Ghi vội sau khi về nhà từ nursing home

Theo thường lệ ba tháng ra một tập TQBT . nhưng lần này TQBT số 65  xem như đã hoàn thành trước dư trù một tháng, với chủ đề Tưởng Niệm nhà văn Hoang Ngọc Hiển và dành nhiều trang giới thiệu tạp chí Thời Tập – một pháo dài cuối cùng của 20 năm văn học miền Nam.

Làm xong số báo này lòng tôi an ổn lạ thường. Tôi đã nói dùm anh, dùm tôi, dùm tất cả những người thuộc hàng ngũ những cây bút trẻ trong chiến tranh. Họ chỉ có khoang 10 năm ngắn ngủii để viết, nhưng, như Viên Linh thú nhận, chính họ đã giúp cho tạp chí Thời Tập do ông chủ trương sống được và càng lúc càng vững qua bài viết của ông “sau 16 số báo” trên Thời Tập vào cuối năm 1974:

Từ đó, tôi nghĩ được điều này:trước khi mà một việc gì, hãy đi hỏi ý những người trẻ tuổi như anh.”

Lời thú nhận này giúp chúng ta càng hiểu vị thế quan trọng  của lớp người trẻ  trong việc bồi dựng tạp chí Thời Tập nói riêng và sinh họat văn học nghệ thuật miền Nam nói chung.

Nhà thơ Viên Linh  chê trách  những người mà ông đề cập là chủ bại, làm cản đường những người bút trẻ:. “Chính những người nhiều tuổi nghề nhất lại là những người bi quan chủ bại nhất. Và chính đó là những người – trên một khía cạnh nào đó – đã góp sự có mặt của họ trong số những kẻ đã vô tình cản đường anh em cầm bút trẻ tuổi”.

Một lần nữa, ông xác nhận về sự có mặt của đội ngũ trẻ chúng tôi như sau:

“(Họ…) có mặt từ vài năm trước trên các diễn đàn văn học, cho tơi ngày hôm nay , một số những người bút trẻ tuổi của chúng ta đã xác định được sự có mặt ấy, tuy không rầm rộ, nhưng rõ ràng là đều đặn và thường xuyên, là còn đều đặn và thường xuyên hơn nữa, như nắng phải lên lúc hùng đông, mưa sẽ đổ đúng mùa dù cho hừng đông kia và mùa mưa này chưa biết hứa hẹn gì cho một thời của Văn chương miền Nam mưa hay nắng.

Không tuyên ngôn, việc ấy đã rõ – nhưng có điều này: cầm bút, chuyện bình thường, cầm bút viết, không có sứ mệnh gì cả, nhưng viết, và viết, và làm việc, không có gì để đập phá ngoài bản thân mình , không có gì để hô hào canh tân ngoài con tim và bộ óc mình…”

 

****

Lá thư tòa sọan này được viết vào cuối năm 1974. Nhà thơ Viên Linh vẫn chưa biết tương lai văn chương miền Nam mưa hay nắng, hứa hẹn gì cho lớp trẻ mà ông đề cập. Ông làm sao biết chỉ 4 tháng sau là cả miền Nam bị mất, không phải mưa hay nắng như ông nghĩ, trái lại là một trận đại hồng thủy quét sạch, cuốn sạch cả một nền văn học miền Nam không phân biệt già hay trẻ, nam hay nữ.

Để rồi đa số những người viết trẻ  – lúc ngòi viết của họ trong thời kỳ sung mãn nhất – thì họ  đành phải vất bút, tẩu tán chữ nghĩa sách vở bản thảo của mình.

Chỉ có một số ít là lộ nguyên hình như Ngụy Ngữ – người khách chót của Thời Tập là cán bộ CS. Còn lại, hầu hết vào tù, mang thân trâu ngựa hay may mắn chạy được ra nước ngoài.

