Văn chương chưởi thề trong Tháng ba gãy súng của cao xuân huy…

Trong Tháng Ba Gãy súng của Cao Xuân Huy, chúng ta được đọc rất nhiều những mẫu đối thọai đầy tiếng chửi thề hay những chữ mà phái nữ khi đọc phải đỏ mặt.

Có tất cả 50 tiếng “đụ mẹ” trong suốt cả tác phẩm. Và  hàm số Y biến thiên bằng đường biểu diễn  Parabol theo  biến số x “chưởi thề”.
Từ những trang đầu, tiếng chửi thề chỉ lồng trong những mẫu đối thoại ngắn ngủi có tính cách như thói quen, sau đó, hàm số y càng lúc càng tăng dần theo tình trạng hổn lọan của một hàng quân bị bỏ rơi, với những thảm kịch kinh hoàng, giết nhau để sống, những thảm kịch mà chắc chắn nếu cụ Nguyễn Trải có sống lại để mà làm hịch hài tội, thì cũng phải đau đớn mà khóc ròng…
Trong lịch sử chiến tranh VN, đây là một trong  những trang đen tối và xấu hổ nhất của một quân lực: Một lữ đòan thiện chiến TQLC phải chịu tthảm bại trước một đại đội du kích VC !
Nhưng trong lịch sử chiến tranh VN, không có những trang nào hào hùng khí phách cho bằng cảnh những  người lính  bị buộc thua trận ấy lại  chọn cho họ cái chết  hào hùng ngạo nghễ như vậy !
làm sao mà không hào hùng lẩm liệt cho được khi:

“Chúng tôi vẫn cứ chạy, những người tự tử tập thể vẫn cứ tụm thành những vòng tròn, quân đội Nhật năm 45 khi đầu hàng cũng không thể nào hào hùng hơn thế này được. Lịch sử Việt Nam chưa thấy viết một dòng nào về những cái chết hiên ngang của những thằng tốt đen như vậy, nhưng họ có đó, vẫn oai hùng khí phách chấp nhận những cái chết vô danh như vậy.” 

Và cùng với nỗi uất nghẹn tột đỉnh thì biến số x Đụ mẹ càng gia tăng bằng x bình phương. Để rồi cuối cùng, ở trang cuối, đường biểu diển xuống  dốc  như một người hấp hối.

Một điểm rất ngạc nhiên là  vị trí và ảnh hưởng của hai chữ Đ.M rất lớn ở trang đầu và trang cuối.

 

Thật vậy, ở vài  trang đầu của TBGS, tác giả kể về đọan đường mà một chàng sĩ quan trẻ tìm về đơn vị của mình sau một thời gian dài trễ phép trong lúc cao nguyên bị thất thủ. Chàng ta không đeo lon trung úy, không có ai hộ tống một mình giữa chốn hiu quạnh đầy bất trắc:

“Tôi vận dụng tất cả mọi khả năng, dồn hết sức sống của tôi vào đôi tai để chờ đợi, nhưng ngoài tiếng côn trùng và tiếng gió, tôi không nghe được một tiếng nói nào của mấy người trên sườn đồi kia. Tuy nhiên, tôi bình tĩnh thật lạ lùng, cái bình tĩnh của thằng lính khi ra trận đã biết rõ mục tiêu, biết rõ từng vị trí của địch, đã nghe tiếng súng nổ, không còn sự hồi hộp lo sợ của sự chờ đợi những viên đạn đầu tiên của địch thay cho lệnh khai hỏa ghim vào thân thể mình trước khi kịp nghe tiếng súng, không còn là chuyện may rủi trời kêu ai nấy dạ của những viên đạn bắn sẻ nữa, mà là cái bình tĩnh của một sự việc đã được tính toán, đúng thì sống mà sai thì… húp cháo rùa. ”

Vậy mà giữa lúc đó một tiếng nói cất lên::

….
Ðù má, lâu dzậy mảy?”

