra. Mắt nhìn ông lung linh, miệng cười vui. Ông giả bộ làm chó, sủa gâu gâu. Cậu khoái lắm, cười thành tiếng. Được thể ông càng sủa nhiều hơn. Càng đóng vai một cách điệu nghệ hơn. Có nghĩa là ông nhăn mặt, lè lưỡi, bò, sủa. Tất cả cho thằng cháu một tuổi của ông. Tất cả vì nó, để thấy mặt nó hớn hở, đôi mắt rực sáng, chiếc miệng nở nụ cười lộ mấy cái răng cửa mới mọc. Ông không cần nhân vị, nhân bản gì ráo. Ông là một thí sinh để cháu ông chấm điểm. Nhưng sau đó, chưa đầy hai, ba phút, ông bị loại. Có nghĩa là nó chẳng còn hứng thú gì đến tài năng điệu bộ mà ông nội của nó thủ vai. Nó bắt đầu tuột xuống sofa. Không phải tuột từ từ cho đến khi hai chân chạm lấy nền. Mà ngược lại, chân chưa chạm thì đã để cả thân hình rơi xuống như nhảy không cần dù. Nó ngã lăn ra trên nền thảm, miệng mếu. Vợ ông vội bồng nó, vừa dỗ vừa nói: “Này, để bà đập cái nền nhà này đã làm cháu bà đau, này bà đánh rồi…” Thằng bé ngưng khóc, lại trao đôi mắt ngơ ngác nhìn. Rồi lại đòi xuống. Rồi lại chạy, hai chân mới tập bước, chưa vững, ngả nghiêng như kẻ say rượu. Rồi ông lại chạy theo, lúc trái lúc phải lúc chặn đầu chặn đuôi. Có khi ông hết hồn vì thấy nó cứ đâm đầu vào bàn ghế hay cạnh tường nhà. Nhưng nó tài tình hãm kịp bước chân, rồi quay hướng khác tiếp tục.

Ông lại nghĩ ra cách quyến dụ thằng bé để nó quên đi cái lối chạy như kẻ say rượu này. Ông đã mệt rồi. Ông mới hiểu về nỗi vất vả của những người giữ trẻ, nhất là đứa trẻ mới biết đi này như cháu ông.

Có bao giờ ông nghĩ có một ngày trong đời ông lại được lên chức như hôm nay. Nên buồn hay vui khi nhận cái danh xưng này. Có phải vì hai tiếng ông nội là tiếng kêu báo hiệu cho những ngày trước mặt: xế tàn, hay nói văn hoa là hoàng hôn của một đời người. Có phải nó là lời cáo phó cho một cuộc đời bị gạt ra bên lề xã hội?
Nhưng, bây giờ thì ông hiểu, ông đang vui, niềm vui thì tràn trề, niềm vui bất tận.

Đã bao nhiêu lần hai ông bà lái xe đi thăm cháu nội. Suốt ba tiếng đồng hồ, qua bao nhiêu thị trấn, phải trả mấy lần toll, có khi trời tuyết trắng mịt mù, có khi mưa xối xả như trút nước, cái quạt thi nhau quạt liên hồi, ấy vậy, lòng ông thì hăm hở như kẻ đi tìm niềm vui. Đến để nhìn cháu, thấy lại nỗi thân yêu ruột rà. Đến để chứng kiến sự phát triển một hình hài. Từ khi thấy nó bò, mắt đen lay láy, rồi đến khi tập đứng, tập đi, tập chạy… Tóc đã mọc dầy hơn. Chân tay cứng cáp hơn. Răng mọc nhiều hơn. Để thấy mấy tuần trước, mỗi lần đi là như tay say rượu, nay hai chân đã vững, bước từng bước…
Để rồi mỗi lần thăm cháu, là mỗi lần ông mang theo niềm vui rộn ràng suốt cả đường dài.

Bây giờ, cậu bé yêu quý ấy đã hơn ba tuổi. Khác với những đứa trẻ trạc tuổi, nó chậm nói. Nếu nói thì nói một thứ tiếng gì lạ lẫm. Tuy không nói ra, ba mẹ nó đều lo âu không ít. Riêng bà thì luôn luôn dùng kinh nghiệm của bà để an ủi con: Nó nghe được là không sao con à. Có đứa bốn năm tuổi mới nói. Lúc đó thì tha hồ mà trả lời…

Việc nói chậm này đôi khi làm ông bà khổ tâm không ít. Có khi nó vòi vĩnh hay kêu ông bà làm cái gì, ông bà không hiểu, hay làm trái ý, là nó dậm chân khóc, tức tửi. Ông bà thì chịu thua. Ba mẹ nó cũng chịu thua. Khi ấy ông thương cháu mình vô hạn. Muốn thỏa mãn cháu, nhưng không biết cháu mình muốn gì.

