Ý Thức: Tạp chí mang chuông từ tỉnh về đánh Saigon.

 

Ý Thức : giai  đoạn đầu tiên

 

 

Thế hệ chiến tranh là thế hệ của những người sinh ra, lớn lên trong khói lửa binh đao. Một thế hệ được tâng bốc lên tận mây xanh: Nào là “thanh niên là rường cột của nước nhà”… nào là “ nơi nào khó, có thanh niên…” nhưng ngược lại họ không có thẩm quyền  được nói trừ thẩm quyền được “hy sinh vì tổ quốc” hay được trở thành ” anh hùng”, “liệt sĩ.”.

Chính vì muốn gióng lên tiếng nói ấy mà  nhiều  tạp chí cũa những người trẻ ra đời. Kiểm điểm lại, trên giòng sinh hoạt văn học VN, có lẽ không có thời nào mà lưu lượng văn chương lại tràn trề phù sa chữ nghĩa như thời miền Nam trong giai đọan cuối những năm 60 và đầu những năm 70.Những tạp chí, những đặc san, những tác phẩm, chẳng những có mặt ở Saigon mà còn hiện diện ở khắp nơi, khắp chốn, từ một thành phố đông dân như Nhatrang, đến một thị trấn ít người như An Nhơn Bình Định. Những Khai Phá (Châu Đốc,1970-1971), Biểu Tượng (Vĩnh Long, 1968), Tập Thể (Vĩnh Long, 1973), Hoài Vọng ( Phan Rang, 1968-1969), Sóng (Tuy Hòa,  1965), Dựng Đất (Nha Trang) , Vỡ Đất (An Nhơn – Bình Định), Nhìn Mặt (Bình Định), Việt (Huế) , Ngưỡng Cửa (Quảng Nam), Trước Mặt (Quảng Ngãi), Nguồn (Cần Thơ), Vượt Thoát (Cần Thơ)v.v….. đã nói lên một nét đặc biệt trong nền văn học miền Nam thời chiến..

Tiếng nói ấy cất lên từ  những tỉnh lẽ ấy, chắc Saigon không hề nghe. Bởi nó chỉ giới hạn trong một phạm vi nhỏ. Nó không thể bay xa như ở Saigon, nhờ hệ thống phát hành hay có thể nhờ  qua quảng cáo…
Vây mà những người trẻ  ấy vẫn ra báo. Ra báo để có dịp viết. Không cần biết bài viết của mình có đến với người mình muốn gởi hay không. Như lá thư của Nguyễn Bắc Sơn trên tạp chí Sóng ở Tuy Hòa gởi Thiền sư Thích Nhất Hạnh, như sau:

” Khi anh chưa biết ” Sống để làm gì”, anh không thể khuyên bảo người khác nên sống như thế này hay nên sống như thế kia, nên tranh đấu cho lý tưởng này hay tranh đấu cho lý tưởng kia.

Các bậc đàn anh tôi kể tên (Kim Định, Hồ Hữu Tường, Nguyễn Mạnh Côn) giống như những kẻ chỉ đường sốt sắng trong câu chuyện sau đây:

Có một người khách lạ đi ngang qua một thị trấn. Trong thị trấn ấy có ba người sốt sắng. Ba anh chàng này chặn ông khách lại. Anh chàng thứ nhất bảo ông khách : “anh nên đi đường này”, trong khi anh chàng thứ hai bảo: ” không, đi đường kia mới đúng:. Nhưng anh chàng thứ ba lại bảo con đường anh ta chỉ cho ông khách mới thật là “con đường đúng nhất”. Ba người thi nhau vẽ bản đồ tỉ mỉ trình bày con đường mình đề nghị cho đến khi ông khách chậm rãi hỏi: ” Các anh có biết tôi định đi đến đâu không mà các anh sốt sắng chỉ đường thế ?”
(Thư Nguyễn Bắc Sơn gởi Nhất Hạnh, tạp chí Sóng, năm 1972, trang 38-39)

Và chắc chắn cũng có rất nhiều người khác nữa như Nguyễn Bắc Sơn. Họ cần gióng lên tiếng nói. Họ không thể nhờ Saigon để giúp tiếng nói ấy được cất lên. Và vì không thể nhờ nên họ ra báo. Vậy thôi.

:

bia Y thuc -3

 

 

Ý Thức là một trong số lượng  đông đảo  tạp chí ấy.

