Điếc không sợ súng: Hiện tượng văn chương nữ giới (bài hai)

Nếu sự xuất hiện đồng loạt của 5 nhà văn nữ : Túy Hồng, Nhã Ca, Nguyễn thị Thụy Vũ, Nguyễn thị Hoàng, Trùng Dương vào khoảng năm 67,68 đã tạo nên một hiện tượng: Đó là sự lấn áp, ưu thế của người viết nữ so với phe nam giới, thì hai người trong số họ là Nguyễn thị Hoàng và Nguyễn thị Thụy Vũ là hai nhà văn tạo nên những sôi nổi ồn ào nhất, Nguyễn thị Hoàng với tác phẩm đầu tay Vòng Tay Học Trò, và Nguyễn thị Thựy Vũ với Mèo Đêm.

 

Một tác giả thứ hai gây sóng gió trong làng tiểu thuyết 67 là Nguyễn thị Hoàng với tác phẩm Vòng tay Học Trò, một truyện dài đã in từng kỳ trên Bách Khoa (…). Một ngòi bút phụ nữ thứ ba đã gây được sự sôi nổi trong dư luận độc giả bằng một cửa ngõ khác. Đó là Nguyễn thị Thụy Vũ với kỹ thuật phơi bầy gần như trắng trợn vấn đề sinh lý nam nữ trong nội dung tác phẩm. Từ mèo đêm đến Lao vào Lửa (…).

nổi bật nhất. Nổi bật vì Tạo nên Không phải vì tài năng khác thường nhưng vì nội dung của tác phẩm của họ.

Nhà văn

Hai người này là  Khi nhắc đến sự xuất hiện đồng loạt của 5 nhà văn nữ vào khoảng  giử thập niên 60, người ta thường xem nó như là một hiện tượng.

Theo tôi, còn hơn thế nữa. Hiện tượng chỉ một biến cố, một sự kiện đặc biệt, nổi bật trong giòng sinh hoạt của xả hội và con người.  Nhưng hiện tượng chỉ giới hạn trong một giai đoạn nào đó. VÍ dụ hiện tượng đọc Kim Dung, Quỳnh Giao, hoặc hiện tượng sách báo… Hay hiện tượng để tóc dài, mặc quần ống loa. Nhưng đối với sự xuất hiện của năm nhà văn nữ: Túy Hồng, Nhả Ca, Nguyễn thị Thụy Vũ, Trùng Dương, Nguyễn thị Hoàng  vào 6 tháng đầu năm 1967, không những mang theo ý nghĩ của hiện tượng, mà còn nói lên một thành quả quá to lớn, vượt khỏi tầm mức hiện tượng hay phong trào. Cái thành quả ấy bắt nguồn từ “chó sủa mặt chó đường ta ta đi”

Thật vậy, thử đọc cái quảng cáo trên tạp chí Nghiên Cứu Văn Học vào năm 1968, để thấy rỏ mưc độ tập kích dành cho những nhà văn nữ:

QUAN CHU1VG

 

Nỗi khó khăn này được nhà văn Nguyễn thị Hoàng  kể lại sau khi tác phẩm Vòng Tay Học Trò được xuất bản:

“5 tờ báo, cùng nhất loạt lên tiếng phê phán, chỉ trích, tóm lại là chửi bới. Rất tiếc cuộc biển dâu cuốn trôi không còn một mảnh tài liệu nào, còn trí nhớ NTH thì chỉ gạn lọc lưu trữ những gì tốt đẹp. Hình như nhân danh hay đại diện phụ huynh học sinh, nhà trường gì đó có lên tiếng trong một bài báo… (…)

Được lồng bóng trong một giai đoạn thời sự bất an, những ngộ nhận phê phán không thuần túy qua lăng kính văn học nghệ thuật mà nhiều vấn đề ngoài nó. Cái nhãn hiệu độc dược hiển nhiên dễ dán là vô luân lý đạo đức, hay một chữ gì đó tương đương hoặc nặng nề hơn. (1)

 

5 tờ báo cùng nhất loạt ! KHủng khiếp. Nhất là người bị tập kích là một nhà văn nữ. Ngoài nhà văn còn là người vợ, người mẹ, người con dâu…

Từ những hàng chữ có vẽ triết lý hiện sinh để phê phán như:

“Tiểu thuyết Nguyễn Thị Hoàng, sự buôn lậu tư tưởng trong một con bịnh dân thành phố…” mà tác giả Nguyễn văn Lục sau này  cho là “sự phê phán đã đi trận đường rầy:

: ” Ðấy là (những)  bài viết nhằm phê phán triết học ấy ở bình diện luân lý. Họ không nhằm phê phán Sartre, bởi một lẽ dễ hiểu, họ không có điều kiện để hiểu Sartre. Họ chỉ có thể phê phán những sản phẩm xã hội mà họ nghi ngờ là từ Sartre mà ra, những sản phẩm bị coi là con hoang của Sartre. Vì sự phê phán trên bình diện luân lý của tiểu thuyết đã đi trật đường, liệu có thể xếp sự chống đối của họ cũng vào loại con hoang của Sartre không? Con hoang của những đứa con hoang?

(Nguyễn văn Lục: Những người con hoang của J.P. Sartre, nguồn talawas.org)

 

 đến việc  những cô sinh viên dạy viết văn, mà cái mùi nghe như bốc “chống Mỹ cứu nước”, với bom Napalm, bom xăng đặc:
…Xã hội. Việt Nam hiện tại là một xã hội nhiều nghèo khổ, nhiều bệnh tật, thiếu thuốc men, thiểu áo cơm. Nếu tác giả dẫn dắt những nhân vật của họ vào các cỏ nhi viện, các xóm nghèo các miền quê tan nát vì chiến tranh, cho họ nhìn những em bé quằn quại vi bom Napalm đốt cháy, hoặc nhìn một thạnh niên Việt Nam đau đớn  trong ngọn lửa đỏ của bom xăng đặc thì họ sẽ thấy ngay rằng những khắc khoải, những ưu tư, những buồn nôn, những sầu muộn của họ không có nghĩa lý gì nữa.” (Tập San Sinh Viên, Tiếng Nóí của Sinh Viên Sài Gòn xuất bản).

 

Rồi đến những ông già, tiếp trợ cho ý kiến của con cháu và học trò của mình:

“Các cô nói đúng Iằm, song các cô quên một điều quan  hệ này : trong những tác phẩm đó rât ít có nhân vật nào có nếp sống và cảm nghĩ của ngừời đàn bà con gái Việt Nam, mà toàn cóp những mẫu phụ nữ từ ngoài (dĩ nhiên cũng là những mẫu người trong truyện) rồi đặt tên Việt và bắt nhân vật nói tiếng Việt Nam. Đặc biệt, những nhân vật ăn nói rất số sàng, trâng tráo  (để ra vẻ đợt sống mới) hoặc giở giọng Nôn Mửa chán nản (cho rà vẻ Trí thức hiện sinh) và sau rốt là nhân vật nào cũng thèm khát đàn ông. mẹ tranh tình nhân của con, bạn bè cũng tranh tình nhân nhau, thậm chi chồng kẻ khác cũng cứ tranh, dù nhân vật này vốn là… cô giáo ! Nói tiếng Việt Nam, có tên Việt Nam song những nhân vật này lại ăn toàn bơ, xúp, hút thuốc lá nhiều hơn Đầm, uống rượu Tây khôngt thua gì bợm nhậu……

Người ta có thể tin rằng đó là những nhân vật của Sagan,  nếu tác giả bắt họ nói tiếng ngoại quốc và có tên ngoại quốc.”

Thú thật, đọc lại càng thấy nặng ở ngực. Bài viết trên xuất hiện vào năm 1968, khi trung đội tôi thiếu hụt quân số, phải được lệnh giải tỏa thành phố Qui Nhơn năm Mậu Thân. Thanh niên chúng tôi đã đổ máu, để chiếm từng con phố, để cố diệt khẩu cộng dồng đặt trên cao ôc. Mấy cô. máy cụ nào thấy được điều đó. Ngược lại dchỉ thấy bom napalm của Mỹ làm quằn quại em bé. làm đau thương thanh niên.

Tôi không bênh vực gì mấy nhà văn nữ. Nhưng tôi nghĩ là mấy cô, mấy cụ đã đi trật đuờng rầy khi dùng những lý luận “chống Mỹ cứu nước” để  phê bình những nhà văn nữ này.

Bây giờ lịch sử đã sang trang. Mới hiểu là chủ tịch sinh viên thời bấy gờ là Nguyễn Đăng Trừng, gia nhậpo đảng Cộng Sản vào năm 1971.