***

Thư Quan Bản Thảo số này đã chứng minh “điều kiện ắn có và đủ” cho nền văn học miền Nam là như vậy đó. Trong lúc chiến tranh cao điểm, trong lúc đường sá lưu thông ra ngoài trung – miền đất cần yếu để tiêu thụ sách báo – bị cắt đứt, gián đọan, nhà phát hành từ chối nhận phát hành, thì Thời Tập vẫn tiếp tục”đường ta ta đi, nhà ta ta xây, ruộng ta ta ta cày” trong năm 1973, 1974 và 4 tháng  đầu 1975…. Đó là sự góp mặt. góp sức của lớp trẻ, người trẻ, đội ngũ cây bút trẻ như Viên Linh đã thú nhận.

Vậy mà thiên hạ cứ nhìn vào mấy cái váy hay những cây bút hì hục đêm ngày viết feilleton để hái tiền, hốt bạc để xưng tụng họ là đại diện văn chương miền nam, là văn học đô thị, trong khi một nhà thơ được xưng tụng trọng nễ như VIên Linh lại xem là “tầm phào”:

Tôi vừa ra uống với người bạn ở Tuy Hòa vào. Trong khi uống chúng tôi nói  chuyện vui vẻ. Và trong một lúc im lặng, tôi làm được mấy câu thơ. Để tôi viết ra anh coi. Có điều, đây là mấy câu thơ tầm phào, nó không phải văn chương đâu. Nó là thơ tầm phào:

 Trong tôi có cái gì thừa
Cái gì lại thiếu, cái vừa như in?
Trong tôi có cái ưa chìm
Cái gì lại nổi mà tìm không ra?

 Thơ này thế nào cũng có kẻ kêu là không hiểu, để tôi làm tiếp: 

Ngó vào Trời Đất bao la
Trước gương lộn cổ hồn ma vú dài

Đó, tôi đã bảo, là thơ tầm phào mà. Văn chương chó gì khi mình nói chuyện linh tinh sau vài ly la de suông. Gọi nó là văn chương chỉ có mấy anh đã chết…” (Khởi Hành số 156)

***

2.

Có người bảo THT là nhà văn/người lính chưa chịu giải ngũ.

Ham gì binh nghiệp để mà chịu hay không chịu. Ham gì cả mợt thời thanh xuân bị lịch sử bầm dập tơi tả. Nhưng làm sao có thể quên được một đêm trăng với chiếu rượu như thế này:

Nửa đêm, như thể ngày xưa ấy
Mấy thằng trải chiếu dưới đêm trăng
Trăng sáng phơi trên hàng  kẽm lạnh
Rồi chảy vào bát rượu bâng khuâng

 Nửa đêm, mấy đứa chưa buồn ngủ
Buồn ngủ làm sao, ta chiêm bao
Lính trận dưỡng quân, nhờ tí  tửu
Để mai nằm xuống hồn bay cao

 Nửa đêm, doanh trại đèn leo lét
Người lính canh ngồi như tượng đêm
Ma quỷ muốn chơi, xin hoãn chiến
Để ta còn đụng với anh em

Làm sao có thể quên được hình ảnh của viên đại đội trưởng đại đội 399 vào ngày 30-4-1975 mà  nhà văn Hoàng Ngọc Hiển đã ghi lại trong truyện “Ngã Ba Rừng Cần Lê”:

“…Tôi theo dõi bước đi của Đại úy Đại Đội Trưởng 399, ông vẫn mặc bộ đồ tác chiến, trên cổ khăn quàng đen bay bay theo gió nhẹ. Tay cầm khẩu M16 mũi hơi chúc xuống mặt đất. Ông bước qua Quốc Lộ Mười Ba, sang phía bên kia. Ông theo con lộ nhỏ vào xóm Cần Lê. Ông đi qua xóm, con đường đất đỏ dẫn xuống Suối Đá Trắng. Rồi tôi không thấy bóng ông nữa, chỉ thấy một đám bụi đỏ bốc lên như đang ở trong một cơn gió xoáy. Chừng nửa giờ sau, tôi nghe nhiềụ tiếng súng nổ ở phía Suối Đá Trắng vọng về đồn Cần Lê. Tôi biết điều gì đã xẩy ra. Tôi đứng lặng người đi, như trong một phút mặc niệm một chiến hữu đã hy sinh cho tổ quốc.”

