Đọc một bài thơ tự do của Võ Phiến: Nghĩ về “thơ của văn” và “văn của thơ”

Ở Bình Định quê nhà, chiều chiều đi chơi với em trên đường ruộng nhỏ. Em bé chợt ngắt đứt một tiếng cười giữa khoảng đồng vắng. Giật mình, nhìn lên trời cao, và ngó xuống: thấy đứa em bé quá. Và bốn bề núi xa lặng lẽ

(trích Dừng Chân, Sáng Tạo số 27 tháng 12 năm 1958)

(nguồn: Thơ Từ Sáng Tạo, Thư Ấn Quán mới xuất bản tháng 7, 2014)

…Võ Phiến là nhà văn. Ông cũng có làm thơ, nhưng nghĩ đến ông, người đọc đều nghĩ đến một nhà văn thuần túy.

Trên tạp chí Sáng Tạo bộ cũ số 27 tháng 12, 1958, có hai bài thơ tự do của ông được đăng tải.

Dọc hai bài, ta nhận ra lối thơ tự do của ông khác hoàn toàn với lối thơ tự do của hầu hết các tác giả khác như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Trần Thanh Hiệp, Duy Thanh, Thạch Chương,,,  Cái khác biệt lớn nhất là  cách dùng chữ. Trong khi các tác giả khác cố mặc vào chiếc áo mới cho thơ họ, từ hình thức đến nội dung, thì thơ Võ Phiến ngược lại, dùng những chữ  mộc mạc, chơn chất,trái hẳn với cai phong cách “nghệ thuật mới” trong việc làm mói thi ca cùa Sáng Tạo, như “nghệ thuật đen” mà Thanh Tâm tuyền hằng hô hào cổ xúy.

Có lẽ vì hai chữ tự do nên thơ tự do đã bị lạm dụng một cách bừa bãi. .Hình như các chủ bút chỉ trọng tên tuổi nên đôi khi ta phải bực mình khi  đọc một bài thơ dài lê thê.  Đọc đến tối tăm mặt mày. Đọc đến nhức đầu nhức óc. Đọc đến mệt nghỉ. Để rồi, chẳng có một cảm xúc nào lưu lại khi gấp sách.

Nghĩ mà thương cho thơ. Rõ ràng thơ bị hiếp dâm

Vậy thì thế nào là một bài thơ tự do hay ?

Hay tùy theo nhận định của mỗi người. Có thể tôi thích bài thơ của tác giả này nhưng bạn không cảm nổi.

Chẳng khác bắt tôi nhìn vào một bức tranh lập thể mà tôi không hiểu mô tê, mặc dù bạn khen ngợi hết mình: ” Đây là tranh của Picasso, bán cả bạc triệu đấy.”

Nhưng có một điều rõ ràng, thơ tự do là một bài văn, hay một đoạn văn trong một ý nghĩa nào đó nếu ta nghĩ văn là tập họp những chữ chẫng cần tuân theo một cấu trúc, vần điệu,luật lệ bằng trắc.

Nhưng một câu hỏi là khi nào, lấy tiêu chuẩn gì để coi bài văn, đoạn văn ấy là thơ tự do?

Tôi xin dùng đoạn thơ tự do của Võ Phiến để tản mạn.

Nếu đọc đoạn thơ của Võ Phiến vừa trích ở trên, ta sẽ nhận ra hai câu đầu chính là văn.

Ở Bình Định quê nhà, chiều chiều đi chơi với em trên đường ruộng nhỏ. Em bé chợt ngắt đứt một tiếng cười giữa khoảng đồng vắng.

Đây là hai câu tả cảnh, nói về một sự kiện nào đó. Nó không đượctrang điểm hay tô điểm bởi hoa lá chữ nghĩa, trừ hai chữ “ngắt đứt” mới lạ. Nhưng mới lạ không phải là thơ. Nói tóm lại ta không thể nào tìm ra một chút thi tính ở đây.