Tiếng nói đột ngột, không đủ lớn nhưng đủ lọt vào tai tôi. Xong rồi! Tiếng chửi thề nghe sao dễ thương lạ. Tiếng chửi thề đã chấm dứt sự nguy hiểm bao quanh tôi. Bọn này hẳn phải là lính đại đội tôi, đang gài mìn tại tiền đồn cấp tiểu đội.

Tại sao. Vỉ  chí có phe ta mới có tiếng chửi thề như vậy. Nó khiến người trở lại cảm thấy mình đang có mặt ở đất bạn chứ không phải đất thù:
Ðụ mẹ, đi đâu về trễ vậy cha nội?”

Và cuối cùng là trang cuối, lại thêm một lần tiếng nói lại được nhắc  cùng với hai tiếng D.M sau khi đơn vị tan hàng, mạnh ai nấy chạy.:

.Trong suốt thời gian chạy tôi nghe đủ thứ tiếng, tiếng chân, tiếng thở, tiếng sóng, tiếng súng, tiếng lựu đạn nhưng không nghe tiếng nói. Bây giờ mới bắt đầu ồn ào tiếng người.

“Ðụ mẹ, sao không chạy tiếp?”

oOo

 

Vâng, họ chửi thề thật. Họ ăn tục nói phét thật. Họ xữ dụng những tiếng cấm kỵ thật. Họ làm mấy nhà đạo đức luân lý, mấy cô gái tiểu thư nhăn mặt, lợm miệng thật.

Có điều là không ai như họ.  Khi họ như thế này:

Dòng người chúng tôi tiếp tục chạy, lại một người tách ra ngồi trên cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ tư… nhập bọn, lại tụm với nhau thành một vòng tròn nhỏ, lại một quả lựu đạn nổ bung ở giữa.

Dòng người chúng tôi vẫn cứ tiếp tục chạy, lại một người tách ra ngồi trên cát, lại người thứ hai, người thứ ba, người thứ tư…

Tôi không thể nhớ để mà đếm nổi là đã có bao nhiêu quả lựu đạn đã nổ ở giữa những vòng tròn người như vậy. Nhiều, thật nhiều quả lựu đạn đã nổ.

Chúng tôi vẫn cứ chạy, những người tự tử tập thể vẫn cứ tụm thành những vòng tròn, quân đội Nhật năm 45 khi đầu hàng cũng không thể nào hào hùng hơn thế này được. Lịch sử Việt Nam chưa thấy viết một dòng nào về những cái chết hiên ngang của những thằng tốt đen như vậy, nhưng họ có đó, vẫn oai hùng khí phách chấp nhận những cái chết vô danh như vậy.

Hôm nay bạn bè thân hữu nhìn mặt và đưa tiễn Phùng Nguyễn lần cuối cùng…

Phùng Nguyễn ơi,
Hôm nay bạn bè tứ phương về Maryland tiễn đưa Phùng một lần cuối cùng
Xin lỗi Phùng, anh không thể về được
Không thể về cầm tay tất cả những người có mặt.
Từ thân nhân đến bạn bè
Ai ai cũng mang theo nỗi buồn dù lớn dù nhỏ
Ai ai cũng mang theo những kỹ niệm, những vui buồn với Phùng

Hôm nay thư Ngô Thế Vinh hỏi anh có biết gì về quảng thời gian em làm lính
Anh trả lời không biết chỉ biết qua tiểu sử đăng trên NET
Phùng vào lính năm 18 tuổi. Lính VNCH

