Ấm lòng (6)

 

Thư Quán Bản Thảo số 59 “Tưởng Niệm Phùng Thăng”
 

người viết: Vương Trùng Dương

TQBT 59

Trước đây, trong phần Giới Thiệu Sách Báo như thường lệ trên nguyệt san Tân Văn, khi giới thiệu về Thư Quán Bản Thảo số 56, tôi đã viết: “Thư Quán Bản Thảo số 56, tháng 6 năm 2103 đã được ấn hành và gởi đến thân hữu, độc giả khắp nơi. Trải qua 13 năm, số 56 nầy tưởng chừng đình bản vì tai nạn xảy ra trong gia đình anh Trần Hoài Thư – chị Nguyễn Ngọc Yến, hiền thê của anh – bị stroke, phải nằm bệnh viện để điều trị vào cuối năm 2012, trước ngày ấn hành TQBT số 55…”.

TQBT do anh Trần Hoài Thư chủ trương và vài thân hữu cùng nhau thực hiện nhưng “cánh tay đắc lực” nhất là chị Nguyễn Ngọc Yến âm thầm hỗ trợ cho chồng để hoàn thành “đứa con tinh thần” cho đến khi đến tay thân hữu và bạn văn. Vì vậy, số phận của TQBT tùy thuộc vào tình trạng sức khỏe của anh chị.

Trải qua một năm chăm sóc người bệnh. Tháng Giêng năm 2014, Trần Hoài Thư viết những dòng chia sẻ:

“Bây giờ tôi trở thành một kẻ nội trợ săn sóc nhà cửa. Cả năm nay Y. chỉ quanh quẩn với xe lăn, cùng căn phòng bề bộn thuốc men, và cây kiểng. Tôi phải làm những gì mà Y. đã làm trước đây. Đổ rác. Dọn dẹp nhà cửa. Rữa chén bát. Giặt giũ quần áo. Viết bill. Đây là những việc mà cả đời tôi chẳng bao giờ  đụng tay vào.  Nhưng cuối cùng, hoàn cảnh đã bắt một lão già, lẽ ra hưởng già, hưởng nhàn, thì bây giờ phải túi bụi, nhọc nhằn hơn ai.

Tôi có thể bán cái cho nursing home mà. Tôi có thể đẩy Y. vào một nơi được lập ra để giúp tôi hưởng già mà. Tôi có đầy đủ lý do, không cảm thấy xấu hổ, hay hổ thẹn với lương tâm, vì tôi không còn đủ sức để lê đôi chân bị Gout, hay phải bị kiệt lã vì tuổi già sức yếu. Cái quyết định vào nursing home là quyết định của Y. cũng vì những lý do ấy. Hy sinh đời mình vì không muốn thấy nỗi khổ nạn của kẻ khác. Và đó cũng là quyết định của cô thuộc sở xã hội được phái đến để thẩm định hoàn cảnh chúng tôi. Cô hỏi Y. bà có muốn vào nursing home không. Y. trả lời yes. Tôi nói là tôi không muốn để vợ tôi vào đấy.

Nhưng cô nói ông đừng bận tâm. Nếu ông không lo được cho bà thì hãy để người khác lo cho bà. Ông hãy giữ gìn sức khỏe của ông trước tiên. Ở trong nursing home, có người sẽ tập cho bà đi đứng…

Tôi nghe lời bà. Và ký vào giấy để Y. vào nursing home…

… Vậy mà cuối cùng tôi lại gọi bà để xin được hũy bỏ. Tôi nói là tôi không thể để vợ tôi vào. Tôi có thể  gánh vác trách nhiệm như là một primary caregiver. Tôi cũng gọi cô cán sự xã hội. Tôi cũng gọi sở xã hội. Họ đều nói chúng tôi hiểu và thông cảm. Họ không quên chúc tôi một mùa Lễ đầy vui tươi hạnh phúc.