Người đầu tàu Ý Thức – nhà văn Nguyên Minh – kể lại việc in ấn  những số Ý Thức  đầu tiên ở Phan Rang nhu sau:

… Khi báo còn mang tên Gió Mai, số Xuân 67, bài vở của anh em Ngy Hữu đánh máy chữ trên tờ stencil bằng máy đánh chữ xách tay của nhà trường mà Ngy Hữu làm hiệu trưởng, và tôi nghĩ ra cách in rô-nê-ô không cần máy quay, chỉ cần một quai guốc nylon kẹp giữa hai miếng gỗ, đổ mực đen lên thẳng tờ stencil, phía dưới là tờ giấy trắng, rồi kéo mực xuống, thế là có một trang in. Bằng cách thủ công đó chúng tôi đã in xong một tập san văn nghệ dày cả 100 trang, số lượng 100 cuốn. Chữ nghĩa rõ ràng không lem nhem như một số báo thời đó in rônêô, phổ biến hạn che, thỉnh thoảng xuất hiện trong vài nhà sách.

 Rõ ràng là lối đánh giặc  theo kiểu nhà nghèo. Mấy mươi năm sau, tôi cũng bắt chước Nguyên Minh để thực hiện tạp chí Thư Quán Bản Thảo. Người ta nhìn vào những dụng cụ hay những phương pháp chúng tôi thực hiện, chắc họ sẽ phải phán: Nhà in thổ tả ! Vâng, thổ tả thật, bởi vì chúng chẳng phải là những máy móc hiện đại,  nhưng chính chúng đã góp phần vào một sự thành tựu là Ý Thức cũng như Thư Quán Bản Thảo càng ngày càng lớn mạnh càng bền vững.

Sự thành công nhất của Ý Thức là việc xuất bản tập truyện “Nỗi Bơ Vơ Của Bầy Ngựa Hoang” của Trần Hoài Thư  qua hình thức Roeno. Vì là sự thành công quá lớn, sách bán sạch, nên anh em Ý Thức quá vui. Và cũng vì quá vui , nên họ rũ nhau hội tụ tại Phan Rang. Đây là một cuộc hội tụ đáng ghi nhớ trong sinh hoạt văn học nghệ thuật miền Nam. Bởi nó dẫn đến việc làm tờ Ý Thức ở Saigon, không còn ở tỉnh lẻ nữa. Nó chính là một sự nhập cuộc tích cực của tuổi trẻ.Giống như cuộc họp  của khoảng 50 sinh viên Y Khoa tại Giảng đường đại học Y Khoa Sài Gòn vào cuối năm 1963 để quyết định thực hiện nguyệt san Tình Thương (Muốn biết rõ hơn mời đọc chương về nguyệt san Tình Thương).
Cuộc họp mặt của anh em Ý Thức  được nhà thơ Võ Tấn Khanh ghi lại như sau:
“… Đến số 6, Ý Thức in khổ nhỏ, xếp thành từng cahier và đóng chỉ, thành công. Nguyên Minh lại làm một bước đột phá mới: xuất bản tập truyện ngắn “Nỗi bơ vơ của bầy ngựa hoang” của Trần Hoài Thư, bằng kỹ thuật Ronéo, cũng nhờ anh em thân hữu phát hành và bán chạy. Ước mơ ôm ấp một đời lúc này đã có được những đợt quả đầu mùa vừa ý. Một cuộc họp mặt rộng rãi tại nhà Nguyên Minh. Lúc này có thêm Lê Ký Thương, lo phần trình bày và Nguyễn Mậu Hưng mới đổi về bệnh viện Phan Rang công tác. Châu Văn Thuận và Lữ Quỳnh từ Qui Nhơn vào, có cả Nguyễn Mộng Giác; Lữ Kiều và Trần Hữu Lục từ Đà Lạt xuống… Lần gặp mặt tương đối đông đủ nhất kể từ khi có tờ báo. Hưng phấn, anh em bàn chuyện xa hơn: Ra Ý Thức in Typo hợp pháp, phát hành rộng rãi và đặt cơ sở ngay tại Sài Gòn. ..”

Đấy, sự  ra đời của Ý Thức đầu tiên  là như thế. Từ những ngọn lửa cháy sáng trong lòng của những chàng trẻ tuổi đam mê văn chương – không phải xem văn chương là chất nổ hay ngòi bút là một sư đoàn, mà sợi dây mầu nhiệm có thể buộc kết những con người lại, hóa giải những nghi kỵ, hận thù, những tranh chấp về ý thức hệ, như những giòng chữ xuất hiện trên bìa Ý Thức số 1 phát hành vào năm 1970  tại Sài Gòn:
bia Y thuc -5

“Phải dành cho văn học nghệ thuật một chỗ đứng, một vị trí vượt lên trên những tranh chấp chính trị giai đoạn. Chỗ đứng ở ngay trong tập thể quần chúng, hòa mình với tình tự chung để vận động trở thành sức mạnh văn hóa nuôi dưỡng truyền thống Việt Nam trước đe dọa từ mọi phía.”