Nhưng đến câu: Giật mình, nhìn lên trời cao, và ngó xuống: thấy đứa em bé quá thì rõ ràng  nó quả  không còn là văn nữa. Nó là thơ, nếu nghĩ thơ là những vần điệu, chữ nghỉa được dùng khi văn bất lưc. Tôi nghĩ nhà văn Võ Phiến là nhà văn có tài chẻ sợi tóc ra làm tư, ông cũng chịu thua khi nói về cái cảm giác này. Và cũng vì chịu thua nên ông mới mượn thơ để nói lên nỗi lòng hay cảm xúc của ông khi nhìn lên trời cao rồi nhìn người thân của mình.

Thơ tự do là văn mang theo thơ.Nó mang tính  phổ quát chú không chi tiết.. Nó là tầng trên cùng của một cái tháp văn chương, là loại xăng máy bay trong các loại xăng dầu được lọc luyện.

Trái lại khi thơ mang theo văn, thì không phải là thơ.

Đó là sự lạm dụng hoặc hiếp dâm thơ.

 

Có phải vậy không ?

 

Lữ Quỳnh, bạn tôi

 

 

Lữ Quỳnh là bút hiệu của Phan Ngô, sinh năm 1942 tại Thừa Thiên-Huế. Thân phụ mất sớm, lúc một  tuổi. Tuổi nhỏ phần lớn sống tự lập. Học sinh Quốc Học – Huế, 1959-1962. Dạy học, trường Bán công Vinh Lộc 1962-1963.  Cựu Sĩ Quan VNCH (Khóa 19 Trường Bộ Binh Thủ Đức, ngành HC Quân Y). Đơn vị phục vụ : *Tổng Y Viện Duy Tân – Đà Nẵng năm 1965-66. *Tiểu đoàn 22 Quân Y (SĐ22BB) – Bình Định, năm 1967-70, *Quân Y Viện Quy Nhơn, năm 1971-75. (tài liệu trên Internet)

Tôi và Lữ Quỳnh có nhiều điểm chung. Cùng năm sinh. Cùng cảnh hẩm hiu của một đứa bé không thấy mặt cha từ khi còn quá nhỏ, cùng học Quốc Học – Huế, cùng gốc lính sư đoàn 22 BB, cùng viết cho Bách Khoa, Ý Thức và bây giờ, cùng ở Mỹ, tiếp tục cùng văn chương chữ nghĩa.

Biết anh từ những bài thơ đầu tiên trên Bách Khoa. Thơ anh đăng khá sớm trên một tạp chí bề thế, lúc anh  còn là cậu học sinh trung học. Nhưng thật sự cái giao tình bắt đầu từ năm 1967, khi tôi rời Thủ Đức về sư đoàn 22 BB tại Bà Gi để bắt đầu lao vào trận mạc. Đơn vị tôi là đại đội 405 thám kích, doanh trại nằm trên đồi, nép mình dưới ba ngọn tháp Chàm mà Chế Lan Viên đã xem như là biểu tượng của Điêu tàn qua tập thơ của ông thời tiền chiến. Còn đơn vị anh là một đơn vị quân y, doanh trại thì nằm ngay dưới đồi, về hướng Đông. Hai đơn vị dù khác nhiệm vụ nhưng hai đứa chúng tôi có cùng một mẫu số chung. Cùng viết văn làm thơ. Cùng viết cho Bách Khoa. Cùng đến từ xứ Huế. Dù thời gian này tại Bộ Tư Lệnh Sư đoàn 22 BB có những cây viết cho Bách Khoa như Doãn Dân, Nguyễn Kim Phượng (tức là Hoàng Thị Bích Ni), nhưng tôi  thân với Lữ Quỳnh nhiều hơn. Thứ nhất là tánh tình anh cởi mở. Thứ hai những ý nghĩ về văn chương xem như giống tôi. Chúng tôi không xem văn chương là đồ trang sức, mà ngược lại dùng văn chương để nói lên những tiếng kêu trầm thống của một thế hệ bị thua thiệt, bị ném vào lò lửa của chiến tranh.