Tôi đã chọn cho tôi một quyết định. Tôi không cần nghĩ ngợi đắn đo gì hết. Tôi không cần biện giải gì hết. Chọn và chấp nhận. Bởi vì lúc này Y. rất cần tôi. Và tôi cũng rất cần Y…”.

*

Tôi gặp Trần Hoài Thư lần đầu tiên tại Vũ Đình Trường ở Trường BB Thủ Đức vào tháng Giêng năm 1967, cách đây hơn 47 năm. Khi đó chúng tôi ở trong Ban Bao Chí của liên khóa SVSQ đảm trách nguyệt san của quân trường nầy. Trần Hoài Thư từ nhà giáo trở thành kẻ bất cần đời, một thời sống phiêu bạt giang hồ, trinh sát,  nay đây mai đó, cơm hàng cháo chợ, ngủ với “khách sạn ngàn sao”, vào sinh ra tử… Thế nhưng, tuổi già, Trần Hoài Thư đã “chôn chân một chỗ” với hiền thê nơi xứ lạnh. Và, mối tình già của anh chị rất cao đẹp, quý hiếm, thuận vợ thuận chồng với tấm lòng muốn làm sống lại “Di Sản Văn Chương Miền Nam” trước năm 1975. Ngoài các công trình qua các tác phẩm đã ấn hành, Thư Quán Bản Thảo là minh chứng cụ thể.

Tờ Phụ Nữ Tân Văn ngày 10.3.1932 trình làng bài thơ Tình Già của Phan Khôi (1887-1959), lúc đó tác giả vẫn còn trẻ.

“Hai mươi bốn năm xưa,
Một đêm vừa gió lại vừa mưa.
Dưới ngọn đèn mờ, trong gian nhà nhỏ,
Hai cái đầu xanh kề nhau than thở:
– Ôi đôi ta, tình thương nhau thì vẫn nặng,
Mà lấy nhau hẳn là không đặng,
Để đến nỗi, tình trước phụ sau!…


… Hai mươi bốn năm sau.
Tình cờ đất khách gặp nhau.
Đôi cái đầu đều bạc.
Nếu chẳng quen lung đố nhìn ra được.
Ôn chuyện cũ mà thôi.

Liếc đưa nhau đi rồi,
Con mắt còn có đuôi”.

Bài thơ Tình Già ẩn chứa mối tình dang dở nhưng vẫn canh cánh trong lòng. Khi nhắc đến Thơ Mới thời tiền chiến, đây là bài thơ tiêu biểu. Ở tuổi thất thập, Trần Hoài Thư chia sẻ cùng thân hữu và bạn văn tình già của anh với người bạn đời mối tình hiếm có, cao đẹp và trân quý.

Qua bốn thập niên chung sống với nhau, tình già của Trần Hoài Thư bày tỏ vối 4 câu thơ trong thi phầm Xa Xứ ấn hành năm 2010:

“Cảm tạ mỗi ngày em vẫn cho tôi
Niềm vui khua dòn trên bàn máy gõ
Những niềm vui mỗi ngày mọc lên nho nhỏ
Xứ xanh hoài trên khung cửa hồn tôi”.

Sách ơi! Thư ơi! Khi cha mẹ đặt tên anh và bút hiệu anh chọn như định mệnh đã an bày. Chị Yến mang lại cho anh mùa xuân trong hành trình với chữ nghĩa. Chị Yến cho anh nhựa sống, niềm vui, hơi thở… nhưng chẳng may lâm bệnh và anh đền đáp lại niềm an ủi vô biên cho chị. Phạm Văn Nhàn viết: “Phải chi chị Yến đừng ngã bịnh thì có lẽ giờ phút nầy, cho dù miền Đông Bắc Hoa Kỳ có đổ những cơn bão tuyết nặng đến đâu chăng nữa thì hai anh chị cũng lái xe đến thư viện Mỹ để tìm thêm tư liệu để viết. Đằng này, mỗi ngày hầu như hết 98% thời gian anh phải chăm sóc cho người vợ đáng thương kia. Chỉ cón 2% thời gian trong ngày mà anh vẫn không bỏ ý định làm nên những sự việc văn học”.