 

 

Ý Thức mang chuông đi đánh Saigon

Nhà văn Lê Ký Thương  – kể lại những ngày đầu của Ý Thức ở Sài Gòn như sau :

bia Y thuc -1

“…Hè năm 1970. Nguyên Minh đã từ giã nghề “gõ đầu trẻ”, quyết tâm vào Sài Gòn để làm báo. Anh lo thủ tục xin giấy phép chính thức ra tờ bán nguyệt san văn học nghệ thuật Ý Thức. Anh nhờ dược sĩ Nguyễn Thị Yến, bạn anh, quê ở Phan Rang, đứng tên chủ nhiệm, chị Nguyễn Thị Dung (vợ Hồ Thanh Ngạn) quản lý, anh là Tổng Thư Ký Tòa soạn. Những thành viên nòng cốt trong nhóm đồng ý góp mỗi người 5.000 đồng (theo thời giá 1970) để làm vốn ban đầu cho tờ báo. Giấy phép có. Vào thời điểm này, tôi có mặt ở Sài Gòn để cùng anh lo in áp-phích quảng cáo và tìm nhà in in báo. Qua bạn bè giới thiệu, tờ áp phích được in ở một nhà in nằm trên đường Nguyễn Thông mà chủ nhân là một nhà thơ. Còn báo, sau khi tìm hiểu nhiều nhà in, cuối cùng anh em quyết định in ở nhà in Đăng Quang trên đường Phan Thanh Giản, gần ngã bảy. Nhà in này chuyên in sách của nhà xuất bản An Tiêm, có tiếng in đẹp lúc bấy giờ. Tôi phụ Nguyên Minh trình bày bìa, làm ma-két tờ bán nguyệt san Ý Thức số 1 rồi phải về lại Phan Rang. Những số đầu chỉ một mình Nguyên Minh lo toan mọi việc, sau này có thêm anh Thái Ngọc San giúp một thời gian ngắn…”

Nhà văn Lê Ký Thương  cũng cho biết thêm về lý do  tại sao Ý Thức có nhà in riêng:

“Lúc bấy giờ, nhà in Thanh Bình đã hình thành, chỉ cách nhà in Đăng Quang khoảng 100 mét, chủ nhân chẳng ai khác là chị đầu của Nguyên Minh – chị Mai. Chị Mận, chị kế của Minh cũng đưa gia đình từ Phan Rang chuyển vào Sài Gòn sinh sống, làm thư ký kiêm kế toán nhà in. Nguyên Minh được chị Mai giao công việc quản lý. Ý Thức may mắn được “in nhà in nhà”, từ in ty-pô chuyển sang in offset.”

(Lê Ký Thương: Tưởng trong “giây phút” mà thành “thiên thu”, Thư Quán Bản Thảo số 33)

Những khó khăn đầu tiên

 

Với một kẻ không có kinh nghiệm gì về việc in ấn, nay bị đẩy đưa đến một nhà in hiện đại với những dàn máy in tối tân, thì quả là khó khăn ghê gớm lắm. Vậy mà đèo thêm việc làm báo : nào là đọc bài, tuyển bài, làm thầy cò, rồi phát hành báo… Rồi phải chạm trán với những kẻ có tâm dịa xấu, lòng rắn rít  trong giới làm văn học nghệ thuật ở Sài Gòn, luôn luôn tìm cách hạ bảng hiệu Ý Thức xuống. Làm sao mà gánh  cho hết ?
Ngay cả nhà thơ Viên Linh cũng phải gặp trở ngại khi ông bắt đầu thực hiện tờ Thời Tập của ông:

Một tháng trước khi Thời Tập ra mặt, tôi đi thu bài những người có liên lạc trước. Ba trong năm người đó ngạc nhiên hỏi lại tôi: Báo anh ra thế nào được mà lấy bài. Một nhà văn tên tuổi lớn đã cả quyết tuyên bố như thế trước nhiều đồng nghiệp. Sau này tôi hỏi lại nhiều người và được xác nhận  anh X có nói như thế.

