TẢN MẠN

Nỗi buồn toán học

Posted on

1. Ở Mỹ, theo dỏi báo chí, được biết ở quê hương có những bạn trẻ liên tiếp làm vẽ vang  dân tộc  qua những kỳ thi về tóan học quốc tế.

Điều đó chứng tỏ dân tộc VN là dân tộc thông minh, và ít ra, giỏi tóan..

Có lẽ vì vậy, nên chuyện các ngài chức sắc của các công ty hàng đầu trên thế giới này  đổ xô tìm đến VN để khai thác chất xám là chuyện hiển nhiên.

Họ đã đánh hơi được một nguồn chất xám béo bở.

Như họ đã tìm đến Ấn Độ trước đây.

Có điều khác, là thời ấy, đòan quân chất xám Ấn độ được tuyển mộ qua Mỹ.

Bây giờ có lẽ khác. Các tư lệnh hay các chỉ huy trưởng lại bay qua VN mộ quân.

Họ mang qua các dự án. Họ mộ người. Họ mua chất xám ngay tại chỗ. Vừa rẻ vừa tiện.

Khỏi cần lo giấy tờ mang qua Mỹ.. Khỏi cần lo chỗ ăn chỗ ở.

Khỏi cần lo chi tiền bảo hiểm sức khỏe. Khỏe ru.

2. Chất xám khắp nơi, không ai biết là của ai. Trong một sản phẩm vừa được tung ra thị trường nào ai biết có những người đã nặn óc để viết ra những phương trình,  đã vẽ nên những biểu đồ, đã tính ra nhiệt độ cọ xát, đã viết ra những chương trình cả vạn giòng… Không phải từ cái bán cầu não của ông Bill Gate, hay của ông CEO của Intel hay IBM…

Câu hỏi được đặt ra, tại sao họ lại tìm đến, khổ công lặn lội dặm trường. Chẳng lẻ cả một đất nước được xem là kỹ thuật khoa học hàng đầu, với những trường đại học danh tiếng lẫy lừng nhất của thế giới, lại không cung ứng đủ những tóan gia hay sao? Hay họ thương xót một đất nước bất hạnh mà ban lòng từ tâm?

Có thật vậy không.

Để trả lời câu hỏi này, xin phép được dùng chuyện riêng cho cái chung, để tả lại bối cảnh của một lớp tóan thuộc chương trình Cao học Tóan ứng dụng tại một trường đại học kỹ thuật của Mỹ. Đó là  đại học kỹ thuật: Stevens Institute of Technology,  Hoboken , New Jersey USA vào năm 1990:

Lớp học gồm một thầy, 5 trò.  Hai Trung Hoa, một Ấn độ, một VN, và một Mỹ trắng (nữ).

Các sinh viên Trung Hoa và Ấn độ là các sinh viên du học. Nữ sinh viên Mỹ  học ngành giáo dục để trở thành giáo sư Toán trung học. Và người VN là kẻ viết bài này.

Đấy, ngành Tóan và sự yêu thích Tóan ở Mỹ là vậy. Nếu đi vào các lớp điện tóan hay MBA, tình hình sẽ khác xa. Lớp học hay giảng đường chen chúc.

Tại sao vậy? Vì sinh viên sợ Tóan, vì Tóan quá gay go, khó nuốt ?

Hay vì ngành Tóan khó kiếm việc, lương bổng thấp ?

Hãy thử làm hai tờ resumé khác nhau..  Một resumé kê có bằng cấp Cao học Toán Ứng Dụng (Master in Applied Math.) với  việc làm muốn tìm như Nghiên cứu Thống Kê, hay thầy dạy Tóan v.v… Và một resumé tìm những việc về ngành điện tóan. Thử kê có kinh nghiệm 5 năm về SAP/Business Warehouse chẳng hạn rồi gởi cho một số công ty giúp tìm việc trên Internet như Monster v.v…

Kết quả:

Đối với việc làm liên quan Tóan học, chẳng có ma nào đóai hòai.

Và nếu có  đóai hòai thì vẫn có những đòi hỏi phụ: Phải biết rành về một ngôn ngữ điện tóan về Thống Kê Phân tích như SAS hay phải có văn bằng tốt nghiệp ngành sư phạm tại tiểu  bang nếu muốn trở thành thầy giáo.