Trước khi chị Yến lâm trọng bệnh, hai vợ chồng ngày đêm lui cui ở basement với “nhà in tự chế” để in, xếp trang, đóng, cắt, gói… rồi ra Bưu Điện gởi tặng thân hữu. Tác phẩm & Thư Quán Bản Thảo không bán, chỉ biếu, và tùy lòng hảo tâm của thân hữu, bạn văn đóng góp. Trải qua thời gian dài vẫn như vậy. Từ trước đến nay, chưa có ai hy sinh công sức và tiền bạc để theo đuổi hoài bão như vậy. Trong blog của TQBT có ghi: “Muốn có báo xin gởi thư về chúng tôi. Nếu ngại phải mang nợ thì kèm tem, kèm tiền. Nhưng hãy để chúng tôi có được cái quyền từ chối để chứng tỏ có tiền nhiều khi mua TQBT cũng không được! Nếu ở trong nước thì chờ có ai quen về VN, nhờ họ mang về  dùm”.

Mỗi lần đi tìm tài liệu để thực hiện chủ đề cho TQBT, từ New Jersey, khoảng 5 giờ lái xe đến thư viện đại học Cornell ở vùng thượng tiểu bang New York, khoảng 3 giờ lái xe đến thư viện đại học Yale ở tiểu bang Connecticut. Đó là hai thư viện chính được lưu trữ sách, báo của Việt Nam. Ngoài ra còn có vài thư viện nhỏ ở Miền Đông HK được bạn bè giới thiệu. Giờ đây, THT không còn thơi gian rong ruổi!

*

Thư Quán Bản Thảo số ra mắt sau biến cố 9/11 đến nay đã được 14 năm. TQBT 59 “Tưởng Niệm Phùng Thăng”, nữ dịch gỉa nổi tiếng đã chết thê thảm vào tháng 6 năm 1975 bởi quân tàn bạo Khmer Đỏ. Gần bốn thập niên qua, hình ảnh Phùng Thăng đã phai mờ theo năm tháng!

Trong TQBT 59, anh Trần Hoài Thư cho biết: “Với số báo kỳ này, bề dày là 280 trang, thì hai trăm trang đều dành cho PT. Đó là một chuyện lạ lùng khi tôi nghĩ sẽ chẳng bao giờ làm nổi. Sao mà làm được khi tôi là một primary caregiver phải tất bật với những công việc phải chăm sóc một người bạn đời bị bán thân bất toại, tôi  không thể rời nhà hơn một tiếng đồng hồ, khi mà PT ra đi chẳng để lại dấu vết. Hay chẳng ai bận tâm nhắc nhở… Ngay cả những tác phẩm mà PT để lại cho đời cũng xem như mõi mắt trông tìm như Buồn Nôn, Những Ruồi, Sói Đồng Hoang… Vậy mà bây giờ tôi có đủ. Có cả chứng liệu  Koh Tang. Có cả Thổ Chu. Có cả hồi ký của ông đại sứ… Có cả cảnh hai mẹ con bị trói chặt… Có cả học trò viết về cô giáo dạy Triết lúc cô mới 23 tuổi, mà bây giờ, cứ nhắc đến một mùi hương kỳ lạ, và một màu áo đen không bao giờ quên, hay có cả những Kẻ Lạ Ở Thiên Đường, một tác phẩm mà chưa ai nhắc, khi PT quyết tâm dịch, dù sau những ê chề bởi những trang phê bình hằn học chê bai về cuốn “Những Ruồi”…

Ví dụ cuốn Kẻ Lạ Ở Thiên Đường của Simone Weil do PT dịch. Người thân của PT cho biết bản thảo đã bị thất lạc sau năm Mậu Thân. Tìm trên Net, không có dấu vết. Tìm qua các thư mục trên mạng của Yale, Havard, Cornell hay Quốc Hội Hoa Kỳ: cũng không. Tìm ở thư viện Sai Gòn, Hà Nội có tầm cở quốc gia cũng không. Vậy mà tôi lại tìm ra nó – tại một thư viện tỉnh…”.