Ngày tháng vẫn trôi qua, mỗi lần hai ông bà lái xe vượt xa lộ thăm thẳm, để thăm con, thăm cháu, niềm vui rộn ràng lẫn với nỗi lo âu canh cánh. Thằng bé vẫn lớn như thổi, răng đã mọc đầy, chạy nhảy, phá phách, biết ông bà đến, biết phe ta có ông bà, nên mặc sức nhõng nhẽo. Rõ ràng con hư tại mẹ cháu hư tại bà. Nhưng tiếng nói thì vẫn như tiếng Miên, tiếng Ả Rập lạ lùng…

Một hôm, chiếc xe đậu trước nhà, sau ba tiếng đồng hồ dưới cơn mưa tuyết, thả ông bà xuống cùng niềm vui khó có thể diễn tả được. Đã một tháng đi xa, giờ ông bà trở lại thăm con thăm cháu. Bà xách một bọc đồ chơi, nào là xe chữa lửa, xe truck, xe cần câu. Ông bấm chuông điện. Ông nhìn vào nhà qua khung cửa kính. Ông thấy cháu ông chạy ra như cơn lốc. Và tiếng la mừng rỡ: “Ông nội! Ông nội!” vang lên rối rít.

Ôi tiếng đầu lòng của một đứa cháu nội. Nó không phải là  tiếng Anh tiếng Mỹ. Nó cũng không phải tiếng đầu lòng đầy ô nhục trong Yêu biết mấy khi con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin mà ông Tố Hữu đã ca tụng! Ôi, hai tiếng ông nội! Tiếng reo giòn, mừng vui,  giọng phát âm vẫn còn lơ lớ, nhưng đã mang theo một sức thuyết phục kỳ diệu. Ông ngây người, bàng hoàng không thể tin nổi. Rồi sau đó ông ôm choàng lấy cháu ông, bồng nó lên. Cảm giác ruột rà yêu thương lẫn hãnh diện bắt ông phải hôn lên đầu tóc thằng cháu túi bụi… Nó tránh né, che mặt, che tay. Nó làm sao biết được nó vừa cho ông bà nội của nó một quà tặng quý giá nhất trần gian này.

Trần Hoài Thư

Cuối năm bên dòng sông Hudson

      tinhhoaihuong-ngocha_3934g

images (2)

Trở lại dòng sông này mấy bận
Bên kia thành phố đã lên đèn
Cơn mưa nhoà nhạt hoàng hôn lạnh
Chiều cuối năm trời mau tối thêm

Mưa phủ trường giang không thấy bến
Nơi này, nơi ấy như hôm qua
Con sông vẫn một vùng sương khói
Vẫn buồn theo lau lách bờ xa

Sông vẫn hắt hiu con phà đậu
Vẫn bầy chim biển tiễn chiều đi
Sao sông không thấy con đò cũ
Chở người về bên nớ bên ni

Sông vẫn mênh mông và mênh mông
Đây là đâu hay dòng sông Hương
Thèm ơi, một chuyến phà năm cũ
Một chuyến phà chở hết quê hương

Thèm ơi một chuyến phà Thừa Phủ
Chở những người áo trắng qua sông
Có bao cô gái qua Đồng khánh
Để tôi còn đốt thuốc chờ mong

Thèm ơi bếp lửa đêm trừ tịch
Chiều cuối năm rồi, anh nhớ em
Nhà em bên ấy dòng sông nhỏ
Bông cải mùa xuân vàng rộ sân

ừ nhỉ, cuối năm nơi đất lạ
Mưa mênh mông và sông mênh mông
ừ nhỉ, hình như lòng rướm lạnh
Tiếng còi phà u uẩn hoàng hôn

Tiếng còi phà đã dục từ lâu
Phà ơi, phà ơi cho ta một góc
Ta sẽ đứng yên như người Từ Thức
Và cô đơn như cùng tận cô đơn
Như một người không có quê hương

TRẦN HOÀI THƯ

banh áo….