Đó là chưa kể mức lương quá thấp.
Nhưng những công việc liên quan đến ngành điện tóan, thì đêm ngày chuông điện thọai liên tiếp reo, chẳng những thế còn quen ai giới thiệu sẽ được tiền thưởng hậu hỉnh….

Ôi, nỗi buồn tóan học !

2.
Nhưng  đối với một nhà văn nhà thơ  thì khác. Nỗi buồn ấy là kởi đầu cho những nụ hoa nẩy mầm từ chữ nghĩa. X, Y, Z, biến số, thông số, ẩn số, quỉ tích, đạo hàm, thống kê sác xuất, phương trình hay định lý thi cũng vậy. Dù khô khan, dù cứng ngắc, dù khó hiểu, nhưng mà tôi đã có văn chương rồi. Cũng như ngày xưa, trong chiến tranh, trong tù tội, khi mà tuyệt vọng và bất lực không còn có thể tìm ra, dù một chút lóe sáng, thì vẫn có một bản nhạc Dạ Khúc, , một bài thơ của Nguyễn Bắc Sơn, Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, đê cánh hoa sen, hoa súng được mọc lên trong hồn, để màu hỏa hoảng của sợi dây chọay trong rừng tràm được sáng ánh lên buổi chiều tàn tạ,  để ta hôn lên nỗi khổ nạn của ta như hôn lên cái đẹp đau thương  mà Chúa và Phận đã hôn lên cho con người và vì con người.

Như một đọan trong Chi Minh Wang tôi viết trong thời gian làm một gã học trò già :

Năm nào cũng vậy. Mùa thu về đúng hẹn. Đám mây trên sông bàng bạc như mong manh cho một hơi thở của ngày. Và xa hơn, sườn cầu Pulaski mờ sẫm. Và sông nước còn gượng chút ráng chiều. Chim biển trắng phau gọi nhau náo loạn. Mây mời gọi. Sông cũng mời gọi. Mây và sông chở lại một kinh thành. Huế. Người sinh viên cũ năm nào đã từng đứng yên trên hành lang văn khoa, để nhìn con sông vào hoàng hôn. Người con gái ở phía cạnh cũng nhìn xuống con đường Lê Lợi. Mái tóc chảy lai láng bờ vai. Dáng dấp thì hao gầy. Không ngờ, nơi ấy đã trở thành một hoài niệm. Sau mấy mươi năm giờ đây tôi lại gặp lại một lần. Một thời. Bỏ quên những mệt lả của miếng cơm manh áo. Những bánh xe lăn của thời gian. Những cuống cuồng trong một thế giới kỹ thuật và máy móc. Bỏ quên tôi với đôi mắt yếu mờ, vầng trán nhăn, mái tóc sắp bạc cả đầu. Bỏ quên tay sinh viên già đang đến trường tranh đua cùng tuổi trẻ. Người sinh viên già cô đơn giữa lớp học. Sách vở làm sao xóa đi nỗi buồn. Bạn bè, đồng đội, người thân yêu, những vết cằn của chiến tranh, tù tội, vượt biển. Sách vở mở mang kiến thức nhưng sách vở càng mệt mỏi giữa chốn hồng trần. Con tính đã trở thành khó khăn. Những beta, gamma, những limit, Markov chains sao mà nhớ cho hết. Lời giảng của vị thầy đã rơi vào một bộ óc quá đầy, quá cặn. Người sinh viên già cố trừng con mắt, căng thẳng chiếc tai còn sót lại. Người sinh viên không cười không nói, không ai hàn huyên thăm hỏi. Dòng chữ viết trên trang giấy run rẩy hơn, vì tuổi đời hay vì sợi gân tay đã liệt. Gắng lên con hỡi! Học phí này hãng đài thọ một trăm phần trăm. Một môn học trên dưới hai ngàn đô la. Gắng lên con. Mày chưa phải là già. Con tim mày vẫn xôn xao, con mắt mày vẫn còn tham lam ham hố. Gắng lên con! Cái việc, cái nhà, chiếc xe, học phí cho con. Gắng, để tên sinh viên già đến trường mỗi tuần hai buổi, vượt xa lộ, qua đồi núi, gần hai tiếng đồng hồ. Ngày tuyết cũng như ngày mưa. Ngày đoàn xe kẹt không sao nhúc nhích trước khi vào hầm Holland hay êm ả lăn những vòng xe, qua phi trường Newark, nhớ về phi trường Qui Nhơn. Ngày tìm gì cho tâm hồn thôi bâng khuâng xào xạc khi mùa thu lá cứ tiếp tục rụng đầy trên sân trường.