… Một người khác cũng là đồng nghiệp của tôi đã tới tận nhà tổng phát hành tuyên bố rằng nếu Thời Tập sống được, anh sẽ giải nghệ”…

  (Xin vui lòng đọc chương viết về tạp chí Thời Tập)
Ngay cả một người làm báo văn học nghệ thuật   lão luyện và thành công  như  nhà thơ Viên Linh cũng phải cay đắng để nói về sự thật phủ phàng này  khi ông làm tờ Thời Tập, huống hồ là một là gã nguyên gốc thầy giáo trường tỉnh  mới về Saigon chân ướt chân ráo ! Nhưng gã đã dám làm.  May mắn bên cạnh gã vẫn có một số bạn chân tình. Họ đến với Ý Thức bằng tất cả sự say đắm nhất. Từ việc làm thầy cò, đến việc chở báo đi phát hành. Những tạp chí cùng thời như Văn, Văn Học hay Khởi Hành v..v… làm gì có cái cảnh những người ở xa. về phép thay vì tận hưởng những ngày ở Saigon, lại có mặt ở tòa soạn để tiếp trợ Nguyên Minh trong việc sửa morrase… Vui lắm các bạn ạ. Thỉnh thoảng lại bắt gặp chi Mai, chị Mận từ trên lầu xuống, thấy  gương mặt hai chị ánh lên niềm vui sáng loáng… mới hiểu lý do tại sao chị Mai – chủ nhà in này lại để cho Nguyên Minh lấy cả phần trước tầng dưới của căn lầu 666 phan Thanh Giản làm tòa soạn và không phiền hà gì với một số đông bạn bè coi Ý Thức là mái nhà để tìm đến.

 

Ý Thức và sự quay mặt của một số “đàn anh”.

 

 bia Y thuc -2

Nhà thơ Viên Linh nói rõ về cái chướng ngại này :

Chính những người nhiều tuổi nghề nhất lại là những người bi quan chủ bại nhất. Và chính đó là những người – trên một khía cạnh nào đó – đã góp sự có mặt của họ trong số những kẻ đã vô tình cản đường anh em cầm bút trẻ tuổi”.

 Tôi không rõ nhà thơ Viên Linh nhắc đến ai  và Ý Thức có gặp trường hợp này hay không, nhưng qua 24 số Ý Thức, tôi chưa hề thấy một tên tuổi đàn anh nào có mặt. Không Võ Phiến. Không Mai Thảo. Không Viên Linh. Không Dương Nghiễm Mậu. Không Vũ Khắc Khoan. Không Bình Nguyên Lộc. Không Mặc Đổ. Chỉ có Bùi Giáng lẽ loi.

Riêng nhà văn Võ Phiến thì xem Ý Thức là tạp chí “làm dáng”.

Trong Văn Học Tổng Quan, nhà văn Võ Phiến đã liệt Ý Thức là tạp chí “làm dáng” như tờ Vấn Đề :
“Làm cách mạng bằng lý luận, bằng kịch, bằng tiểu thuyết mãi không xong; nản lòng, xoay ra làm dáng. Sau Vấn Đề, rồi tờ Ý Thức (số 1, năm 1970) cũng từa tựa như vậy.” (Võ Phiến – Văn học tổng quan)
Ghi ra đây không phải tôi muốn ám chỉ  những người đàn anh của tôi mà luôn luôn tôi kính trọng, nhưng để nói về nỗi khó khăn vô bờ của tờ Ý Thức: Từ việc in ấn, phát hành, đến sự quay mặt của lớp đàn anh. Vậy mà Ý Thức vẫn tiếp tục  ra đời mỗi nửa tháng, số người đến với Ý Thức càng đông. Nhà tổng phát hành Đồng Nai dành quyền phát hành 5000 cuốn cho mỗi kỳ Ý Thức phát hành. Rồi  Ý Thức lập nhà xuất bản tiếng Việt, rồi cùng với ông Trần Quang Huề  lập nhà phát hành riêng Hàm Thụ…

Làm sao tìm được trong thế giới sinh hoạt văn học nghệ thuật có cảnh như thế này:

Cũng không bao giờ tôi quên được những chuyên phát hành trực tiếp bằng Honda ra Nha Trang, lên Đà Lạt. Tôi chở Minh, Hữu chở báo, khua môi múa lưỡi ở các quán café văn nghệ, các sạp báo, nhà sách… và có thêm những người bạn văn chí nghĩa chí tình. Huế, Đà Nẵng, Qui Nhơn, Sài Gòn đã có anh em trong nhóm lo phân phối, và, điều lạ nhất đời là nhận báo, chưa bán, phải lo chạy tiền gửi về trước để “tụi nó” “ở nhà” tiếp tục ra các số sau.”

hay

(…)Tôi không quên cái dáng người thấp nhỏ, rất nghệ sĩ của nhà thơ Hạc Thành Hoa, từ Sa Đéc về mang báo đi phát hành; anh lính người Nam bộ chơn chất Lê Hồng Thuyên với kiện báo trên vai, lửng thửng dọc đường Phan Thanh Giản chờ xe đò về Long An… và còn bao nhiêu người khác nữa. Cái tình chúng tôi đãi anh em, được đáp lại bằng những tấm lòng.