tht-hdn
THT và Hồ Đình Nghiêm tại Montreal Canada

Tấm hình trên chụp tôi (THT) và nhà văn Hồ Đình Nghiêm tại Montréal cách nay rất lâu, 10, 15 năm, có lẽ.
Cám ơn nhà văn HĐN đã đăng cái hình trong bài “Hoài Cổ” viết về THT (Blog tranthinguyetmai.wordpress.com), mà có lẽ   nó là  tấm hình “hoành tráng”  nhất trong số những tấm hình chụp kẻ này. Ít ra nó không bắt thiên hạ thương hại giùm: “Sao mà THT  dâo này lại thảm quá chừng!” 
Nhìn hình, quí bạn sẽ nhận ra một điểm chung giữa hai đứa chúng tôi là   cả hai đều để áo jacket  banh ra, nút không cài . Đối với bạn tôi, tôi không hiểu đó có phải là thói quen hay không, nhưng đối với tôi,  đây là một thói quen.  Như tấm hình chụp dưới đây khi tôi đưa bà xã đi chùa Thái Lan cách chỗ ở khoảng 2 tiếng đồng hồ  lái xe , khoảng 4 năm về trước:
 img_4515

Nhìn xung quanh ai cũng quần áo chỉnh tề,  cung kính. nhìn mình thấy như môt tay anh chị du côn, xem chỗ tôn nghiêm không ra gì. Lại ưởn ngực, để người khác chụp hình mới mất dạy chứ !
Không phải thế đâu !

Nếu kết tội thì kết tội  cái thói quen.

Thời trẻ  áo banh vào trận mạc
Bây giờ  banh áo  đẩy xe lăn !

Cái thói quen từ  thời đánh giặc. Trong khi tcó kẻ gân cổ xem cái chết tựa lông hồng,  nhưng áo giáp che thân, áo bào che ngực, nón sắt che đầu còn  ta thì mũ rừng nhẹ hẩng, không áo giáp che mình, đưa bộ ngực lép ra mà hứng đầu tên mũi đạn trước hết vì là lính thám kích, khi gặp bạn thì mặc  bom dội pháo rền, rũ vào quán tiếp tục banh áo:

Chiến tranh thì vẫn là tranh chiến
Mặc. Kéo nhau vào quán chị Hai
Mặt trời đỏ ối trên vàm xáng
Banh áoNgâm bài thơ Cổ Lai
 
Hớp rượu cay cay chiều nhạt nhạt
Rừng lau trắng bạc dòng kinh xa
Ai ngồi đốt thuốc trên bờ xáng
Hay lính bộ binh quá nhớ nhà?

Cái thói quen banh áo, vì để hứng gió, cũng như vì ngứa ngáy mấy thứ phù vân trên người, muốn trần truồng, muốn kêu gào tự do muôn năm, muốn thơ phải nóng với rượu để cuồn cuộn chảy trong người… Không ngờ nó lại nằm trong máu thật, khổng chiu rời để bây giờ lại thêm một lần banh áo bên bạn ta, cũng như trong sân chùa !

Thói quen gay go nhất là nghiền như nghiền thuốc đánh bạc, chơi bời ta có thể bỏ được thì thá gì đển cái chuyện banh áo ngâm bài thơ cổ lai hay :” thời trẻ áo banh vào trận mạc/bây giờ  banh áo đầy xe lăn” !
Nhưng nghĩ lại cho kỹ, nó chẳng đụng đến ai, hơn nữa bây giờ muốn nhưng không bao giờ có được một lần thứ hai, khỏi cần bỏ làm gì.

Có phải vậy không?

Nhân vật người lính miền Nam dưới cái nhìn của hai nhà văn đảng viên CS  gốc lính QLVNCH: Thế Vũ và Ngụy Ngữ.

 

Tản mạn của Trần Hoài Thư

Hai người viết trẻ mà sau năm 1975 trở thành đảng viên Cọng Sản, làm việc trong lảnh vực văn hóa là Ngụy Ngữ và Thế Vũ. Ngụy Ngữ chuyên về viết kịch bản, phim bản. Và Thế Vũ, chức vụ cuối cùng là Phó Tổng Thư Ký tạp chí Thanh Niên thành phố HCM.

Văn tức là người. Qua những sáng tác của họ trước 1975, người đọc có thể hình dung ra những tư tưởng khuynh tả, bất mãn với chế độ, chống Mỹ. Tuy nhiên có một sự khác biệt giữa họ là một đàng, Ngụy Ngữ chửi rủa hàng ngũ quân đội miền Nam, từ thương phế binh, đến người lính, và công khai ca ngợi phe địch… Còn Thế Vũ thì khác, trong hầu hết các truyên mà tôi được đọc, hầu như chúng ta thấy nhân vật nguời lính của Thế Vũ  là nhân vật đáng thương, là giàu tình nhân bản. Không bao giờ đọc một lời nguyền rủa, khinh mạn, mạt sát như Ngụy Ngữ đã viết trong hầu hết các truyện ngắn trên tạp chí Vấn Đề.