Dịch giả Phùng Khánh – Ni Sư Trí Hải (1938-2003) tên thật là Công Tằng Tôn Nữ Phùng Khánh và dịch giả Phùng Thăng (1943-1975) là hai chị em ruột. Gia đình hoàng tộc rất mộ đạo Phật. Thân phụ là cụ Nguyễn Phước Ứng Thiều, cháu nội của Tuy Lý Vương Nguyễn Phước Miên Trinh. Phùng Thăng theo học ban Triết, Đại Học Văn Khoa Huế. Giáo sư Triết tại trường trung học Trần Quý Cáp Hội An. Trong thời điểm đó vì không khí chi8nh1 trị ngột ngạt ở địa phương nên lên nương thân ở Di Linh và dạy Anh Văn trường trung học Nông Lâm Súc Bảo Lộc. Sau khi chia tay với người bạn đới Trần Xuân Kiêm (Chơn Hạnh), Phùng Thăng về Sài Gòn.

Gia dinh PT(Thú tự từ phải sang trái: PT là  người đứng thứ hai )

Những tác phẩm nổi tiếng đã được ấn hành qua dịch giả Phùng Khánh & Phùng Thăng:

– Buồn Nôn của J.P Sartre (Phùng Thăng dịch)

– Sói Đồng Hoang của Hermann Hesse (PT dịch chung với Chơn Hạnh)

– Câu Chuyện Dòng Sông của Hermann Hesse (dịch chung với Phùng Khánh)

– Những Ruồi của J.P Sartre (Phùng Thăng dịch)

– Kẻ Lạ Ở Thiên Đường củaSimone Weil (Phùng Thăng dịch)

Ngoài ra, với bút hiệu Tuệ Không (sau nầy Phạm Thiên Thư lấy pháp danh Thích Tuệ Không), đổi sang Huệ Minh qua các bài viết về Triết Học và Phật Học.

Sau biến cố tang thương 30-4, đầu tháng 5-1975 Phùng Thăng dẫn con gái Tiểu Phượng mới 9 tuổi tìm đường vượt biên. Theo ghe ra đảo Thổ Chu thuộc Kiên Giang với hy vọng được tàu Mỹ đón nhưng quá trễ. Quân Pol Pót lợi dụng lúc đảo không còn chính quyền, tấn công chiếm đảo vào ngày 10 tháng 5, lùa theo 515 người giải vế đất Kamphuchia. Sau nhiều năm bặt tin, năm 1981 anh Trần Xuân Kiêm lên Đà Lạt gặp thầy Chiêm. Theo lời thầy Chiêm thì không chết trên biển mà chết tập thể cùng với con gái và người cháu ruột. Oâng nói bị đập đầu vào gốc cây mà chết… khoảng 10 tháng 6 năm Aát Mão. Vì vậy Ni Sư Trí Hải chọn ngày ấy làm ngày giỗ Phùng Thăng.

TQBT 59, số Tưởng Niệm Phùng Thăng với các bài viết của Trần Hoài Thư, Thái Kim Lan, Phạm Văn Nhàn, Phay Van, Thinh Văn, Đào Anh Dũng, Trần Văn Nam… THT và Nguyễn Lệ Uyên phỏng vấn những cây bút nói về Phùng Thăng: Nguyễn Vy Khanh, Khuất Đẩu, Diệu Hoa. Văn liệu sưu tầm trích từ bản dịch của Phúng Khánh và Phùng thăng. Thơ của Trần Xuân Kiêm, Nguyễn Đức Sơn, Huy Tưởng, Đinh Cường, Trần Thị Nguyệt Mai…

Hình bìa TQBT 59 với chân dung Phùng Thăng và bé Tiểu Phượng qua nét vẽ Đinh Cường. Ảnh  tư liệu sưu tầm được do thân hữu chuyển cho ĐC & THT.