Anh thử tìm trên NET cố tìm em có viết một bài nào về quảng đời này không ?
Tìm hoài tìm mãi mà không có.
Như vậy, màu áo đồng phục kia chẳng mang gì dấu vết ghi đậm trong tâm trí Phùng sao ?
Mà sao Phùng không bao giờ nhắc.
Chỉ nhắc đến tuổi thơ
đến Tháp Ký Ức
đến một đứa bé học giỏi đậu vào đệ thất trường công Trần Quí Cáp vào năm 1960
Chỉ nhắc đến những thảm kịch của chiến tranh xãy ra tại quê nhà mình
Chỉ nhắc đến cô Tố Quyên
Chỉ nhắc đến phe này phe kia và người dân giữa hai lằn đạn
Chỉ nhắc đến trận hồng thủy năm 1964
cuốn phăng mái nhà thân yêu
Để người mẹ và bầy con phải bỏ quê nhà mà xuôi vào Nam tha phương cầu thực
với những lát sắn khô để sống sót…

Ôi, đứa học trò học rất giỏi, đậu vào đệ thất trường công
Không ngờ lại bỏ trường mà đi sau ba năm đầu trung học…

Anh chỉ biết bao nhiêu. Và lòng anh quặn đau khi đọc những giòng chữ này:

Thằng Phú quay lưng hướng về phía bến đò. Bỗng dưng tai nó ù đi. Âm vang những bước chân của chính nó dội lên như tiếng trống làng, phóng lớn mãi ra thành tiếng sấm gầm ghì. Nỗi kinh hoàng mênh mông như bầu trời xám trên cao úp chụp lên đầu thằng bé mười bốn tuổi, sinh ra trong căn hầm tránh bom ở vùng tản cư thời Kháng chiến, lớn lên cùng với bom rơi đạn réo, cùng với hoang tàn của chiến chinh và điêu linh của lòng người. Nó ngã khuỵu xuống trên đám cỏ xác xơ cạnh bờ sông, miệng kêu nhỏ, ” Mẹ ơi!”
Bờ sông vắng tanh, rặng tre đen thẫm phía sau đứng im lìm, và ở phía chân trời, dải mây thành đen kịt vẫn sừng sững vắt ngang dãy Trường Sơn như đã ngàn năm.” (trích từ truyện ngắn Tuổi thơ trong tập truyện Tháp Ký Ức”)

 

Mười bốn tuổi. Đứa bé học đệ ngữ trung học trường công, chỉ còn một năm nữa là đệ từ, và bốn năm nữa là tú tài 2.

 

Phùng ơi, cô Tố Quyên có bao giờ phạt em đâu cô chỉ khóc
Nhưng mà những giọt nuớc mắt kia giúp Phùng trở thành nhà thơ nhà văn sau này đấy.

“…Sau này, trong cuộc đời ba chìm bảy nổi của mình, tôi cũng đã có dịp chứng kiến đàn bà khóc, có khi vì tôi, có khi vì tình địch của tôi, có khi vì một lý do nào khác, cũng có khi không vì một lý do nào hết. Nói chung đàn bà trông đẹp và dễ thương hơn khi họ khóc, nhưng tôi chưa thấy ai khóc… đẹp bằng cô Tố Quyên. Lúc đó bao nhiêu hùng tâm tráng chí của lũ chúng tôi xẹp xuống như bánh xe đạp cán đinh, nếu cô có bảo hy vọng nằm ở… hướng Tây chúng tôi cũng chịu nữa. Nhưng đã trễ. Cô khóc, rồi bỏ đi. Bỗng dưng tôi trở thành tên tội phạm hàng đầu. Đám học trò con gái nhìn tôi với những cặp mắt giận dữ. Thằng Thước từ mãi dưới cuối lớp chạy lên đòi ăn thua đủ với tôi, ngay những đứa mới cách đây mấy phút đã mạnh mẽ ủng hộ lập luận ‘hy vọng hai chiều’ cũng quay ra đả kích tôi dữ dội. Phần thì băn khoăn không biết rồi cô Tố Quyên có còn trở lại dạy chúng tôi nữa hay không, phần thì lo lắng vì bỗng dưng trở thành chính danh hung thủ, tôi buồn bã ngồi tẩn mẩn cột tóc của hai chị lớn ngồi bàn trên lại với nhau.” (Tháp Ký Ức)

 

 

**

Anh Ngô Thế Vinh ơi:
Đấy, cuộc truy lục kiếm tìm của tôi về cuộc đời của Phùng trong những tháng năm chiến tranh lọan lạc chỉ có bấy nhiêu.