NY

Mùa học vẫn như thường lệ. Giờ đầu tiên, ông giáo sư viết trên bản vài hàng về chương trình, thi cử. Ông giáo sư trẻ, phát âm giọng Anh, áo quần xốc xếch, đầu tóc rối bù. Hay ông ta lập dị. Ông muốn chứng tỏ ông là một nhà toán học đúng điệu. Hay Toán học đã làm thay đổi bản chất con người. Ông cũng chẳng cần giới thiệu ông cho đám sinh viên. Ông bắt đầu ngay bài giảng. Lại bắt đầu một cuộc chạy đua. Tai căng. Mắt điều tiết. Những hàng chữ nhỏ mờ trên giấy trên bản. Câu hỏi. Câu trả lời. Chiều đã nhường cho bóng đêm. Lúc này không còn thao thức, nhớ nhung, dằn vặt, âu lo, tính toán. Lúc này, biến số trở thành lời giải. Giả thiết trở thành kết luận. Lúc này những ký hiệu trở thành linh động, dẫn đưa đến bến bờ kiến thức. Rồi mười phút nghỉ. Xếp qua sự đuổi bắt. Người sinh viên già đứng dậy, tựa vào cửa sổ. Dòng Hudson lấp lánh những ánh đèn từ những chiếc tàu đêm. Trên bờ xa, là cả một Nữu Ước rực rỡ như một khối đá kim cương vĩ đại của địa cầu. Tôi đã nhìn thành phố biết bao lần, nhưng mỗi lần đôi mắt tôi càng thêm no nê trước triệu ức ánh đèn đan kết phản ánh trên đáy nước, hay mờ ẩn trong sương mù. Cả một Nữu Ước ban ngày cuống cuồng hối hả bây giờ đã biến thành một hòn đảo linh động bừng rộ hoa đăng…

(trích Chi Minh Wang, trong Ra Biển Gọi Thầm)

TẢN MẠN

Đọc Nationalist in the Viet Nam Wars: Memoirs of a Victim Turned Soldier của Nguyễn Công Luận vào nửa khuya, nhớ đến đồng đội mình