Tại sao tôi lấy Thế Vũ để chứng tỏ những điều mà Ngụy Ngữ viết là láo khóet, bịi đặt, vu khống. Bởi lẽ nếu lấy một tác giảkhông phải là đảng viên CS, thì việc chứng tỏ này có thể bị ngộ nhận do ở vị trí và  cách nhìn chủ quan về cuộc chiến của mỗi tác giả  chăng.

 

Khi kể về một đơn vị lính miền Nam ghé qua một thành phố, Ngựy Ngữ viết:

Thành phố đang sinh họat bình thường. Chợt có tin lính rằn ri đổ đến, tất cả nhốn nháo sợ hãi và những cánh cửa tiếp theo nhau khép nhanh lại, chợ tan, người thưa thớt tới lui khép nép, khắp các đường lớn đường nhỏ không còn một bóng gái trai… (Phố miền Nam – Vấn đề 50 tháng 9-71). 

thì Thế Vũ tả cái cánh phố miền Nam ấy như sau:

Phố buổi tối cũng khá đông người. Con phố chính mở cửa cũng đến hơn mười giờ. Quanh chợ những gánh quà lặt vặt đặt sát bên nhau, những xe bánh mì, nước ngọt, những sạp báo và tạp hóa, những gánh bắp từ các rẫy xa đưa về, lửa than hồng và mùi bắp tươi nướng tỏa ngát. Đủ mọi thứ sắc áo  lính xuôi ngược, những biệt kích quân, những toán biên phòng, những đơn vị địa phương hay cơ động, tất cả hầu như đều mới trở về từ những cánh rừng xa, những tóc râu bơ phờ, những quần áo bẩn nhớp , những đôi giày trận sờn rách bạc màu, những khuôn mặt mệt mõi và ê chề. Sinh họat của thị trấn như tùy thuộc hoàn toàn vào mức độ giao động ở vùng biên giới, với những đoàn quân tình cớ ghé lại một đêm, với những thương binh vừa bắt đầu bình phục trong bệnh viện dã chiến lếch thếch băng qua những con đường cho đỡ nhớ. Những nửa đêm về sáng thị trấn có thể thảng thốt lắng nghe tiếng chân loạng choạng bước đi của bọn lính say khướt mù dắt nhau tìm lối trở về đơn vị tiếng la hét, tiếng khóc lóc thảm thiết của bọn người sống bằng súng đạn chiến trường và cái chết đè nặng trên cuộc đời lâu dần không làm thị trấn buồn tủi nữa, giòng sông nước đục lờ vẫn không ngừng chẩy ngược về rừng như họ rồi sẽ được trả trở ra vùng biên giới, ở đó ngày tháng là bóng tối và ánh sáng, đời sống là sự kéo dài cái chết của chính mình yà trái tim cơ hồ như đã không còn đập trong lồng ngực của họ nữa…

(Thế Vũ : Ngoài sân bay, Trình Bày số 30  ngày 22-10-1971)

Về tình đồng đội thì trong lúc  Ngụy Ngữ  dùng tạp chí  Vấn Đề do Mai Thảo và Vũ Khắc Khoan chủ trương để trút những hằn học căm hận lên  hàng ngũ quân đội VNCH, gọi thương phế binh VNCH là “ bọn què quặt hết thời”,  phết sơn đen lên một tập thể lính miền Nam ư là  “những con thú tật nguyền” một bọn “bệnh họan”, “say sưa”, “phá phách”, không lý tưởng….Ngay cả người sĩ quan Dù miền Nam mở chốt lựu đạn tự sát trên đồi máu sau khi đồi bị tràn ngập thì  cũng bị NN đem ra mai mỉa bởn cợt “anh chưa chết đâu anh”. Trong khi đó thì  người chị “bên kia” là “chị Hà” –  kẻ mà “với vô số máy thu thanh lảm nhảm từng ngày bây giờ, chị Hà được kể vào hàng ngũ những người lầm đường theo giặc”, thì NN cũng mượn ý của đại tướng McArthur để  thôi bong bóng lên tận chín tầng mây:

“Chị Hà (…) đã nhập vào đoàn người đã mờ trong u chiều vô danh của đất trời vạn cổ; mờ và không bao giờ mất

Thì ngược lại, trong lúc trốn ẩn ở Saigon, sau khi “tự ký phép”,  Thế Vũ đã nhớ thê thiết đến đồng độ của mình:

“Sau những ngày đầu tiên cố gắng du mình vào nhịp sống khá lạ lẫm của thành phố bởi những năm tháng trước đó mãi mê hì hục cầm súng, bên cạnh những khuôn mặt bạn bè thân thiết ngày xưa cũng vừa mới trở về, tôi bắt đầu nghĩ tới những lá thư mà mình dự tính viết cho những người ở xa.