Lúc bấy giờ, Lữ Quỳnh là một sĩ quan cấp úy. Nếu tôi nhớ không lầm, anh là Sĩ quan Phụ tá Hành chánh Quân y của tiểu đoàn. Với chức vụ ấy, anh  được cấp một xe Jeep và tài xế. Còn tôi thì chỉ có “xe chân”. Cũng nhờ xe anh mà tôi được  “quá giang” theo anh về Quy Nhơn sau khi đơn vị hết hành quân, hay được dưỡng quân. Thỉnh thoảng chúng tôi gọi nhau, và anh lái xe lên đồi hậu cứ của tôi, bốc tôi xuống một quán cà phê  thị trấn ở An Nhơn, Đập Đá…

Anh là một mẫu người nghiêm túc, chững chạc. Anh không có một đam mê nào ngoài đam mê viết. Không phải như tôi, viết cẩu thả, viết thả dàn, viết có khi chẳng cần coi lại, trái lại anh viết rất chững chạc. Anh thai nghén một bài văn khá kỹ trước khi đặt ngòi viết xuống giấy. Một ví dụ là khi anh viết một truyện kể về những người đập đá, (trong truyện Bụi Đá), anh đã lái xe đến tận nơi, cố tìm hiểu, nhận xét về cảnh tượng… Hay truyện Bóng Tối Dưới Hầm, anh đã dùng những chất liệu có thật trong cuộc đời quân ngũ của mình để xây dựng.

Những ngày tháng ấy, chúng tôi cùng nhau viết, cùng nhau gởi bản thảo về Saigon.Chúng tôi viết trong không gian gào rú tiếng máy bay phản lực hay ì ầm tiếng nổ của bom hay cà nông vọng về. Chúng tôi viết dưới mái tôn tiền chế lạnh lẽo, âm thầm, bên cạnh những hàng dây kẽm gai, hay giao thông hào… Chúng tôi đã chuyển không khí chiến tranh, những vấn tra của người nhập cuộc, những tiếng nổ đầy bất trắc về Saigon. Chúng tôi đã thét gào đòi lại quyền của tuổi trẻ.  Chúng tôi được các ngài ở Saigon phong cho là “những cây bút trẻ miền Trung”.

Trong những điều kiện khắc nghiệt, và trong những hoàn cảnh đầy đe dọa lên số phận, vậy mà Lữ Quỳnh vẫn viết. Viết đối với anh, theo tôi, là một đam mê, chứ không phải là trách nhiệm, hay “một cây bút là một sư đoàn” gì ráo… Tôi bỗng nghĩ đến một nhận định của Mai Thảo khi ông giới thiệu bài Bệnh Xá Cuối Năm của tôi trên Văn. Ông cho là tôi đã : “đặt sống thành suy nghĩ. Tự thành trong cô đơn”. Nhận định này rất đúng cho Lữ Quỳnh. Riêng tôi thì 60%. Còn LQ có lẽ là 100%.

Bởi vì mỗi bài viết của anh, dù là văn hay thơ đều bắt độc giả suy nghĩ. Bởi chúng là kết quả của những suy nghĩ của anh và anh muốn gởi lên trang giấy. Không những anh sống để viết. Mà sống để suy nghĩ và viết.

Tôi xin dẫn chứng một đoạn ngắn trong Những Cơn Mưa Mùa Đông mà tôi mở tình cờ một trang sách, để nhận rõ sự suy nghĩ này qua một nhân vật.