Nhớ đâu phải là thích. Xin vui lòng phân biệt dùm cho.

***

.3.

Tôi đã làm xong một số báo dày 280 trang, tự mình in lấy, cắt xén, layout, trình bày bìa, sưu tập bài vở, đọc và viết, giữa lúc ban ngày phải túc trực thường xuyên tại nursing home để chăm sóc người bạn đời. Tôi chỉ làm nó vào đêm hôm khuya khoắc, một mình trong căn nhà trống vắng lê thê.  Xin đừng choàng vòng hoa cho tôi. Tôi đang khóc. Ôm mặt mà khóc. Khi phải bỏ  vất không nương tay tất cả đồ đạc, giấy bút, hay những chồng thư  khen ngợi THT  của độc giả mà Y. đã ra công gìn giữ, mong một ngày Y sẽ lựa lọc và in thành sách. Tôi đã vất chúng  vào thùng rác, không đắn đo, không thương tiếc. Bởi tối có giữ thì cũng chẳng ích lợi gì. Số phần chúng tôi xem như ở mạt lộ rồi. Còn gì nữa để mà gìn giữ cơ chứ ?

Nhưng mà khi nhận ra những chiếc hoa tai  của Y. văng ra trên sàn nhà. tôi không cầm được nước mắt. Tôi khóc như đứa con nít. Trời ơi, đọan kết chưa phải đến với tôi, sao lại trở thành bi kịch như thế này. Hở Trời ?

Suốt cả tháng  nay túc trực bên giường Y. tôi ngồi như một kẻ tối đồ. Nursing home là mợt địa ngục. Sáng chiều và tối nổi lên những tiếng la, tiếng thét, tiếng kêu, tiếng khóc… Hầu hết những người vào đây, là những người mà con cái hay người thân tìm cách tống, vì họ không thể  chăm sóc. Họ nhờ nursing home thay họ chăm sóc dùm. Và  hầu như những người vào đều đợi cửa mồ mở ra khi nào không biết. Đa số không còn sáng suốt. Có người cứ vài giây lại la. Tiếng la cứ tiếp tục ngày và đêm chăng ai buồn để ý. Có cụ thì suốt ngày ngồi trên xe lăn, nhìn ra cửa, không nói năng. Có cụ cứ la help help hoài…. Cả một dãy hành lang như vang lên những lời gọi hồn cho những kiếp đời sắp kết cuộc. Chỉ tội cho những người còn tỉnh trí. Như Y. Như tôi. Tôi vào đây vì Y. Và Y. vào đây vì tôi không còn cách gì khác.

Vì vậy, giờ chỉ muốn tìm quên. CHỉ có TQBT mới giúp tôi quên. Quên. Quên hết.

Phát hành TQBT số 65 tháng 7-2015

 

bia 65

 

Thư Quán Bản Thảo – Tạp chí văn học nghệ thuật

Năm 14 TẬP 65, THÁNG 7, NĂM 2015

Chủ đề: Tưởng niệm nhà văn Hoàng Ngọc Hiển

Mục lục 

Thư tòa soạn /3


Phần chủ đề Tường niệm Hoàng Ngọc Hiển

Sơ lược tiểu sử /5
Trần Hoài Thư: Viết về nhà văn HNH /7
Thái Kim Lan: Đọc Hoàng Ngọc Hiển /19
Nguyễn Lệ Uyên: Phận người trong “Quê hương lưu đày” của HNH /27
Nguyễn Vy Khanh: Nhân đọc trích đoạn Quốc lộ 13… / 33
Phạm văn Nhàn: HNH vẫn còn nguyên trong tâm thức của người lính ./48

Trích văn  Hoàng Ngọc Hiển

Quê hương lưu đày /55
Quốc lộ 13 / 66, 78
Cơn say /87
Viên đạn định mệnh / 95
Em có về Cồn Phượng /100
Côn Sơn ngày về / 112
Thân phận “Tiếng súng cao nguyên” / 122
Bóng núi Tà Cú / 133
Ngã Ba Rừng Cần Lê /142
Rắn cắn vó ngựa / 160
Độc chiêu: “Lộng giả thành chân” /171