Theo quan niệm của Nguyễn Vy Khanh: “Với văn học miền Nam thời 1954-1975 cũng như đối với văn học nói chung, dịch thuật đã và đang đóng vai trò hết sức quan trọng, trong việc phổ biến, tiếp cận các khuynh hướng văn chương của nước ngoài cũng như sáng tạo văn học nghệ thuật; bộ phận dịch thuật và văn học nước ngoài phát triển thì các ngành văn học cũng phát triển, cập nhật theo… Phần đóng góp của hai dịch giả (Phùng Khánh & Phùng Thăng) dù không nhiều về số lượng như các dịch giả khác, nhưng thật sự đáng kể trong cuộc vận động văn nghệ và văn hóa sau năm 1964…”.

*

Như đã đề cập ở trên, trước khi nói về TQBT 59, viết lung khởi về trường hợp hiện nay của anh chị THT để nói lên tấm lòng và sự quyết tâm của anh về hình ảnh dịch giả Phùng Thăng đã chết thê thảm lúc còn trẻ. Phùng Thăng đã đóng góp cho nền dịch thuật văn học Miền Nam nhưng bị. lãng quên với số phận nghiệt ngã của chị. Điều đáng xấu hổ, ở trong nước ấn hành bản dịch của Phùng Thăng nhưng để tên dịch giả ở trang bìa sau. Theo lời người bạn văn nói với tôi, không để tên Phùng Thăng mà lấy tên lạ hoắc nhưng đối chiếu y chang! Trong Thư Tòa Soạn, anh THT  chỉ viết: “Với niềm mong mỏi vô biên: Hãy trả những gì của Phùng Thăng về lại cho Phùng Thăng”.

Quý thân hữu và bạn văn muốn có món quà lưu niệm nầy, liên lạc với THT qua email tranhoaithu@verizon.net

Little Saigon 4-2014

Vương Trùng Dương

Ấm lòng (5)

Mùa xuân đã về hôm qua, mừng quá đi thôi. Sẽ không còn những cảnh co ro run rẩy lái xe đi chợ, hay vất vả khi tìm cách đưa vợ ra xe để đi đến phòng mạch bác sĩ. Tưởng tượng một lão ông vịn cho lão bà đi xuống thềm, dùng chân mình  đẩy vào cái chân đình công, bắt nó phải đi, một tay nắm lấy lưng quần, để đề phòng bị ngã. Đám y tá chịu thua khi tìm cách đưa Y. lên giường. Để tao. Tao biết cách làm. Này tay vịn vào thành xe lăn. Nào one two three, cả hai cùng mang sức lực. Một kẻ chỉ còn một chân mạnh cố nhấc cả thân mình lên. Một kẻ nhờ trời vẫn mạnh, kéo lưng quần lên, và kêu Y. cầm lấy cây gậy, để từ từ bước… Để từ từ tập như đứa bé mới tập đi, để từ từ ta nghe cả giòng suối vô lượng của mùa xuân chảy vào tràn trề, khi một ngày được thấy Y. ăn ngon miệng, hay một đêm ngủ ngon giấc. Để biết rằng, mình vẫn còn hạnh phúc, mình vẫn còn tha thiết với đời. Mình vẫn còn nồng nàn hơi ấm…

Cuối cùng mùa xuân đã thật sự về sau mấy tháng tuyết băng nghiệt ngả.  Sáng nay đi chợ, cố lựa cam ngọt cho Y. nhưng làm sao mà biết trái nào ngọt trái nào chua. Nào là Naval, nào là Sunkist, nào là Florida… Hỏi một bà Mỹ trong siêu thị. Bà Mỹ tốt bụng giải thích, ở đây khó tìm trái ngọt. Vì sao. Ngọt là khi nào cam nhận nhiều nắng. Còn vùng Florida, có khi lạnh cóng… À ra thế. Hèn gì cam Texas ngọt có tiếng.