Đây là đoạn tả lại cảnh một ông lão rầy đứa cháu trai của ông vì tội dám  lấy ná bắn vào cái dĩa sứ đẹp đẽ:

Mới ngày nào đây thôi mà – Ông già nói lầu bầu trong miệng – mày ngỗ nghịch quá, ai đời với chiếc dĩa đẹp đẽ như thế này mà mày dám dùng làm bia để bắn ná. Tao nghe một tiếng “bốp”, chạy ra, nhìn lên chiếc dĩa, nó đã rạn nứt như thế này rồi. Còn mày thì biến lẹ như một con còng chui sâu dưới vườn… Nghịch ngợm như mày, tưởng không bao giờ thành người lớn được chứ. Lại cái tội háu ăn nữa. Thế mà rồi mày không còn ở với tao, mày lại chết trong tư thế của người lớn mà. Tham gia, tham dự, tham gì gì đi nữa, rồi cũng chỉ có khổ cái thân già của cha mày thôi con ạ. [1]

Đọc đoạn trên ta hiểu ngay về cái ẩn dụ mà LQ đã gởi qua lão già. Cái dĩa là cái bia. Và hành động nghịch ngợm của thằng bé còn mang theo một tư thế của người lớn. Phải trong chiến tranh, người ta sẽ dùng bia người để nhắm. Để rồi “lại chết trong tư thế người lớn”…

Xin trích một đoạn khác, trong một truyện trước 75 của anh, để chứng minh là văn chương đối với anh là văn chương đầy những suy nghĩ, tra vấn đầy ý thức:

Từ “Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu, phản trắc, lầm lẫn ấy khóc cả.”

….Trong bóng tối của chiếc hầm chật hẹp, người đàn ông cố nhìn bàn tay mình mà vẫn không thấy nổi. Gã vừa nghĩ tới những kỷ niệm thật xa. Lúc này gã nhớ lại hình ảnh người nhạc sĩ nằm chết trên bến sông, gã đã khóc thật nhiều trên quãng đường công tác còn lại. Con tim bật máu làm trào nước mắt. Chính gã khóc chứ không phải cái tôi mà gã chọn lựa, cái tôi không bao giờ mềm yếu phản trắc lầm lẫn ấy khóc cả.  [2]

đến: “Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa? “

….Trong bóng tối, thiếu nữ cảm thấy chới với khi nghe tiếng nói của người đối diện. Tiếng nói, chỉ có tiếng nói thôi. Ma quái quá sức. Tiếng nói. Trong căn hầm chỉ có tiếng nói và tiếng nói thôi. Thiếu nữ nghĩ mình cũng không còn nhận ra mình. Tiếng nói không biết có phải là của mình không nữa?  [2]

Ngay cả bây giờ, anh vẫn đặt sống thành suy nghĩ. Dù cái bóng tối dưới hầm của ngày xưa chỉ còn là hoài niệm, nhưng cái bóng tối bây giờ vẫn còn vây phủ anh, đầy hiu quạnh và cô đơn:

thường có những giấc mơ
gặp gỡ bạn bè
những người bạn ra đi đã nhiều năm
nay kéo về
nói cười ấm áp

tôi rất vui
rất vui trong từng đêm như thế
để lúc tỉnh ra
ngồi một mình trong bóng tối 
quạnh hiu. [3]

 

Bài thơ mới sáng tác, nhưng bóng tối vẫn là bóng tối. Dù ngày xưa hay bây giờ.

Nhưng cũng nhờ bóng tối ấy mà anh vẫn tiếp tục viết, tiếp tục sáng tác.

Nếu không, chắc đời phải là buồn lắm.

Phải không, Lữ Quỳnh ?

_______

[1] Truyện viết năm 1974, do Thư Ấn Quán tìm lại tại Thư Viện Cornell và được tái bản trong Tủ Sách Di Sản Văn chương miền Nam.

[2] Trích từ truyện ngắn Bóng Tối Dưới Hầm.