Văn liệu đặc biệt
Nguyễn Vy Khanh: Ghi nhận về giải Bút Việt 1974 /182
Hoàng Ngọc Tuấn: Chào mừng Hội Văn bút VN nhân ngày trao giải thưởng… / 185
Nguyễn Tử Năng: Tiểu thuyết “Đường Một Chiều” của Nguyễn Mộng Giác và sự tuyển trạch… / 190

 

Giới thiệu tạp chí Thời Tập

Trần Hoài Thư: Hành trình của tạp chí TT / 199

Trích Thời Tập:

Trần Phong Giao: Độc giả và những người làm một tạp chí văn chương  / 204
Thơ Nguyễn Bắc Sơn / 211, Kim Thượng /212, Dưong Huyển Ý /212
Trần thị NGH.: khoan điệu/213
Hoàng Ngọc Tuấn: Độc thân /220
Lữ Quỳnh: Những người tưởng quen nhau /234
Trần Hoài Thư: Đôi mắt người Sơn Tây /243
Nguyễn Kim Phượng: Thời bút / 256
Mười tác giả: Vai trò của người cầm bút ./260.

Giới thiệu sách / 273

 

Trình bày bìa: THT 

Liên lạc Tòa soạn:

Trần Hoài Thư

719 Coolidge Street
Plainfield, NJ 07062

 

 

 

Viết từ nursing home…

Trong nursing home mà Y. hiện nằm, có thêm hai người Việt Nam. Họ là đàn ông. Họ khoảng trên dưới 50. Một bị stroke. Và một bị ung thư ruột, mới mổ. Tôi đã tìm ra họ, khi đọc những tên họ dán ngoài cửa phòng.

Nhìn họ, tôi nghĩ Y. là người rất may mắn. Bởi vì họ không có thân nhân đến thăm viếng hay chăm sóc. Còn Y. thì có tôi. Mỗi ngày ba lần, dều đặn. Đúng vào giờ ăn. Tôi giúp Y. nâng đầu giường lên cao, cho Y. ở vị thế ngồi trên giường, để cái bàn ăn ngay trước mặt, cắt thịt, cắt khoai tây từng lát, hay tháo mở những lọ nước juice có nắp… Y, có tay nhưng không thể tự làm lấy một mình.

Tôi như một người nurse aid chuyên nghiệp. Hai năm rưỡi chăm sóc người bệnh, quá quen. Nhưng mà tôi không quen cái cảnh mà mỗi ngày tôi đến để chứng kiến. Buồn đến đau xót. Buồn đến muốn tự tử. Nhưng đọi khi thấy mình là người quá may mắn. Bởi vì tôi vẫn còn mạnh khỏe, vẫn yêu đời, vẫn làm việc như điên.
Tôi đến môt nơi mà Y. giờ đây phải chịu đựng, mà tôi thì bất lực. Y. trút hết những phẫn nộ, những tủi thân, những bất hạnh xuống đầu tôi. Tôi nghe, như bị trăm ngàn đinh đóng vào óc. Phải. Nếu tôi như Y. thì cũng thế thôi. Làm sao mà có thể chịu đựng hình phạt nằm suốt ngày, tự vệ sinh lấy, mà xung quanh toàn là những bóng hình ảm đạm lướt qua, lướt lại….

Tôi tự nhủ. Gắng quen. Gắng quen. Vì Y. quá bất hạnh.

Tôi nghĩ đến hai người đồng hương ở đây. Họ cần người chăm sóc như tôi chăm sóc Y. Nhưng họ không có ai. Tay họ không thể cầm. Chân họ không thể bước. Họ được đẩy vào một khu riêng vào giờ ăn để người nurse aid đút họ ăn, cho họ uống nước.  Nếu nurse aid tốt thì không nói làm gì, còn nurse aid bất nhân thì tội cho họ. Vì họ không biết ai để mà khiếu nại… ?