Posted on
Qua Google tôi được biết Amazon.com  có bán một tác phẩm đề cập đến đại đội 405 thám kích mà tôi đã có mặt gần 4 năm,
Đó là tác phẩm
Nationalist in the Viet Nam Wars: Memoirs of a Victim Turned Soldier của Nguyên Công Luận.
download (1)
Tôi đã chọn ấn bản Digital (Kindle edition) để có thể mau mắn tìm lại kỷ niệm về một đơn vị cũ. Xin được cám ơn tác giả, dù tôi biết, ông không phải là một người chỉ huy trực tiếp, mà là chỉ huy cao cấp, nhưng ông đã dành những sự ngưởng phục nhất, trân trọng nhất về những người lính thám kích của đơn vị tôi nói riệng và binh chủng thám kích nói chung trên những trang giấy chữ người..
Một đọan ông đề cập nhiều đến thám kích là đọan ông kể về  hành động gan dạ của 2 người lính thám kích thuộc  đại đội 405 thám kích  (1) trong việc diệt một hầm có 5 tên địch xâm minh.  Dù  ông đã xử dụng nhiều biện pháp như thuyết phục chiêu hồi, bắn M79 dọa dẩm với mục đích là để họ còn được sống…  nhưng đổi lại là địch vẫn ngoan cố, không chịu đầu hàng. Cuối cùng ông ra lệnh phải  diệt hầm. Nhưng vấn đề chính là giải quyết làm sao, tìm cách gì  trong khi hầm thì kiên cố ?, ngụy trang rất khéo, trong khi 5 tay súng dưới hầm chờ đợi sẵn ?.
Với một đơn vị súng ống đầy đủ yểm trợ tối đa thì chỉ cần một quả bom, một quả đạn pháo thì có thể tiêu diệt ngay, tuy nhiên với một đơn vị chỉ trang bị súng ống nhẹ như thám kích, thì rất khó khăn.
Trưốc tình thế như vậy, thì có hai người lính thám kich tình nguyện. Ông viết như sau:
…At last, two of the 405th troops, a corporal and a PFC, volunteered for a bold mission. The corporal asked just one thing: to help his wife and two children bring his corpse back to his home near Can Tho should he be killed. The PFC, who was a single boy, asked for nothing. The two, a Catholic corporal and a Buddhist PFC, prayed for a minute. Then they stripped to their underpants. Then crawling on the ground, dry grass would make no sound on bare skin. Each man held two M-26 hand grenades in his hands, with safety pins removed, and gripped a carbine bayonet between his teeth. (2)
Tạm dịch:
Cuối cùng, hai người lính thuộc đơn vị 405, một cấp bậc hạ sĩ, một binh nhất, tình nguyện làm nhiệm vụ gan dạ liều linh. Người hạ sĩ chỉ yêu cầu một điều: giúp vợ và hai đứa con anh mang xác anh về Cần Thơ nếu chẳng may anh bị giết. Người lính binh nhất chỉ là một cậu trẻ độc thân, thì không đòi hỏi điều gì. Cả hai, viên hạ sĩ người công giáo, và người binh nhất gốc Phật tử, đều cầu kinh một phút. Rồi họ cởi hết quần áo ra chỉ còn lại quần lót. Đọan họ bò trên đất, trên cỏ khô, gắng không gây tiếng động. Mỗi người tay cầm hai trái lựu đạn M26 đều rút chốt an toàn , miệng thì ngậm lưỡi lê…
noi ta
__-
Năm 1966, đại đội 405 thám kích từ Kon tum  di chuyển về Bình Định. Tôi tình nguyện về đơn vị này ngay khi ra trường Thủ Đức. Lý do chỉ lo văn chương nên đậu gần chót nên không còn cách gì hơn là chọn một đơn vị mà ai cũng “rét”. Vậy mà, Trời Phật thương, tôi đã phục vụ ở đấy gần 4 năm, qua hai trào đại đội trưởng. Thời gian quá lâu để biết và quen, từng gương mặt của đồng đội mình.
Nhưng tôi không thể hình dung ra người hạ sĩ và người binh nhất mà tác giả Nguyễn Công Luận đã đề cập trong sách.. Hay là Thành ? Hay la Kho, hay là thượng sĩ Tám, hay là Năm… hay là Bình Lò heo ? Tôi không biết. Nhưng tôi không cần thắc mắc.  Bởi vì tất cả những ngừoi lính ấy, mỗi người đều mang  những huyền thoại, như huyền thọai mà tôi được đọc nửa khuya này, trên một tác phẩm mà tác giả không qũen biết đã viết về  những người lính của đại đội tôi. Xin trân trọng cám ơn tác giả.
_____
(1)  Thám kích không phải  là Mountain combat Intelligence như tác giả dịch mà là “Highland scouts”. Ví dụ đại đội 405 thám kích là ” the 405th highland scout company”.
Mặt khác,  tác giả gọi “the 405th Thám kích Thượng” thật sự không phải người Thượng hầu hết, mà có cả kinh, Nùng lẫn lộn. Khi tôi nhận trung đội, trung đội tôi chỉ có khoảng 6 người Thượng, 3 người Nùng, và khoang 10 người Kinh.
___
(2): Nguyen Công Luan :
Nationalist in the Viet Nam Wars: Memoirs of a Victim Turned Soldier [Kindle Edition], Sách điện tử Amazon.com trang 264
 
TẢN MẠN

Người viết và người đọc của văn học thời chiến (bài một)

Posted on

Bàn về độc giả của văn học thời chiến đến từ đâu, tôi xin trích lại ý kiến của ba nhà văn quen thuộc.

Theo nhà văn Võ Phiến:

“Người độc giả chính yếu của văn học nghệ thuật Miền Nam trong thời kỳ 1954-75 là người dân thành phố, bất kỳ là thành phố Trung phần, hay Nam phần.” (1)

Theo Nguyễn văn Trung:

” …Sinh hoạt văn nghệ hiện nay ở miền Nam chỉ là một sinh hoạt ở các đô thị, và là sinh hoạt bên lề những sinh hoạt xã hội khác như một thứ phụ thuộc, có cũng được không có cũng chẳng sao, hoặc hơn nữa như một thứ xa xỉ phẩm không có tính chất cần thiết như các sinh hoạt khác. Nhìn vào thành phần độc giả, sẽ thấy rõ sinh hoạt văn nghệ chưa phải là một đòi hỏi xã hội có tính cách phổ biến. Quần chúng đông đảo ở nông thôn không biết tới nó. Một phần lớn những tầng lớp đông đảo ở đô thị (giới làm ăn bình dân lao động) và tầng lớp trưởng giả cũng không biết tới nó. Quần chúng bình dân thì nghèo, vô học hoặc ít học, không có giờ và cũng không có điều kiện đọc, và giả sử có đọc cũng chẳng lãnh hội được những thơ văn cao kỳ được viết bằng một ngôn ngữ thật xa lạ với họ…” (2)

Theo Nguyễn Mộng Giác, chính số lượng độc giả trung lưu ở thành thị mới quyết định sự sống còn của văn học miền Nam:

“Giới trung lưu luôn luôn góp phần nhiều nhất vào công trình sáng tạo nghệ thuật, cũng như tiêu thụ nghệ phẩm. “Bạn đọc” hiện nay, giống như “các thân hữu” là những trí thức trung lưu thành thị. Họ đã bị kiệt quệ về tài chánh từ nhiều năm nay, mỗi ngày mỗi trầm trọng hơn, cho nên không còn khả năng để mua sách báo nữa. Cái nhóm độc giả, vì phân hóa mà ít ỏi, của mỗi nhà văn nhà thơ, bây giờ càng ít ỏi hơn do tình trạng vật giá khắc nghiệt.(3)

Quả thật vậy không ? Quả thật thành thị là nơi có tính cách quyết định cho sự sống còn của nền văn học miền Nam ?
Tôi không nghĩ vậy..
Lớp độc giả chính yếu trong việc tiêu thụ sách báo miền Nam và là đội ngũ nồng cốt góp vao sự lớn mạnh của nền văn học thời chiến  chính là thành phần lớp trẻ mang bộ đồng phục chúng tôi.
Vì sao? Thứ nhất là đa số lớp trẻ này thuộc thành phần có học, bị động viên. Thứ hai là họ ở xa nhà, xa thành phố, xa những cuộc vui đô thị. Họ cần sách báo để đọc khi phải lưu thân ở những vùng xa xăm, những tiền đồn heo hút.

Viết thư thăm ông sau cuộc hành quân biên phòng, kéo dài suốt 20 ngày trong rừng đầy muỗi, lạnh và vắt rừng.Ở đây thiếu thốn về nhiều phương diện. Ngay như báo chí. Đôi khi tờ báo hàng ngày xuất bản ngày 10 thì đến 20 chúng tôi mới được đọc. Còn nói gì đến những tập san văn học nghệ thuật? “(t.l, thư từ Dakto ngày 12-12-1970, Vấn đề số 45 tháng 4- 71)
Ba-lô họ luôn luôn mang theo thơ văn cộng với lương khô và đạn dược. Họ không có niềm vui trong những giờ phút thôi việc quân, rảnh rỗi, trừ đọc sách báo… Họ nhờ thân nhân mua trử dùm, hay mỗi khi có dịp về những nơi có quán sách báo, là mua và mua. (Tôi là một trong số người này. Tôi cũng biết rất nhiều bạn tôi cũng vậy). 

Người lính miền Nam đi chiến trận
Ba lô mang theo hồn thơ văn
( Nguyễn Phúc Sông Hương – Người lính làm thơ trên đỉnh núi)

Đó là lý do để cắt nghĩa tại sao những tạp chí văn học nghệ thuật như Văn hay tuần báo Khởi Hành (tuần báo của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân đội) lại sống vững, sống mạnh, và càng lúc số lượng độc giả càng lúc càng nhiều… Ví dụ điển hình là tuần báo Khởi Hành, số lượng phát hành đầu tiên là 5000, rồi đến 7000, có khi 10000 (10 ngàn)  như nhà thơ Viên Linh – thơ ký tòa soạn-  đã trả lời trong cuộc phỏng vấn về  tình hình báo chí trước 1975

khoihanh-bia4

Khởi Hành số 1 tháng 6-1969 (hình từ internet)

Về số lượng báo phát hành,  thành phần của người viết và người đọc, ông cho biết như sau:

Trong thập niên ’70, tuần báo văn học duy nhất của miền Nam là tuần báo Khởi Hành của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội. (Những tờ văn chương khác thảy đều xuất bản hàng tháng, trừ Bách Khoa là bán nguyệt san, tuy nhiên phần văn chương không nhiều). Tạp chí Nghệ Thuật cũng xuất bản hàng tuần, ra được 56 số, song đã đình bản vài tháng trước khi có Khởi Hành. Là cơ quan ngôn luận chính thức của Hội Văn Nghệ Sĩ Quân Ðội, với trên 700 hội viên trong mọi binh chủng, in trên 5000 ấn bản, phát hành rộng rãi trên khắp bốn vùng chiến thuật trong nhiều năm, nên người viết cho Khởi Hành đa số là quân nhân, người đọc cũng đa số là quân nhân. (4)

… Chúng tôi đã biến Khởi Hành thành tuần báo văn học nghệ thuật cho tất cả mọi người, quân nhân hay không. Và nó đã trở thành báo bán, như một tờ báo dân sự, của tư nhân, bán cho độc giả từ Đông Hà tới Cà Mâu, in từ năm tới bảy ngàn số, có lúc lên đến mười ngàn (có ghi rõ số lượng phát hành trên Khởi Hành số 13) mỗi kỳ. Khởi Hành sống tới số 156.” (5).
Một tạp chí văn học nghệ thuật mà số lượng bán chỉ 1000 số là mừng quá rồi, huống hồ đây là một tuần báo văn học nghệ thuật phát hành trung bình từ 5000 đến 7000, có khi 10.000 ấn bản   thì quả là khủng khiếp !
Vì sao? nhà văn Viên Linh giải thích:
Vì người đọc mà đa số là quân nhân,  đã “tìm thấy trên Khởi Hành những yếu tố sinh động nhất, điển hình nhất: các nhà văn nhà thơ viết trong tiếng súng, viết trên ba-lô, viết nằm trên ghế bố “(5).

Có phải vậy không?

____

(1) Võ Phiến: VĂN HỌC  MIỀN NAM: TỔNG QUAN. chương CÁC YẾU TỐ CỦA SINH HOẠT VĂN HỌC

(2) Nguyễn văn Trung NHÀ VĂN NHÌN VÀO MÌNH HAY TỪ HIỆN TƯỢNG BÈ PHÁI ĐẾN VĂN CHƯƠNG VÔ DANH. Nghiên Cưu Văn Học số 3 tháng 1-1968 (nguồn tạp chí TQBT số 56)

(3) Nguyễn Mộng Giác: Nghĩ về thơ, truyện 1974 – Bách Khoa số 402 (nguồn: Thư Quan Bản Thảo số 56).

(4) Viên Linh – Miền Nam, nhà văn chết trẻ – Người Việt online

(5) Phan Nhiên Hạo –  Phỏng vấn nhà văn Viên Linh:  Làm báo văn nghệ ở miền Nam trước tháng Tư 1975 (nguồn Internet)

TẢN MẠN

Sáng Tạo giận dữ/ “Bảo thủ” phản công/ CS hiệp đồng: âm mưu đế quốc !

Posted on

Suốt đêm qua, tôi đã bị những câu hỏi, tại sao Mai Thảo lại giận dữ kết tội “nhóm bảo thủ phản tiến hóa”? Bảo thủ gồm những ai? Tại sao ST lại chết? Nghệ thuật mới, sinh khí mới là gì? Thế hệ chiến tranh của chúng tôi có bị thấm nhập hay bị cái bóng lớn của ST  đè hay không? Tại sao những tác giả mà thiên hạ phong là nhà phê bình số một, vẫn xem văn học miền Nam là văn học thành thị, trong khi nền văn học ấy ngùn ngụt khói lửa, được bồi đấp bởi hàng hàng lớp lớp những người viết ngoài vòng đai SG?

Đây là những câu hỏi rất thú vị. Tôi yêu sự thật nên tôi phải tự hỏi. IBM đã dạy tôi như thế.  Và vì phải hỏi, tôi phải đi tìm. Tôi lái xe cùng với Y. lên tận Cornell, hay Yale. Xem như những chuyến đi chơi mà có ích của đôi vợ chồng già. Giờ đây, suốt cả năm trời, tôi bị bế quan tỏa cản, không thể rời Y. dù một hai tiếng. Có lẽ tại đi quá nhiều nên Trời không còn muốn cho vợ chồng chúng tôi đi nữa chăng. Nhưng mà vẫn nhớ, tha thiết:

Đường chưa đến mà nghe lòng nôn nao
Mùa hạ chở theo mây trời trên gương chiếu hậu
Hỡi những hàng cây sồi im lặng
Có hàng  cây nào thấy hạnh phúc  của tôi  ?