Cám ơn bà Mỹ. Cám ơn những tháng ngày làm primary caregiver để càng biết tấm lòng của mẹ, của vợ, của người phụ nữ. Khi ta nấu món ăn mà thấy kẻ khác ăn ngon, thì ta khỏi cần ăn cũng cảm thấy no… Nhất là kẻ ấy là người bệnh mà ta là tên đàn ông bạt mạng giang hồ…

Nhớ lại thời ấy. Cái thời lảng mạng ngông cuồng, đi ra trận thì luôn đi đầu. Cái thời ấy ít ra cũng cho ta làm những bài thơ, để mỗi lần mùa xuân trở lại, thấy lòng mình cũng như nhấp hớp rượu đế thanh xuân:

Anh ở trên này, mây đùn mây

Anh ở trên này, mây đùn mây
Mây anh hốt, hốt hoài không hết
Chim thì ít làm sao nghe tiếng hót
Mà em thì xa, tiếng hát cũng xa

Anh hẹn lòng, trở về tháng ba
Mà tháng giêng bị thương nằm bệnh viện
Đêm nổi khùng nhìn hoài nước biển
Tí tách rót vào thân thể thanh niên

Anh rời nhà thương, vết sẹo chiến trường
Tháng hai qua đèo đầy trời chim én
Chim đem mùa xuân trên vùng chinh chiến
Anh thấy lòng ấm lại, bâng khuâng

Kìa mùa xuân, em thấy gì không
Dưới đèo mênh mông một vùng hoa cúc
Cúc trắng cúc vàng để anh nhớ Tết
Tháng giêng mình, là tháng hai Tây

Tháng giêng mình ở đây mù sương
Đèo lên càng cao càng nghe tai ách
Chỉ có đàn chim, một đàn chim én
Ngực thon mềm, khiêu vũ đón mùa xuân

Để anh thì thầm, chúng ta tuy xa
Nhưng hồn vẫn gần nhau trong nỗi nhớ

Lính rừng
Anh là lính bộ binh
Giày da mòn trung thổ
Đời quẩn quanh sinh tử
Hầm hố pháo xung phong
Cổ áo một hoa mai
Mà mùa xuân chẳng biết

Gái đẹp chê lính khố
Tiểu thư mơ người hùng
Anh mang hai chiến thương
Lên rừng xem gái Thượng

Cái chồng nàng hãy bắt
Anh không cần bò trâu
Những đứa lên Trường Sơn
Thường những thằng ế vợ

Đêm giao thừa nằm giữ đường
cho thẩm thúy hằng
Dẫn một đàn con chiều xuống núi
Giao thừa. Không ai nhắc mà đau
Giao thừa hai tiếng đâm tâm não
Trừ tịch: poncho gạch lót đầu

Một đêm sao lại buồn như mếu
Muốn nổ tan tành cả cõi đêm
Giao thừa giao thừa ta xuống núi
Làm hiệp sĩ mù giữa cõi u minh

Giao thừa, ai đó mời ta rượu
Một nhấp, mà hồn tê tái ư
Anh bạn, nghe gì không, tiếng nhạc
Người ta đang nhảy đầm,
dạ vũ mừng xuân

Giao thừa mừng tuổi con heo bịnh
Xin của nhà dân làm cỗ xuân
Trung đội lập bàn thờ giữa mả
Ta khấn âm hồn
bảo bọc đàn con.