 

 

Trong một hoàn cảnh bị vây bủa, bị tấn công, bị chụp mũ, kết án tơi bời hoa lá như vậy, thế mà các nhà văn nữ  của miền Nam vẫn ung dung đường ta ta đi, càng in sách, càng viết feuilleton không mệt. Điều này chứng tỏ các cô có một bản lỉnh siêu đẳng thượng thừa, có một niềm tin vững chắc

Họ bất chấp tất cả.

. Để quyết tâm theo con đường mình đã chọn, bằng một ý thức rất trong sáng. Họ không ân hận ở ngòi bút của mình.

Như câu trả lời sau bốn mươi năm kể từ khi Vòng Tay Học Trò ra đờI;

“…Nhưng nó là như thế nào so với hàng loạt những tác phẩm đã dịch và in ra, những câu chuyện có thật trong đời thật. Trong VTHT hay bất cứ đâu, nếu cô giáo yêu một học trò ngoài lớp mình dạy bị kết án thì những mối tình hay hôn nhân giữa thầy giáo với học trò(chuyện thường thấy), lớp mình hay lớp khác trong trường, thì được phép, tại sao?” (1)

 

Chẳng những thế,,  ngược lại,  họ lại “lên lớp” dạy lại những kẻ chống họ:

 

: “Trong dịp đầu xuân, các ông dẹp lại tất cả sự nghiên cứu; học hỏi, tập thêm sự khoan hồng, Bên ly trà, đĩa bánh mứt và đĩa dưa hấu, các ông hãy thưởng thức tác phấm của chị em tôi. Muốn mặn mà thêm, thì các ông có thể nhậu với tôm khô, dưa kiệu để hỗ trợ cho sự thưởng ngoạn. Văn chương của đàn bà rất cần cho sự  hổ trợ ấy, các ông có nhận thấy đúng không ?” (2)

Rõ ràng “điến không sợ súng” hay “Chó sủa măc chó. Đường ta ta đi”.

 

 

.____

(1) nguồn: Internet:  Mai Ninh: phỏng vấn Nguyễn Thị Hoàng,  Người Yêu Của Đấng Trời),

(2)Nguyễn thị Thụy Vũ: “Khi Người Phụ Nữ làm Nghệ Thuật”  tạp chí Văn trước 1975)

Hiện tượng văn chương nữ giới miền Nam (bài 1)

Nhằm chuẩn bị cho tạp chí Thư Quán bản Thảo số tới mang chủ đề giới thiệu “hiện tượng văn chương nữ giới miền nam”, tôi vừa đánh máy vừa đọc(dĩ nhiên là đọc rất kỷ) bài viết: “Một Hiện tượng văn nghệ” của tác giả Việt Thường. Bài đăng trong Đồng Nai Văn tập, quyển 13 năm 1967.(1). Bài viết chỉ trích nặng nề, thậm tệ những người viết nữ thời bấy giờ như Nguyễn thị Thụy Vũ, Nguyễn thị Hoàng…

Dưới đây là trang đầu:

…Dạo gần đây không khi Văn Nghệ có vẽ ồn ào, nhộn nhịp mà nhộn nhất là cái dư luận các nữ sĩ đua nhau khai thác những câu chuyện ngoại tình, phá thai, bán dâm, lấy Mỹ… nói chung thì tất cả những câu chuyện xoay quanh ngực, mông, giường, nệm. hôn hít, rượu gái v.v… Có người thở dài (!) lo ngại, có người đặt câu hỏi: “Vì sao khi đàn ông viết loại này ít được chiếu cố và cũng ít bị bình phầm khắt khe mà đàn bà viết thì  lại có nhiều phản ứng dữ dội như thế ?”