Tôi không bệnh nhưng cả trí não tôi lại phủ cả máu bệnh họan.Những cặp mắt vô hồn. Những con người hay những bóng ma. Trời ơi trần gian ngoài kia bông hoa nở rực, xe cộ xuôi ngược, đèn xanh  đèn đỏ liên tu, vậy mà ở đây sao mà quá buồn thảm.

Y. thì cứ đòi về. Tôi thì im lặng. Cố giải thích thì cũng vô ích. Nếu tôi mà như Y. thì tôi cũng phải vậy. Không thể làm một tội đồ với cái quan tài chưa đậy nấp này.

Tôi biết là tôi không còn can đảm và nghị lực nữa. Bằng chừng khi tôi về nhà, tôi đá đá giày đá kệ đá ngăn. Tôi vét những gì tôi thấy, không cần biết chúng là cái gì. Vét mà bỏ vào bị và mang ra thùng rác.

Còn gì nữa để mà ôm mà giữ mà nhìn mà ngắm.

May mà tôi còn có công việc để làm.

Làm để tìm quên.

Làm để chứng tỏ là chỉ có Trần Hoài Thư mới làm được.

Như thời xưa, mang cặp kính dày 7 độ mà đi trinh sát, thám báo thám kich…

Đó là tạp chí TQBT này.

Layout đã hơn 100 trang. NHững bài cần thiết cho chủ đề Hoang Ngọc Hiển tôi đã có.

Cám ơn Cornell.

Họ đã cung cấp cho tôi những tài liệu tôi cần.

Cám ơn người bạn gái mà tôi xem như em út.

Đã mượn dùm tôi toàn bộ Thời Tập từ số 1 đến số cuối cùng

Cám ơn anh NHQ. NHờ anh mà tôi có toàn bộ Hiện Đại và Văn Nghệ không thiếu một số nào.

Cám ơn ông bạn già PVN.

Lần đầu tiên ông bạn đã  đánh máy một bài văn 10 trang chỉ trong vòng hai ngày, dù chỉ đánh một ngón tay.

Lý do: Vì bài quá hay.

Vâng, kỳ này quá hay. Quá hay nên tôi cũng đánh máy miệt mài. Gõ loc cóc nhưng âm điệu như phát ra niềm vui. Vừa gỏ vừa thưởng thức.

Tôi nói với PVN là số báo kỳ đến là số báo để đời. Tôi đã có đầy đủ Văn Nghệ, Hiện Đại và nay mai trọn bộ THời Tập sẽ đến. Tha hồ mà đánh máy. Tha hồ mà đọc. Tha hồ mà viết.

(còn tiếp)