Bạn hữu theo cùng có mây  trắng trôi… trôi
Xa lộ bốn lane, toll tiền chặn lối
Tháng bảy xuyên bang, nơi nào gọi réo
Để đời ta còn mãi mãi giang hồ ?

Bánh lăn, nắng cũng nhạt  bên đồi
Vào thành phố khi đèn đường vừa bật sáng
Thêm một vùng đất ta về thăm hão hán
Thêm tiếng cười dòn
thêm những tình thân…

Có khi tôi nhờ cậy vào cõi không cùng, nhưng để đáp lại là một sự dội ầm ầm của trống không, như thể tiếng nổ giữa bốn bề vách dựng. Không thể phân biệt tiếng nổ ở hướng nào vì nó phát lên nhanh quá. Hay giữa cõi biển chết, một tiếng sấm vang rền, con thuyền bật tung lên, tôi cứ nghĩ là sấm làm thuyền rúng động…

Bởi vậy, tôi phải tìm sự thật. Như đăng lại tấm hình của hai chàng Seal trong một công tác giữa lòng địch. Tấm hình mới có thể nói lên, dù phần nào, những điều mà tôi đã sống và viết trong một binh chủng là thám kích mà tôi đã có mặt gần 4 năm. Chúng tôi đã chiến đấu trong cô đơn và cũng chết trong cô đơn như thế… Vậy mà hết Bảo Ninh, đến Dương Thu Hương, rồi Hồ Anh Thái cứ mang thám báo miền Nam ra để gán những tôi ác kinh khủng như hãm hiếp, mổ mật, moi gan, moi tim, lóc âm hộ, moc trứng dái (tinh hoàn) để nướng mà nhậu giữa lòng mật khu !

Suốt đêm qua, tôi đọc lại một số bài điểm sách của Mai Thảo, Thanh Tâm Tuyền trên một số báo Sáng Tạo mà tôi lưu giữ, để có thể hình dung ra sự cao ngạo của họ khi họ hô hào một nền văn học mới, nghệ thuật mới… Những nạn nhân là Bàng Bá Lân, Nguyễn Họat, Nguyễn Vỹ, Triều Đầu. Ngay cả Mặc Đổ cũng bị Thanh Tâm Tuyền đưa lên bàn để mổ xẻ, mặc dù Mặc Đổ là một cây viết cọng tác đắc lực cho Sáng Tạo. Điều này chứng tỏ ST là một chỗ để “dạy khôn”, ” dạy viết văn làm thơ”, dạy thế nào là nghệ thuật mới… Xin được trích một vài giòng tiêu biểu trong một số bài điểm  sách trên ST để các bạn có thể hình dung.

Với Bàng Bá Lân:

Tiếng Võng Đưa vẫn y nguyên dáng điệu những tập thơ trước. … Tôi muốn tìm một cái gì mới lạ để nói nhưng không thấy. Trái lại, những bài Vịnh Trái Cây dưới đầu đề Thơ Miền Nam đã làm tôi thất vọng. Bàng Bá Lân đã trở nên quá dễ dàng với nghệ thuật, với chính ông. Tên tuổi của ông không cho phép ông đứng lại như vậy.

(ST số 14 tháng 11-57)

Với Nguyễn Vỹ:

Nếu có một ông thầy tuồng cắt sén thành hồi, thành lớp, để dựng thành kịch, thêm sáu câu vọng cổ, mấy bài hát cải cách và mũ áo La Mã, thì Chiếc Áo Cưới Màu hồng sẽ là một đề tài lý tưởng cho một sân khấi cải lương nào đó.