(Võ Tấn Khanh – Những khuôn mặt tình. TQBT số 33)

Vậy mà tạp chí lại chết,  chết giữa lúc Ý Thức như một trái sáng làm lóa cả bầu trời văn học nghệ thuật miền Nam trong thời chiến:

“Như chiếc ghế bốn chân, vững vàng không ngã. Dây chuyền đã khép kín. Trong tay đã có nhà in, nhà xuất bản, tạp chí Y Thức và nhà phát hành, chúng tôi mới yên tâm, chuẩn bị cho ra tờ tạp chí Ý Thức bộ mới, và in các tác phẩm của anh em trong và ngoài nhóm.
Nhưng người tính không bằng trời tính. Mọi việc đều tan tành theo mây khói…  “

(Nguyên Minh. Ý Thức : Đời sống của tôi, TQBT số 33)

Ý Thức chết. Vì sao ?

 

bia Y thuc -4

Cái chết của Ý Thức đã làm kinh ngạc trong hàng ngũ anh em cầm bút trẻ bấy giờ. Không ai có thể tin điều này xãy ra, khi Ý Thức đã vượt qua tất cả những khó khăn trở ngại ban đầu để có bước những bước vững vàng trên con đường văn học nghệ thuật.
Theo nhà thơ Võ Tấn Khanh:
…”Tình hình chung lúc này sôi động mà đỉnh cao là mùa hè Đỏ lửa. Nguyên Minh, vì tình chị em với chị Mai, phải gánh thêm việc trông coi nhà in. Anh em do tình thế, ít về Saigon, Ý Thức bắt đầu có những số không đúng định kỳ. Để khỏi ân hận với chính mình và nhất là khỏi phụ lòng anh em, Nguyên Minh quyết định tạm đình bản.”

 

Theo Lữ Quỳnh:

Vi những thành viên trụ cột không thể hội tụ một nơi để tập trung  chăm sóc tờ tạp chí, nên Bán nguyệt san Ý Thức qua năm thứ hai có phần chệch hướng, không còn là tờ báo vốn có tiếng dấn thân tích cực, chống lại thứ văn nghệ salon, viễn mơ tràn ngập lúc bấy giờ. Thư ký tòa soạn và trị sự không thể kham nổi bài vở và điều hành nhân sự. Bán nguyệt san Ý Thức số 24 phát hành xong thì đình bản. ( sau hơn hai năm góp mặt với các tạp chí văn học ở Thủ đô ).

(Lữ Quỳnh: Những kỷ niệm về một thời Ý Thức. TQBT số 33)
Còn nhà văn Nguyên Minh  thì không nói tại ao. Chỉ là một giòng nhưng quá sức chua chát và xót xa:

Nhưng người tính không bằng trời tính. Mọi việc đều tan tành theo mây khói…

Không xót xa  chua chát đâu, bạn ta.  Đối với tôi, 24 số báo ý Thức cũng đủ  để nói lên một hiện tượng độc nhất vô nhị trong sinh hoạt văn học nghệ thuật của miền Nam rồi.  Nó chứng tỏ rằng,  dù là tiếng chuông ở tình lẻ đi nữa, nhưng nó có thể làm rúng động cả Saigon

Nó không phải vì lịch sử  văn học miền Nam buôc nó  nhưng nó  buôc vào lịch sử. Có phải không bạn ta ?

Khi bị thương ở Qui Nhơn

 

Đêm nay, đêm trừ tịch
Ta xuống đồi đầu năm
Xuất hành về Qui Nhơn
Chúng ta cùng xông đất

Hai chân ta dẩm bước
Từng vuông phố thân quen
Phố ơi, phố mến thương
Đợi ta về phố nhé
Dù  garant  phát một
Dù oằn nặng  khẩu Bar (*)
Dù địch xài AK
Dù quân ta quá ít
Ta phải về phải chiếm
Phải chiếm lại Qui Nhơn

Những  vĩa hè trống trơn
Những  ngôi nhà vắng chũ
Quân tiến vào cõi dữ
Mắt tai tìm lũ ma
Ma núp ở trong nhà
Làm sao mà tìm được ?