Viết về Hoàng Ngọc Hiển : Vợ của một nhà văn

Chị tên thật là Nguyễn thị Tiệp, nguyên là một nữ sinh Trưng Vương.Trước khi lập gia đình với nhà văn Hoàng Ngọc Hiển, chị  làm việc cho Đài Phát Thanh Saigon như là một thư ký đánh máy.
Cuộc tình của họ thật đẹp. Đẹp ở chỗ là, vì tình yêu, anh chị đã vượt qua bao thử thách: Từ thành kiến gia đình, đến thành kiến tôn giáo,để cuối cùng anh chị  đã chiến thắng. Đẹp không phải ở “tình chỉ đẹp khi còn dang dở”, mà ngược lại ở chỗ  họ đã chế phục được cái “dang dở” ấy  bằng ý chí và bằng trái tim để mà cuối cùng họ  trở thành đôi lứa bền chặt  trọn đời. Cho dù cuộc đời ấy, nhiều buồn hơn vui, nhiều khổ nạn lận đận hơn là phẳng lặng êm đềm như mơ ước của tất cả cặp vợ trồng trẻ nào…
Năm 1965, anh bị động viên vào khóa 25 Thủ Đức khi là một giáo sư dạy Triết ở Côn Sơn. .Ra trường Thủ Đức, dù đậu khá cao, nhưng anh vẫn chọn tiểu khu Bình Long, một nơi mà báo chí vẫn thường nhắc nhở với những tin tức hàng đầu về những trận đánh thần sầu quỉ khốc.
Anh chọn cho anh, nhưng anh cũng chọn dùm cho chị. Chị  dứt khoát thôi việc, rời Saigon,  mang con để theo chồng, dù biết rằng nơi đến không phải là đất hứa mà là cõi dữ.
Chị nhớ lại những ngày tháng đầu tiên ở An Lộc:
“…Mấy tháng đầu, gia đình ở nhờ nhà một người quen. Sau đó chúng tôi  thuê một gian nhà sau của một người nông dân nguyên là dân  Bắc di cư. Những tháng đầu, tiền lương chuẩn úy mới ra trường không đủ tiền trả tiền thuê nhà , phải chờ lảnh rappelle  mới trả cho ông bà chũ. Hàng ngày con dâu bà chủ nhà cắt rau muống mang ra bán ở chợ, chị nhặt rau non, vụn biếu chúng tôi làm thức ăn, còn tới bửa cơm thì  ông chủ nhà cứ gọi hai con “chèo bẻo” (con gái chúng tôi) lên ăn chung  với ông bà . Thế là hai đứa cầm cầm bát đũa lên…..”
Riêng về anh,  chị kể:
… Anh  Hiển được bổ đi đại đội 399, được biết là đại đội khăn quàng đen . đại đội sát cộng nổi tiếng của tỉnh Bình Long, đi hành quân, đi kích liên miên, đêm thì ngủ bờ ngủ bụi dưới giao thông hào. Có lần anh kể: ” buồn ngủ quá, đứng trùm poncho dựa vào bờ vách giao thông hào mà ngủ một chút cho tỉnh. Nhiều khi gặp mưa thì cả người dầm nước cứ thế mà chịu cả đêm…”
 Niềm vui to lớn của chị là nhận được 5 ngàn đồng, tiền tác quyền  mà tạp chí Văn  trả cho cuốn truyện dài Quê Hương Lưu Đày của anh vào năm 1969:
“…tác quyền cuốn Quê Hương lưu dày đúng 5000 đồng. Anh đem về đưa hết cho vợ con , tôi mua sữa cho 3 cháu, còn dư tôi sắm được một cái lắc nhỏ 3 chỉ vàng Tây để kỷ niệm mong là không phải bán…”
Nhưng chị không quên nhắc đến  nỗi buồn của anh khi tác phẩm Quốc Lộ 13 anh mang dự giải văn bút lại không đượctrúng giải vì việc chấm này dựa vào sự quen biết hơn là giá trị văn chương.
“… Đến khi tôi có thai cháu Trần Minh Nhật, anh có đưa tập  Quốc lộ 13  đi dự thí cùng với thời điểm “Bóng Thuyền Say” của anh Nguyễn Mộng Giác.Anh Hiển kể với tôi là 2 tác phẩm ngang nhau số phiếu chỉ còn một phiếu vắng mặt. Về sau có ai đó đề nghị bỏ cho Bóng Thuyền Say của anh Nguyễn Mộng Giác, còn chính vị đó lại muốn bỏ cho Quốc Lộ 13. Vi thế Bóng Thuyền Say được phiếu . Anh nói là anh muốn dự để kiếm mấy trăm cho em tiêu, còn không thì cũng chả sao, vì thật ra đánh