Trong những phản ứng này, đáng kể nhất là phản ứng của các Nữ Sinh viên trong một buổi hội thảo có đông các nhà báo tại Trụ Sở Sinh Viên_ và tiếp đó một Đặc San ra mắt bạn đọc vào ngày 1-7-67. Trong đặc san, ngoài một sô bài nghị luận xác đáng về Phụ Nữ, về Nữ Sinh viên, các cô có dành chỗ cho các  bút phụ nữ này. Tuy có vài đoạn lượt bỏ nhưng người ta vẫn còn đọc được vài đoạn khá rõ ràng, sắc bén như sau :

“Đối với những cây bút phụ nữ, ngày nay họ víêt về tâm lý, đời sống người con gãi bằng tưởng tượng phóng đại, không thực. Thực vậy, những nhân vật trong “Đêm Dậy thì”.  trong “Vòng Tay Học Trò” trong  “Tiếng Hát”…chỉ là trường hợp ngoại lệ, mất thăng bằng, bệnh hoạn mà tác giả đã tưởng tượng ra, hoặc có lẽ đó là những nhân vật sống xung quanh tác giả, (hay chính đời sống tác giả) họ là một thiểu số người sống trong những khung cảnh quá  ư đầy đủ, nhàn rỗi,  trong một xã hội tù túng chật hẹp và nhốt mình trong vỏ ốc cả nhân. Xã hội. Việt Nam hiện tại là một xã hội nhiều nghèo khổ, nhiều bệnh tật, thiếu thuốc men, thiểu áo cơm. Nếu tác giả dẫn dắt những nhân vật của họ vào các cỏ nhi viện, các xóm nghèo các miền quê tan nát vì chiến tranh, cho họ nhìn những em bé quằn quại vi bom Napalm đốt cháy, hoặc nhìn một thạnh niên Việt Nam đau đớn  trong ngọn lửa đỏ của bom xăng đặc thì họ sẽ thấy ngay rằng những khắc khoải, những ưu tư, những buồn nôn, những sầu muộn của họ không có nghĩa lý gì nữa.” (Tập San Sinh Viên, Tiếng Nóí của Sinh Viên Sài Gòn xuất bản).

(trích Một Hiện Tượng Văn Nghệ, Việt Thường, quyển 13, Đồng Nai Văn Tập)

Đọc đoạn vừa trich  trên, ta rút ra được gì  ?

1.. Tập san Đồng Nai Văn tập, với thành phần là những cây bút về nghiên cứu có tiếng tăm cộng tác như Lê Thọ Xuân ( Lê văn Phúc), giáo sư Bửu Cầm, Thuần Phong, Lê Ngọc Trụ,  Nguyễn Ngọc Huy, SƠn Nam, Nguyễn văn HẦu…do giáo sư đại học văn khoa Nguyễn văn Y chủ trương. Đặc san ra bất định kỳ. Có khi 2 tập. Có khi 4 tập/mỗi năm….
Đây là lần đầu tiên, báo đăng một bài có tinh chất phê phán, chỉ trích nặng nề, trái ngược với chủ trương của tờ báo nặng về phần nghiên cứu mà họ cho lá xác đáng. Đủ biết sự quan tâm đạc biệt  của nhóm “học giả” bảo thủ, mà Mai Thảo đã dùng một cụm từ khá nhạy cảm” bọn bảo thủ phản tiến hóa”.
Họ là học giả thật, nhưng tài năng là nghiên cứu văn hóa. Chú họ vẫn còn mù mờ ở những câu văn nặng tư tưởng “Chống Mỹ cứu nước” như đoạn văn vừa trích dẫn.

Họ làm sao biết, chủ tịch sinh viên bấy giờ là Nguyễn Đăng Trừng.  Sau 1975, mới biết ông này là đảng viên CS từ năm 1971 cho tới ngày 31-7-2014, bị khai trừ khỏi dảng. (Tài liệu WIKIPEDIA).

2.  Nếu tạp chí sáng tạo bị bức tử bởi “nhóm bảo thủ phản tiến hóa” và một chánh quyền nặng về thủ cựu, thì ngược lại, phòng trào văn chương nữ giới của những năm 1966, 1967, trái lại không chết mà càng ngày càng mạnh, cho dù họ (những người viết nữ mà tác giả Việt Thường đề cập) bị vây bủa, kết án, chỉ trích, lên kiến nghịi, từ nhà phê bình, nhà đạo dức, nhà tu hành, đến hội phụ huynh học sinh, vậy mà vẫn cứ tà tà cho ra tác phẩm này đến tác phẩm khác, càng tha hồ hốt tiền bán sách, hay được mời viết feuilleton với tiền nhuận bút hậu hỉnh !.

Thật vậy:

Năm 1961: trên tạp chí Sáng Tạo số 7 Bộ mới chỉ xuất hiện một người viết nữ là Trần Thy Nhã Ca với 3 bài thơ:Rồi đôi chân của núi / Mùa đông / Bài đơn ca.