(Nguyễn Đăng, ST số 13 tháng 10-57: Điểm sách Chiếc Áo Cưới Màu Hông của Nguyễn Vỹ)

Với Nguyễn Kiên Trung:

Đọc xong Đem ‘Tâm Tình Tiết Lịch Sử tôi thấy cũng một lúc Ông Nguyễn Kiên Trung muốn làm trọn că ba công việc: viết văn, viết sử và lập thuyết. Nhưng theo tôi ông chưa đạt được sở nguyện. Ở trên tôi gọi cuốn sách của ông bằng danh từ “tác phầm” viết chữ ngả. Kể ra cũng hơi bất công với ông Nguyễn Kiên Trung. Dẫu sao một cuốn sách đây trên 200 trang như cuốn Đem Tâm Tình Viết Lịch Sử đã là một công trình đáng gọi là tác phầm rồi. Huống hồ nó lại còn chứa đựng nhiều đoạn văn mà người đọc phải công nhận rằng tác giả đã gửi vào đó cả tâm hồn mình. Nhưng về phương diện kỹ thuật Đen Tâm Tình Viết Lịch Sử đã được sáng tác qua một hình thức rất hỗn hợp. Sự bố cục lại hết sức lỏng lẻo : bốn bức thư trồng lên nhau một cách dễ dãi. Người đọc không cảm thấy được tiếp xúc vớií một toàn thể nhất trí. Cho nên tôi vẫn nghĩ rằng Đem Tâm Tình Viết Lịch Sửcủa Ông Nguyễn Kiên Trung chưa thể là một “ tác phầm” theo ý  nghĩa hết sức chuyên môn của danh từ.

(Mặc San, ST số 22 tháng 7-58)

Với Triều Đẩu:

Điểm không làm tôi thỏa mãn là lối xây dựng nhân vật trong phóng sự của Triều Đầu

(MT: ST 22 tháng 7-58, Những thiên đường lỡ phóng sự của Triều Đẩu)

Với Mặc Đổ:

Tôi rất bất mãn với tôi khi cầm bút phê bình Mặc Đổ . Vì đối với tôi ông là một nhà văn đứng đắn lương tâm hiếm có trong văn chương chúng ta. Nhưng tôi không thể làm khác được vì tôi không muốn cũng làm dáng như nhân vật của ông.

(TTT, phê bình Siu Cô Nương của Mặc Đổ, ST số 30 tháng 5-59)

Đó có lẽ là lý do có  người không thích Sáng Tạo, và cũng là lý do để Mai Thảo buộc tội họ là “bảo thủ phản tiến hóa” với những lời trả đủa hết sức  nặng lời như thế này:

Nhng khuynh hướng mi. tng hp thành trào lưu tư tưởng ngh thut mi, trào lưu đó đang hình thành rc r, đã bt đu gây nhng tác đng mãnh lit xâu rng trong tâm hn người sáng tác trong đi sng xã hi, kh năng xây dng và hy phá ca nó đang to thành mt đi mi, mt đo ln chưa tng thy trong lch s ngh thut Vit Nam, nhng khuynh hướng đó có thc là nhng trng thái tiêu biu cho mt th ngh thut vô luân, xa đa, phn luân lý đo đc, vong bn, ngoi lai, phn lon, như bn bão th phn tiến hóa đây đang điên cung gào thét, đòi t cáo trước chính quyn, đòi trng pht…;

(Nguồn: Sáng Tạo số 6 (bộ mới) tháng 12 -1960 & tháng 1-1961 – Tư liệu của TQBT) 

Có nghĩa là, ở miền Nam, phe mà Mai Thảo gọi là “bọn bảo thủ” đã xem Sáng Tạo là kẻ thù không đội trời chung, và CS miền Bắc, thì hùa vào, thay vì tấn công Sáng Tạo lại tổng tấn công vào các đô thị miền Nam, xem các đô thị miền Nam chỉ chứa đựng toàn  lọai văn hóa đồi trụy”, “văn hóa thực dân kiểu mới”, “nọc độc văn hóa” mà thủ phạm chính là bàn tay lông lá của đê quốc Mỹ, Từ đó, chúng ta vẫn hằng nghe những cụm từ như “văn học thành thị miền Nam”, “văn học đô thị miền Nam”, để dẫn đến cuộc tổng truy diệt sách vở miền Nam một cách tận lực tận tình khắp nơi khắp chốn.

Họ không hiểu chính tạp chí Văn số 18 tháng 10-1964, với chủ đề Thơ Văn Có lửa là một tấm bia mộ cho Sáng Tạo lùi vào dĩ vảng huy hoàng. Nó cũng là một  cột trụ cây số làm mốc cho một dòng văn học mới. Dòng văn học của thế hệ chiến tranh: Dòng văn học ngoài vòng đai suốt 11 năm tứ 1964 đến 1975: Dòng văn học nhân bản !

Van 38