Chợt đạn trên cao điểm
Nả xuống đường như mưa
Như tiếng pháo đầu năm
Mừng diều hâu (**) về phố

Đại bàng kêu ta nhổ
Đại liên bên kia đường
Ta và tiểu đội trừ
Ào qua đường, như bão
Đạn địch đan như pháo
Ta nằm dưới cây xăng
Bên ta người truyền tin
Máy sôi lời dục dả
Chưa đầy năm phút đã
Ta nghe rát và đau
Máu dầm đề tuôn mau
Loang góc đường góc phố

Như vậy ta  đã ngã
Như vậy ta bị thương
Cám ơn thằng Bắc quân
Run tay không trúng  đích

Giờ ta xin ly nước
Em cho xin, được không?
Ta nằm đây, vết thương
Xé đau lồng ngực lép

Đừng kết ta phản chiến
Đừng buộc ta diều hâu
Hãy cho ta hết đau
Để vui cùng đồng đội

Em biết không tiếng dội
Là của chiếc trực thăng
Mình phác giác địch quân
kêu trực thăng yễm trợ
Em ơi, em đừng sợ
Quân ta gào xung phong
Trận địa sắp sửa xong
Ta có quyền ăn Tết

Em ơi, xin ly nước
Ta khát quá, lại đau
Nhịp tim ta đập mau
Nó mừng ta sống sót

Đằng sau nhà bỗng thấy
Đám Việt Cộng chạy làng
Muốn trình với đại bàng
Xin trực thăng truy kích
Mà tội đám lính Bắc
Phải sinh Bắc tử Nam
Thôi thì ngày đầu năm
Làm lành  ta được phước…

* trung liên bar, **: Diều hâu là biểu tượng của đại đội 405 thám kích/SĐ 22 BB

Tạ ơn

Đăng lại bài thơ  được viết cách  đây 3 năm, để tạ ơn lão Trần quí Sách. Lão chính là kẻ để tên nhà văn nhà thơ  là THT phải nhớ ơn. Cái lão THT này  khốn nạn lắm. Hắn cứ nghĩ hắn là số một, chẳng hề nhớ ơn ai:

 

Hôm qua, bà bảo bà thèm  nước dâu, tôi lái xe đến tiệm cách nhà 15 phút, mua cho bà. Hôm qua tôi rất vui vì thốc hai nách bà để kéo bà đứng dậy, tự nhiên tôi thấy nhẹ hơn mọi lần. Tôi quá mừng. Làm sao mà không mừng khi mỗi lần tôi đỡ bà đứng lên là cả cơn ác mộng.

Hai chân tôi muốn sụm.

Hai tay tôi muốn rả.

Làm sao tôi có thể giữ thân thể bà bằng một tay phải, để bà khỏi ngả ?
Làm sao  tay trái tôi có thể đẩy chiếc xe lăn ra về phía sau để nhường chỗ cho tôi có thể đứng mà giử mà tuột quần bà, mà dưa cả thân hình bà ngồi lại ngay ngắn trên bàn tọa.

Tôi la tôi gào tôi hét, tôi mím môi căn răng, tôi đá vào vách, tôi đá chiếc xe ù câm, không hiểu tôi.

Vậy mà hôm qua, khi kéo bà đứng lên, bà đứng dễ dàng. Tôi vịn bà bằng tay phải. Tôi đẩy xe lăn ra phía sau bằng tay trái. Tôi đưa thân người, đầu gối tôi hờm để bà khỏi té, tôi tuột quần bà xuống, từ từ giữ mông bà cho ngay trên bàn ngồi…

Bà ơi, tôi mệt mà vui.

Vui qua đi.

Vậy mà khi tôi cầm chai chai nước cheery juice định khoe bà, thì thấy bà run,run khiếp đảm, run bần bật, run như bị sốt rét kinh niên… Vậy mà  thiên hạ bảo thơ Quang Dũng hay, hay ở chỗ nào. Tây tiến đoàn quân không mọc tóc… Dỏm. Run như khi tôi run vì sốt rét.  Lính phải dìu đi.  Run như hôm nay bà run, tôi ôm bà, tôi lấy viên baclofen bắt bà phài uống.. Tôi là bác sĩ. Là Y tá. Là ân nhân của bà.

Bà hết run. Tôi quá mừng. Nhưng má lại bà. Thương bà không thể tả.

Ôi tuổi già. Sao mà thảm vậy cà.

Hết khổ nạn này đến khổ nạn khác.

Nhưng mà tôi vẫn  tin là bà không sao.

Dù chân phải đã yếu.

Dù chân trái đã đình công.

Tôi tin bà sẽ đứng, đứng như hôm qua.

Dù hôm nay, bà không còn d8u71ng vững nữa.

Tôi tin rồi chiếc xe tôi sẽ chở bà đi.

Bởi vì nó đang chạy.

Bà đang ngủ làm sao nghe.

Nó đang chạy.

Nó vừa chạy vừa nhả ra những trang giấy.

Khởi Hành.

Khởi Hành.

350 trang.

Xong rồi.

Bà ở trên ấy có nghe tiếng máy.

Vui lắm.

Như niềm tin của tôi bây giờ.