Cái album cuộc dời của Phùng để ở đâu
Cho anh nhìn với

Đây rồi. Một người lính rất trẻ 18 tuổi đã sống lại đây rồi.
Người lính trẻ của ngày xưa không bao giờ chết, đây rồi.
Người lính trẻ ấy làm quan tòa làm luật sư làm nhà văn biện hộ dùm cho sự thật, bây giờ, đây rồi.

Tiếng nói của hắn vang lên, giữa lúc đàn anh của hắn muốn quên, hay  trở thành kẻ mù. kẻ điếc, đây rồi.

“…Không thể nói là tôi đã không cảm thấy xúc phạm ở cương vị một người lính của Quân lực Việt Nam Cộng hoà, một tập thể nay đã thuộc về lịch sử, và trên hết, như là một người Việt Nam khi đọc những đoạn trích dẫn nói trên. Cái huyền thoại “lính nguỵ ăn thịt người,” đối với tôi, là chuyện láo khoét, bắt đầu với những tuyên truyền dối trá vào những thời điểm rất sớm trong chiến tranh, và trong khi vô cùng bẩn thỉu khi xét trên các phương diện văn hoá và đạo đức, đã được áp dụng triệt để với mưu đồ gán ghép cái đầu ác thú lên thân thể của kẻ thù. Những tuyên truyền láo khoét và vô đạo đức này, bất kể xuất phát từ bất cứ từ phe nào, nếu có ai đó cho rằng cần thiết trong giai đoạn chiến tranh, lẽ ra phải được chấm dứt và mầm độc của nó phải được hoá giải ngay lập tức vào ngày hôm sau của ngày tàn cuộc chiến. Điều này đã không hề xảy ra, và càng tệ hơn nữa, điều trá nguỵ được tiếp tục củng cố, nuôi dưỡng không chỉ bởi những đầu óc ngu muội mà còn bởi những người mà dựa vào chức năng của họ, trí tuệ và khả năng tư duy phải vượt trội hơn những tầng lớp khác trong xã hội. ,,”

(Phùng Nguyễn  Khi nhà văn không chỉ là kẻ đồng loã , nguồn: talawas) ngày 1-4-2008)

 

….

 

….Tôi đã nói về đề tài “lính ngụy ăn thịt người” một vài lần, nhưng chưa hề thấy đủ. Bởi vì chưa hề đủ! Đã có không ít người, vì những lý do mà họ nghĩ rằng cao cả, chỉ muốn quay lưng lại, tảng lờ, chối bỏ sự hiện diện của những nọc độc văn hóa đang luân lưu trong huyết quản dân tộc với luận điệu quen thuộc “Hãy chôn chặt chương sách sử xấu xa này và cùng hướng về tương lai.” Ừ thì chôn. Nhưng chôn ở đâu? Trong những cuốn sách của những cây bút thế giá đang tiếp tục bày bán đầy dẫy ở các hàng sách hoặc nằm nghiêm trang trong các thư viện trên cả nước, hoặc trong chồng sách giáo khoa được mang ra giảng dạy ở các cấp trung và tiểu học hàng ngày? Hoặc trên hệ thống Internet, nơi những nọc độc văn hóa được ngụy trang như là dữ kiện lịch sử sẽ xuất hiện trên màn hình máy vi tính của người đọc chỉ sau vài cú nhấn trên bàn phím?

(PN: Từ ‘Giấc Ngủ Mười Năm’ đến Ác mộng Trăm năm, nguồn Internet)

 

Cám ơn Phùng đã nói hộ dùm anh.
Cho màu áo  người lính thám báo mà anh đã mang
và tự hào.

A di đà Phật cứu nạn cứu khổ.
Chúng con là kẻ có tội Amen..