Lá thư thứ nhất cho người bạn chiến binh còn trôi nổi ngoài chiến trường biên giới. Đó là người đã chia cho tôi những điếu thuốc lá nghèo khó ngày tôi mới ra trình diện đơn vị, người đã hằng đêm nằm chung với tôi trong một căn lều dã chiến, đã từng dìu tôi trong những cơn say khướt mù ở hậu cứ, ở thị trấn đừng quân, đã an ủi tôi trong những cơn đau đớn tủi nhục, và cuối cùng đã xót xa giúp tôi (..) thoát khỏi những vòng kẽm gai đồn binh một ngày cuối tháng Tám. Tôi muốn viết cho người bạn của tôi một lá thư, trong đó có thể tôi sẽ nhắc lại những lời cuối cùng mà người bạn đã buồn bã nói với tôi, có thể tôi sẽ chỉ nói cho người bạn biết rằng tôi vẫn bình yên, tôi đang tự do, tôi đang sống sung sướng một cách khốn khổ và đơn độc, có thể tôi sẽ nói về những kỷ niệm hay những mơ ước cũng có thể, để kéo dài đủ một trang thư, tôi sẽ nói với người bạn về bao nhiêu điều khác. Nhưng sau một vài lần cố gắng, bởi những thôi thúc chân tình một cách kỳ quặc, tôi không thể viết được. Đầu tiên tôi nghĩ có thể người bạn không còn ở đơn vị nữa : chết, đào thoát hay thuyên chuyển về một chiến trường khác hoặc vào tù. Kế tới, tôi nghĩ biết đâu người bạn không đau xót hơn khi được tin tôi, dù sao tìm thấy tự do một cách nào đó ở thành phố vẫn là một mơ ước lớn lao cho những kẻ còn cầm súng ngoài chiến trường trong cuộc chiến nầy. Sau cùng, ít ra trong hoàn cảnh nầy hay bạn tôi ở ngoài kia cũng có một người , mang vóc dáng bi đát. Tôi khốn khó và đơn độc đây hay người bạn đang bị câu thúc (..) ở ngoài kia đều là những hình ảnh bi đát khốn cùng dưới mắt kẻ khác. Sống bi đát, viết thư thăm hỏi một người bạn đang chịu đựng một cuộc sống không kém bi đát, lại nói về những điều chẳng vui gì hiện tại,quả thật là một việc làm quá sức buồn bã. Viết thư cho người khác là đi tìm một niềm vui khuất mờ ở đâu đó. Nhưng làm sao, tôi có thể tìm thấy niềm vui kia trong việc làm buồn bã của tôi.

(trich NHỮNG THƯ KHỐNG VIẾT ĐƯỢC,  Trình Bày  số  34 18-12-1971)

 

Tại sao Thế Vũ – một ngừii viết văn có khuynh hướng khuynh tả, chống đối chiến tranh, lại nhớ thê thiết đến đồng đội của ông?

Câu trả lời là tình đồng đội.

Có ở trong đơn vị tác chiến, có đánh giặc thật sự, có thấy bạn bè ngả xuống, có chia chung điếu thuốc, hay chén rượu đế pha co ca, mối hiều được cái tình này. Thế Vũ chẳng yêu gì đời lính. Ông không hối hận việc ông đào ngũ. Vậy mà lá thư thứ nhất ông dành trái tim mình cho người bạn cùng một đơn vị  với mình. Bởi ông đã nhận ra, không phải riêng ông mà tất cả đều mang vóc dáng bi đát. Đủ biết là tình đồng đội là mạnh mẽ đến dường nào.

 

Như vậy, tôi có thể khẳng định là Ngụy Ngữ chưa có một ngày tác chiến. Ông ta ở hậu cứ.  Trong các bài văn của Thế Vũ ta thấy địa danh nơi tac`giả viết là Cheo Reo, Dakto, Tân Cảnh. Còn địa danh Ngụy Ngữ ta thường thấy cuối bài là Blao. Blao là nơi đa số nhà văn nhà thơ trốn lính  ẩn dật thường tìm đến để chờ ngày hòa bình. .