[3] Trích từ “Giấc Mơ” trong thi tập “Những Giấc Mơ Tôi” của Lữ Quỳnh do nhà xuất bản Văn Mới ấn hành năm 2013

Mái nhà

Bỗng nhiên nỗi buồn tư nhiên như đỏ lên con mắt. Quạnh hiu hay hiu quạnh bây chừ ?. Bạn bè. Đồng đội. Những người quen hôm qua.Bao nhiêu người đã ra đi. Bao nhiêu người còn lại. Có người mới vài năm đây có mặt. Thì đang đang nằm trong phòng cấp cứu hồi sinh.Có người còn giọng nói bên tai. Bây giờ giọng nói đã trở thành kỷ niệm
Thế hệ chiến tranh sao mà buồn quá đổi.
Continue reading Mái nhà

Chủ đề tạp chí Sáng Tạo và tháng bảy hoa đăng

 

Vĩ đại.

Bởi vì từ trước tới nay chưa ai và không ai, dù là triệu phú, dù là nhà văn hóa, dù là những kẻ hô hào mồm mép, có thề làm. Mà từ dưới hầm nhà của một lão già, thui thủi bên cạnh một người vợ bị liệt giường liệt chiếu gần hai năm nay.

Thơ từ Sáng Tạo. Sách dày 276 trang sưu tập hầu hết tất cả những bài thơ trên Sáng Tạo suốt 38 số không chừa một tác giả nào. Dù lá người chỉ có một bài rất hay như Lan Đình hay tràn ngập bong bóng như Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên, Duy Thanh, Trần Thanh Hiệp. Dù thơ tự do Thanh Tâm Tuyền, Thạch Chương hay là thơ tự do của Võ Phiến…
bia chup

 

Anh ĐC ơi, NM ơi, cac bạn ở SG, Hà Nội, SG, Montreal, Canada, Cali, Tuy Hòa ơi, nổ pháo lên chia vui dùm ta.
Ta đã in trang cuối cùng. Mong cho NM đừng bận tâm về lỗi chánh tả nữa.

Còn nữa. Còn Tuyển truyện Sáng Tạo. Còn Thảo luận của Sáng Tạo. Hai tập đã in xong rồi. Để ngay ngắn ngăn nắp trên kệ, chờ ngày gởi theo đường bay bưu điện.

FromScanner

BIA tuyen truyen blog

Còn nữa. Sáng Tạo Bộ mói, gồm 7 tập cũng xem như gần xong rồi. Hai cái computer đặt cạnh nhau. Acrobat pdf version 5.0 lỗi thời bởi vì nghèo quá không thể mua nỗi version mới nhất.. Phải retouch từng trang. Bảy tập khoang3 800 trang. Ôi 800 trang    Crop, flip, rotate, color enhancement, brightness, contrast. Compress. . những trang lem luốc nhoà nhạt ố màu, Cuối cùng,  xem như đã xong.  Thấy vầng thái dương đã ửng hồng.

Ai cần thì hỏi, Ai muốn thì tặng. Ai dư tiền dư bạc thì cho.  Chứ đừng nhân danh này nọ mà buộc ta đưa lên NET. Còn khuya.

PTDC1974

Muốn giúp thì giúp ta có tiềm mua  giấycó mực mua thuốc mua đồ bổ để ta còn có sức mà chăm sóc bà vợ thân yêu để bả còn cho ta tiếp tục với công việc văn chương chữ nghĩa này.

Còn nữa. Còn Thư Quán Bản Thảo số 60 chủ đề về tạp chí Sáng tạo đang chờ giờ lên “giàn phóng”.

Ôi tháng bảy mùa hè, học trò nghỉ học. Và tháng bảy, ta bày binh bố trận, bấm nút cho những đường chim.

Thơ từ Sáng Tạo, tuyển truyện Sáng Tạo, Thảo luận sáng Tạo, Sáng Tạo Bộ mới toàn tập bảy số, , Thư Quán Bản thảo số 60.
Tất cả đang chuẩn bị,

 

cho tháng bảy  hoa đăng.

Cho Sáng Tạo.