Vậy mà,  vào năm 1967, chỉ trong 6 tháng đầu: “ Một hiện tượng nhận thấy rõ rệt nhất trong giới sáng tác tiểu thuyết là hiện tượng các cây bút nữ hoạt động gần như đơn thương độc mã, làm mưa làm gió trong ngành tiểu thuyết.

Mở đầu là Nhã Ca với tác phẩm Đêm nghe tiếng đại bác (…). Lần đầu tiên ở Việt Nam, một tác phẩm văn nghệ trong vòng không đầy hai tháng (…) Một tác giả thứ hai gây sóng gió trong làng tiểu thuyết 67 là Nguyễn thị Hoàng với tác phẩm Vòng tay Học Trò, một truyện dài đã in từng kỳ trên Bách Khoa (…). Một ngòi bút phụ nữ thứ ba đã gây được sự sôi nổi trong dư luận độc giả bằng một cửa ngõ khác. Đó là Nguyễn thị Thụy Vũ với kỹ thuật phơi bầy gần như trắng trợn vấn đề sinh lý nam nữ trong nội dung tác phẩm. Từ mèo đêm đến Lao vào Lửa (…). Một cây bút phụ nữ khác xuất hiện đột ngột và bất ngờ nhưng báo hiệu một văn tài có tương lai nhiều hứa hẹn. Đó là Trịnh thị Diệu Tân với truyện dài Mảnh Vụn (…). Một cây bút phụ nữ khác sáng tác từ lâu bây giờ mới ấn hành tác phẩm, đó là Đỗ Phương Khanh với tập truyện ngắn Hương Thu (…). Bên cạnh đó , Minh Đức Hoài Trinh cũng cho in trong năm 1967 mấy tác phẩm dài: Hai Gốc cây, Bức thành biên giới, Sám Hối (…) và đặc biệt nhà văn được giải Văn Bút VN(1965) nữ sĩ Minh Quân cũng cho ấn hành tác ohẩm đầu tay, tập Đất và người.”

(Nhật Tiến, Sinh hoạt tiểu thuyết một năm qua, tạp chí Bách Khoa, ngáy 15/1/1968, số 265&266)

Câu hỏi: tại sao vậy? Tại sao văn chương nữ giới lại mạnh mẽ đến cao độ như vậy.

Chúng tôi sẽ tiếp tục đi vào câu hỏi này qua một số nhận định  mà chúng tôi sưu tập trong kỳ post tới.

(còn tiếp)

Copyright @ tranhoaithu&tapchi Thu Quan banthao

Hầm…

securedownload

Hình trên là chiếc bàn làm việc của tôi. Hai computer được liên lạc với nhau qua network wireless. Hai cốc cà phê. Ba lọ thuốc Gout. Mấy cái kính lão, tùy theo khoảng cách. Và một tranh phác họa bằng mực đen của Đinh Cường, vẽ người đàn bà khỏa thân.

Đó là nơi mà mỗi ngày thấy tôi làm việc.  Nơi tôi tận dụng những gì tôi hiểu biết về khoa học điện toán để áp dụng vào cái nhà in, nhà xuất bản không giống ai của tôi.

Nơi tôi không còn là tôi, không còn thấy cái thực tại khắc nghiệt của mình, ít ra trong một khoảng thời gian nào đó. Để hòa mình trong một thế giới khác.

Cho dù trên bàn để sẵn ba  hủ thuốc Gout. Và tiếng chuống mà Y. sẵn sàng kêu vang  lúc nào

Tôi càng nhận ra mình là một kẻ đầy may mắn. Bởi lẽ, tôi cũng đã từng ở dưới hầm, ngày này qua ngày khác, thời này qua thời khác.
Tuổi thơ chui xuống cái hầm nhà để tránh những tràng súng nổ từ đồn binh Tây nả như mưa xuống xóm. Rồi tuổi trẻ thì nương tựa vào những hầm chìm hầm nổi từ Bình Định lên Tam Biên. Tôi đã trải qua những cõi mồ, nghe hơi thở nình theo từng tràng động kinh của hàng háng trái phá.

Như bức hình dưới đây.

Người chụp trong hình là nhà văn Y Uyên. Anh sinh năm 1941 và tử trận vào năm 1969.

Y Uyen