Khi nghĩ đến ngày mai, tôi sẽ được cầm đai quần của bà, mà làm tài xế…

Nguyễn Nho Sa Mạc: nguời thi sĩ tiên tri

 

Nguyễn Nho Sa Mạc: nhà thi sĩ tiên tri
Nguyễn Nho Sa Mạc tên thật là Nguyễn Nho Bửu, còn có bút hiệu Nguyễn Thị Liên Phượng. Ông sinh năm 1944 tại La Qua, Điện Bàn, Quảng Nam, mất vào 23 tháng Chạp năm 1964 tại bệnh viện Đà Nẵng. Thơ Nguyễn Nho Sa Mạc từ những năm 1960 đã đăng trên các tạp chí: Bách Khoa, Văn học, Mai, Văn… (Sài Gòn). Gần nửa thế kỷ đã qua, kể từ ngày thi sĩ qua đời, năm 2007 tập thơ “Vàng lạnh” của Nguyễn Nho Sa Mạc mới được nhà xuất bản Thư Ấn Quán tại Hoa Kỳ  sưu tầm, tập hợp và xuất bản.
Hiện tại chúng tôi còn lưu trong máy. Quí bạn nào cần, chúng tôi sẽ in và gởi tặng.
Inline image 1.
1.
Trịnh Công Sơn qua “Một cõi đi về” đưa người nghe về một nơi mà người ta gọi là cõi vĩnh hằng, thiên thu, hay bên kia thế giới. Điềm triệu đã thấy rõ ràng qua những lời đầy ảo não và nhuốm màu tôn giáo. Tuy nhiên, không thấy lời nào giúp chúng ta biết khi nào ông lên “chuyến xe trăm tuổi” như Hoàng Trúc Ly đã từng nói về cái chết của mình:
Rồi mai khởi sự xa đời
Chuyến xe trăm tuổi đưa người nghìn năm
Trăng sao bốc cháy chỗ nằm
Áo xanh mây lá vết bầm núi non
(Hoàng Trúc Ly, “Vĩnh biệt”)
Dù nhà thơ đã dùng chữ mai để nói về sự vĩnh biệt, nhưng nó vẫn không xác định thời điểm nào. Nhà thơ HTL sinh năm 1933 và mất năm 1985. Có nghĩa “mai” là năm ông được 52 tuổi.
Chỉ có nhà thơ Nguyễn Nho Sa Mạc mới là nhà tiên tri huyền nhiệm. Bởi vì khó có ai viết những lời trăn trối như thế này:
tôi gọi nhỏ tên mình sa nước mắt
sống trên đời vừa đúng hai mươi năm
máu sẽ khô xin tim này đừng rụng
giữa hư vô phần mộ nhỏ yên nằm
(Nguyễn Nho Sa Mạc, “Xuân của một người”)
Và nhà thơ đã gọi tên mình thật. Gọi  cách đây 43 năm, đúng vào lúc anh lên hai mươi tuổi, khi anh đang là một học sinh Đệ Nhất trường trung học Phan Châu Trinh, Đà Nẵng.
Nhà thơ Luân Hoán đã kể lại rất chi tiết về sự ra đi của anh như sau. (Tên thật của Nguyễn Nho Sa Mạc là Nguyễn Nho Bửu).
“… Theo lời chủ nhà, Bửu không tỏ vẻ gì khác thường trước khi mất, ngoài việc về nhà hơi muộn hơn thường lệ. Dù muộn, anh cũng chào hỏi mọi người ân cần  và không quên cho biết sáng hôm sau sẽ về quê. Gia đình này chỉ có hai vợ chồng và một đứa con vị thành niên. Họ nghỉ đêm ở căn nhà dưới, cũng rất thoáng mát. Người chồng cho chúng tôi hay khuya hôm đó, ông có tình cờ ra sân, ngó vào chỗ Bửu nằm, hơi ngạc nhiên thấy anh đắp chiếu thay vì đắp mền. Ông có đứng quan sát và đã cười trong bụng khi thấy bàn chân Bửu nằm ngoài chiếu, nhịp nhịp như đang theo âm điệu của một bài ca nào đó. Tuy ngỡ người khách trọ của mình phấn khởi vì ngày Tết sắp đến, nhưng ông chủ nhà cho biết lòng ông có vẻ không yên khi trở lại chỗ nằm, nên chừng một giờ sau, ông lên nhà trên và phát hiện tình trạng không ổn của Bửu…”
2.
Thường người ta giải thích khi con người quá đau đớn (tinh thần hay thể xác), thì cái chết được xem như một cách để cứu rỗi. Bệnh hoạn nan y là một.
Nhà thơ NNSM không nằm trong trường hợp của nhà thơ Quách Thoại hay Hàn Mặc Tử mà các sáng tác của họ đã quằn quại đến bật máu, phun những tia đau thương để thăng hoa thành những hạt mưa thơ ân sủng. Đọc tập thơ Vàng lạnh của anh, không thấy một câu nào về bóng tối từ nỗi đau đớn đến bật máu như Hàn Mặc Tử. Đa số những bài thơ được sáng tác vào lúc anh khoảng 18, 19 tuổi và bài “Sinh nhật”, có lẽ là bài cuối cùng vì thơ ghi tháng giêng 1964, đều là những bài thơ tình và thân phận của tuổi trẻ trong cuộc chiến.
3.
 Không bệnh hoạn nan y, không ở trong guồng máy, cũng chẳng có một hệ lụy nào để có thể đưa đến sự tự vẫn. Thì chắc phải có một lý do bí ẩn nào khác.
Có phải lý do bí ẩn này ở những bài thơ vào cuối đời anh.
Cái khổ nạn của VN.
Cái khổ nạn ấy đã được một người học trò thi sĩ gánh lấy. Mà gánh rất nặng. Cái “tôi” của nhà thơ trở thành cái chung:
mẹ dạy tôi làm người
phải yêu thương đồng loại
nhưng bức tường ô nhục
còn mọc lên khắp nơi
 