giá về  giá trị văn chương thì mỗi người có quyền, có quan điểm của họ, còn anh thì anh rất ưng ý về tác phẩm này vì anh viết toàn cảm xúc và chất liệu thật của anh: sống thật, làm thật. Anh Hiển còn nói cho tôi biết có một vị trong Hội đồng nói cho anh biết về vị kia muốn bỏ cho quốc lộ 13 mà vì quen biết nên bỏ cho Bóng Thuyền Say. Sau này ông cậu của tôi em con dì là ông Nguyễn Hà Vĩnh bút hiệu là Trần Dạ Từ bảo tôi “cậu mợ không biết Hiển dự thi, biết thì cậu mợ đề nghị bỏ phiếu cho Hiển là được ngay”.
Chị còn cho biết, ngoài Quốc Lộ 13, anh còn hoàn tất “Bao Vây”. Sau 1975, rất tiếc, bản thảo của hai tác phẩm trên bị hũy.
Sau 1975,vì là giáo chức biệt phái, nên  anh chỉ có 7 tháng ở trong trại  “cải tạo tập trung”. Vào năm 1977, anhbí mật tham gia một tổ chức chính trị nhằm lật đổ chế độ CS, nhưng chẳng may bị lộ. Hầu hết thành viên đều bị bắt.
Ngày anh bị bắt gia đình đều không hay biết. Sau đó, sau nhiều ngày dò hỏi,  gia đình mới  biết anh bị bắt tại nhà ga Phú Nhuận cùng với một số người khác. Chị bèn lên Phường làm giấy tờ có chồng mất tích xin giấy đi tìm chồng. Sau đó chị kiếm tìm khắp cả Saigon, tìm không ra, chị làm đơn khiếu nại lên Trung ương ở Hà Nội…
Đấy, luật pháp của xã hội chủ nghĩa là thếđấy.
Cuối cùng, TRởi thương, nhờ những quới nhân thật xa lạ, như một người công an gặp trên tàu hỏqa, hay một người bà con xa làm việc trong BỘ Công an… chị mới tìm ra manh mối,  là anh bị giam tại nhà giam Phan Đăng Lưu, rồi sau đó giải qua Chí Hòa, mà theo họ, là để chờ ra tòa án nhân dân xét xử..
Buổi xét xử hôm ấy, trong số 6 ngườibị kết  án hôm ấy thì  3 người bị kêu tử hình. Riêng anh bị kêu 20 năm.
Phần anh ở tù, phần bầy con con nhỏ dại, đứa lớn nhất 12 tuổi, đứa nhỏ nhất mới biết đi, không ai tưởng tượng là chị đã có thể gánh vác nỗi bổn phận làm vợ và bổn phận làm mẹ. Vậy mà chị đã làm được.  Chị làm đủ nghề, nào buôn thúng bán bưng, chợ trời, mua bán nhu yếu phẩm, làm vườn,  buôn gạo lậu, buôn bán môi giớ để ăn hoa hồng, rồi quay sang làm nghề vấn (cuồn) thuốc điếu, nuôi gà… Và biết bao nhiêu việc linh tinh khác.
Nghe chị kể, lòng tôi muốn đứt dọan. Chỉ có một nơi mà người đàn bà phải chịu đựng một cách khủng khiếp như vậy. Nơi đó, xứ đó, là Việt Nam.
****
Suốt 14 năm như thế, chị làm một người chũ gia đình, mang tấm thân gầy yếu của người phụ nữ VN, ra mà chống với những cơn bão chụp xuống vợ một người tù. như ngày xưa chị đã từng trải qua ở An Lộc Bình Long..
Tôi kêu chị gắng viết. Nếu chị không có khả năng, thì tôi sẽ edit.  Và chị đã viết tay, gần 20 trang giấy học trò. Trang đầu trang cuối không thấy có một ngày bình an. Từ việc thành hôn, đến khi anh vào quân đội, rồi anh ở tù…. Chị nhận từ anh không bao nhiêu, nhưng chị cho anh quá nhiều. Vậy mà, chị vẫn tự hào. Như chị đã từng kể, Đó là tiền tác quyền 5000 đồng do tạp chí Văn trả cho truyện dài Quê Hương Lưu Đày của anh. Chị đã dùng hầu hết số tiền để mua sữa cho con. Và dành ra một ít để làm tấm lắc 3 chỉ vàng Tây như là kỷ niệm về một tác phẩm của chồng được một nhà xuất bản bề thế xuất bản. CHị mong chị sẽ giữ mãi. Sẽ không bao giờ bán nó.
Bởi vì, ít ra nó cũng là một niềm hãnh diện, khi làm vợ một nhà văn.