Vào Giêng
Tôi ở bên ni trời viễn biệt
Em xa. Xa ngái tận phương trời
Ở đây tuyết trắng giăng mờ ngõ
Tháng giêng em và tôi hai nơi

Nơi quê nhà trời đã vào xuân
Em nơi nào, Sài Gòn, Qui Nhơn?
Tôi qua Nữu ước trời không độ
Khuấy cốc cà phê đặc nỗi buồn

Em nơi nào, nắng có vàng không?
Cho tôi về thăm lại Ban Đông
Những đồi hoa tím, đồi sim tím
Tím theo từng cây số nhớ nhung
Em nơi nào, chim én về không?
Trời quê hương lúa trổ đòng đòng
Cho tôi nhớ lại mùa xuân cũ
Em đã theo đời tôi ruổi rong

Em nơi nào, hương sứ còn vương?
Tôi có người yêu đẹp lạ thường
Đêm tối miền cao trời thấp lại
Muôn sao trời cũng chụm yêu thương

Em nơi nào, rừng có lao xao?
Trời mù sương, bóng em gầy hao
Tôi đi để lại người em nhỏ
Giữa rừng hoa quì vàng chiêm bao

Xin em hãy lại căn nhà cũ
Giúp mẹ tôi lau màng nhện giăng
Cố thử xem giùm trong một xó
Đôi giày há mõm thuở thanh xuân

Xem thử trong giày còn hạt cát
Của những ngày tôi lội thăm em
Xem thử đế giày còn bẹt gót
Của những ngày gian khổ lênh đênh

Em nơi nào, ở nơi nào nhỉ
Trời đã giêng rồi, em biết không
Tôi qua Nữu Uớc ngày không độ
Gọi cốc cà phê, lạnh nỗi lòng

Lạnh thêm nỗi nhớ trùng trùng
Tìm đâu hương cũ giữa dòng viễn khơi

Ấm lòng (4)

.(trích từ thư bạn đọc)

Nhờ cuốn báo tuần rồi (*) của anh, tôi có một hình ảnh đầy đủ rõ ràng hơn về cuộc đời Phùng Thăng để kể cho con gái tôi nghe.  Cháu sinh ra ở San Francisco, vừa 20 tuổi, nhưng cháu thường xuyên nói chuyện với tôi, có cái nhìn rõ ràng về bối cảnh lịch sử của Vietnam…  Đặc biệt khi tôi nói về dịch giả cuốn The Catcher In The Rye và Phùng Thăng, thì cháu rất thích nghe, vì The Catcher In The Rye cũng là một trong những favorite books cháu đọc năm lớp 7, song song với Of Mice and Men, Gone With The Wind, God Father… cháu đọc cùng năm ấy.  Riêng tác phẩm đó của Salinger, cháu còn dùng để làm 1 big project với nhiều required categories khác nhau trong lớp English, và cháu được (+bonus) 145/100 …
Tôi cũng đặc biệt ưa thích các bài thơ của Trần Xuân Kiêm, vì khi đọc, mình thấy rõ nhân dáng những người là nguồn cảm hứng của ông.  Những bài thơ đó bỗng nhiên mang một linh hồn, mang những giọt nước mắt nóng, mang nỗi bồi hồi thương cảm dành cho một người tài giỏi xinh đẹp mệnh bạc…
Ph.
(Cali)
(*) Thư quán bản thảo số 59 tháng 3-2014 (Blogger chú thích)

Ấm Lòng (3)

Hôm kia tôi nhận được TQBT số mới, tôi rất vui mừng khi thấy anh vẫn còn làm tiếp công việc hiếm quý ấy.  Tôi càng vui hơn vì đọc được những bài viết về Phùng Thăng là người tôi rất ngưỡng mộ nhưng hiếm khi nghe nhắc đến…  Có lẽ trong lứa tuổi của tôi, tôi thuộc loại “oldies” nên những người tôi lưu tâm tìm hiểu (và thích các sang tác của họ) đều khá lớn tuổi hơn tôi nhiều…  Có cái nhìn rõ rang hơn về cuộc đời Phùng Thăng, tôi cảm thấy đau đớn và phẫn nộ, anh ạ.
Lần nữa, cám ơn anh.
Ph.Ng
Garden Grove, CA