nên tôi buồn biết mấy
làm người dân Việt Nam
hằn vết thương chia cắt
đớn đau màu da vàng !
(“Cuộc đời”, trang 16)
hay:
mình cầm tay muốn khóc
thương những người đi sau
trời Việt Nam giá lạnh
màu chiến chinh thêm sầu
(“Đêm Vĩnh Điện”, trang 26)
Lời thơ anh là những tiếng kêu trầm thống của một thế hệ không có tiếng nói. Chưa đầy hai mươi tuổi, nhưng anh đã mang nỗi buồn đi trước quá xa.
Thơ anh linh hiển lạ kỳ:
chiều cuối năm ngồi trên tầng phố cũ
trời quê hương nhiều mây trắng sa mù
hai mươi tuổi những ngày nuôi mộng nhỏ
đã xanh rồi cây trái mọc suy tư
 
thân với máu xin thắp làm sương khói
giữa thời gian tìm vóc dáng con người
vùng tóc đó tháng ngày qua cỏ úa
lửa của trời thiêu đốt tuổi hai mươi
 
 (“Mùa xuân của một người”, trang 57)
4.
Cái chết của anh đã được anh tiên tri, và ứng nghiệm. Anh chọn tấm chiếu mà đắp phủ như  người dân VN trong trận đói năm Ất Dậu hay trong chiến tranh..
Cuối cùng, anh bỏ giấc mơ in tập thơ Vàng lạnh của anh.
Giờ đây, phần mộ đã yên ổn ở quê nhà anh, nhưng tập thơ thì không. Dù chỉ khoảng 70 trang.
Thật vậy, để kỷ niệm ngày giỗ thứ 43 (1944-2007) của nhà thơ xứ Quảng tài hoa bạc mệnh, anh em bằng hữu của anh dự trù xuất bản thi phẩm Vàng lạnh. Ở Hoa Kỳ, chúng tôi nhận xuất bản để  thân tặng thân hữu ở hải ngọai. Đồng thời thực hiện Thư quán Bản thảo số chủ đề Nguyễn Nho Sa Mạc. Nhưng trong nước, khi mang tập bản thảo Vàng lạnh đi kiểm duyệt, thì bị cơ quan hữu trách bỏ hẳn một bài. (1).  Một bài thơ của người học trò, chưa hề dính líu vào guồng máy!
Hương hồn người khuất có lẽ phải đau xót lắm khi phải đọc tập thơ của chính mình để trên bàn thờ bị cắt xén hay bị thay đổi! Có lẽ vì vậy mà người thân của nhà thơ đã quyết định sẽ không xuất bản, đợi một dịp khác thuận tiện hơn.
______
 (1) Xin được đăng lại bài thơ bị cắt bỏ:
Còn ở đó
còn ở đó màu da vàng thượng cổ
tổ tiên tôi từ sơ thủy vốn buồn
hai bàn tay đã đào sâu lòng đất
trồng muôn ngàn cây sây trái tình thương
với nước mắt đã ươm từng ngọn lúa
thêm mồ hôi thêm mạch sống quê hương
tôi đã thấy ngày Trường Sơn quằn quại
ôm cánh tay Việt Bắc khóc đau thương
còn ở đó lời phong dao tình ái
bốn nghìn năm lịch sử chảy trong hồn
đứa trẻ níu vành nôi kêu má má
hình ảnh nào hơn cảnh mẹ ru con
tôi khôn lớn nhìn nỗi buồn đất nước
một giòng sông biên giới hai loài người
nỗi đau đớn chất chồng cao bằng núi
ôi Sài Gòn – Hà Nội cháy trong tôi