Nhà thơ Tô Thùy Yên, Sáng Tạo và Hậu Sáng tạo

Ba trụ cột chính cổ xúy cho nghệ thuật mới, khuynh hướng mới trong thi ca đã có bài rất nhiều trên Sáng Tạo là Thanh Tâm Tuyền, Tô Thùy Yên và Nguyên Sa. Tuy nhiên chúng tôi chỉ đọc được  tên hai người trong ban chủ trương là Thanh Tâm Tuyền và Tô Thùy Yên. Nguyên Sa thì không. Sau này, ông cho biết ông chỉ là người cọng tác và ông nhận cái lỗi của ông là viết cho ST.

Bài thơ của TTY đã từng gây nhiều tiếng vang thời ấy là:

train horse

(tranh từ Internet)

Cánh đồng con ngựa chuyến tầu

Trên cánh đồng hoang thuần một màu,
Trên cánh đồng hoang dài đến đỗi
Tàu chạy mau mà qua rất lâu.
Tàu chạy mau, tàu chạy rất mau.
Ngựa rượt tàu, rượt tàu, rượt tàu.
Cỏ cây, cỏ cây lùi chóng mặt.
Gò nổng cao rồi thung lũng sâu.
Ngựa thở hào hển, thở hào hển.
Tàu chạy mau, vẫn mau, vẫn mau.
Mặt trời mọc xong, mặt trời lặn.
Ngựa gục đầu, gục đầu, gục đầu.
Cánh đồng, a! cánh đồng sắp hết.
Tàu chạy mau, càng mau, càng mau.
Ngựa ngã lăn mình mướt như cỏ,
Chấm giữa nền nhung một vết nâu.

4-1956

Hình ảnh một con ngựa chạy theo con tàu, có gì để mà viết thành một bài thơ ? Vậy mà ở đây bài thơ đã mang vào tâm trí ta một cuộc ruợt đuổi thật sôi nổi . Đọan cuối là nỗi bất lực của ngựa, với một cái vết nâu nhỏ nhoi giữa một buổi hòang hôn tàn tạ như dấu vết của một cuộc đuổi bắt vô vọng. Thơ không cần vần, cần tránh những chữ lập lại. Cái chữ “mau” tiếp tục lập đi lập lại nhiều lần như lời dục dã hối hả….Kỹ thuật cấu trúc thì phóng túng. Toàn bài thơ tóat ra một ý nghĩa về triết học. Có thể là sự đuổi bắt không ngưng nghĩ về một điều không thể đạt. Hay cũng có thể lnó hàm chứa ý nghĩa của nền khoa học kỹ thuật đè nặng lên loài người…

Ở vào  thời điểm 1956, có một bài thơ với một kỷ thuật  mới mẽ và tân kỳ như vậy là cả một hiện tượng hiếm hoi. .

Nhưng thú thật, tôi vẫn không thể cảm nổi bài thơ. Tôi đọc nó chẳng chút nào rung động.  Dù tuổi tôi là tuổi ngựa. Bởi những chữ quá cứng, quá lạnh, bởi chúng không bắt tôi phải đọc thơ bằng trái tim mà bằng sự thưởng ngọan như các cụ đồ vỗ đùi vỗ tay khen một câu đối tuyệt chiêu trong thơ Đường..

 

Mãi đến sau này, với những bài thơ như Qua Sông, Trường Sa hành, Anh hùng tận, Chiều trên Phá Tam Giang  và gần nhất là sau 1975 với bài Ta Về, tôi mới được dịp đọc thơ ông với tất cả nỗi cảm xúc dâng tràn.

Thử so sánh :

Thời Sáng Tạo:

Cô đơn bằng Thượng đế,
Yếu đuối như linh hồn,
Làm sao tôi trèo lên
Vực thẳm tờ bản thảo
Trắng im lìm giá băng.

(Thân phận thi sĩ, 1958)

Thời chiến tranh:

Tiếp tế khó – đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên.
Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên.
Người chết mấy ngày chưa lấy xác,
Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh.

(Qua sông)

Rõ ràng, thơ ông bây giờ không còn cao siêu với những từ ngữ như thượng đế, linh hồn, những tuyên ngôn, những câu hỏi đầy triết lý nữa. Trái lại thơ ông bây giờ ở dưới tận cùng của nỗi đau, như thây sình, mặt nát, sâu dòi lúc nhúc… Thơ ông mới ở chỗ đó. Không phải mới ở cái thể thơ phóng túng là thể thơ tự do, (mà thật ra, theo tôi, ý tưởng chẳng mới chút nào) mà mới ở chổ cách trồng cấy chử nghĩa tài hoa của ông, ở việc ông lật bề trái về sự thật của chiến tranh, mà ít  có một thi sĩ nào nói được. Như qua bài viết về thơ chiến tranh của Cao Vị Khanh:

…Mấy ông họ Đào, họ Đỗ, họ Lý, họ Sầm…nổi tiếng văn hay chữ tốt, rượu vào lời ra, say nằm bãi cát nghêu ngao cũng chỉ thấy nói tới cái hơi hướm của chiến tranh, cái trống hoác của tàn trận, cái ngao ngán của hậu chiến, lúc kiếm gãy cờ tan u hồn lởn vởn. Cây kích gãy cắm lún trên bờ sông Xích Bích chỉ cho ta cái cảm giác ngậm ngùi. Hình ảnh của đống xương vô định là ước lệ vô tình của chữ nghĩa. Rồi đến Chinh Phụ Ngâm, tuyệt tác chiến tranh của văn học cổ điển cũng chỉ là chiến tranh phơn phớt ngoài da. Hơi gió cuốn người rầu mặt dạn. Dòng nước sâu ngựa nãn chân bon. Ôm yên gối trống đã chồn. Nằm vùng cát trắng, ngủ cồn rêu xanh. Cái kiểu chiến tranh “trăng treo đầu súng ” có khi làm người ta mơ mộng đến chết người. Đến ngay Trần quang Dũng, người kháng chiến tài hoa của đất Sơn Tây cũng chỉ là  Tây tiến đoàn quân không mọc tóc  hay  Áo bào thay chiếu anh về đất, Sông Mã gầm lên phút độc hành  có làm ta thương cảm nhưng dường như cũng có làm ta “vừa lòng” như chợt thấy được mấy nét xổ móc ngang tàng trên dòng cổ tự. Người chết vẫn là chết dấp chết dúi không có cả tấm chiếu quấn thây nhưng bù vào đó cái biểu tượng của chiếc áo bào trong phút chót độc hành đẹp lãng mạn đến làm ta quên đi cái đau đớn, khiến ta ngưỡng mộ tính trượng phu mã thượng mà quên đi cái thiệt thòi của đời thực. Ta kính phục mà không gần gũi. Dường như cái chết đó ở vào một thời nào xưa lắm, của một người nào cao cả lắm, cao đến chẳng ăn nhập gì đến ta, xa đã như là huyền sử vậy.  Đến như ông Tô Thùy Yên, người đã đẩy ngôn ngữ thi ca đến ranh giới của tột cùng cũng chỉ nói đến cái ghê rợn của mặt trận đã im tiếng súng. Tiếp tế khó đôi lần phải lục.Trên người bạn gục đạn mười viên. Di tản khó sâu dòi lúc nhúc. Trong vết thương người bạn nín rên. Người chết mấy ngày chưa lấy xác. Thây sình mặt nát lạch mương tanh… Nghe tới rùng mình sởn gáy. (1)

***

Tôi đang tự hỏi:   Giai đọan nào, đã giúp đưa TTY lên một vị trí xứng đáng với tên tuổi của ông và tại sao Qua Sông, Chiều Trên Phá Tam Giang, Trường Sa Hành, Ta Về lại được nhiều người yêu thích và nhắc nhở nhiều hơn những bài như  Tuyên Ngôn, thân phận thi sĩ  trong thời ST? Tôi xin mượn ý kiến của chính nhà thơ Tô Thùy Yên để trả lời:

“Một tác phẩm vượt nổi thời gian là một tác phẩm đã để lại được cho người đi sau một ý thức về đời sống” (2)

Vâng,  theo tôi, chính những bài thơ sau này mới giúp tôi một ý thức về đời sống của cá nhân tôi, bạn bè tôi, đồng đội tôi, miền Nam của tôi. Không những riêng tôi mà còn có cả thế hệ con cháu tôi nữa.

Có phải vậy không ?

_____

(1) Nguồn: Tạp chí Thư Quán Bản Thảo, P.O Box 58South Bound Brook, NJ08880
 (2) Nguồn: Nxb Sáng Tạo, Tủ sách Ý Thức, 95B Gia Long, Sài Gòn. Bìa của Duy Thanh. Ấn vụ Lam Giang Ấn Quán Sài Gòn. Ngoài những bản thường còn in thêm 100 bản quý không bán, đánh số từ I đến XV và từ 1 đến 75 đều mang chữ ký tác giả. Bản quyền của nhà xuất bản Sáng Tạo, Sài Gòn, 1965. Bản điện tử do talawas thực hiện. Bản  chụp in do Thư Ấn Quán thực hiện năm 2010.

Một vấn đề văn học: Sáng Tạo và ảnh hưởng của nó…(bổ túc thêm)

Lời người viết: Chúng tôi xin được bổ túc thêm một đọan ở phần cuối cùng (cập nhật lúc 4:30 PM) Đọan thêm được tô màu.

Thời gian vừa qua tôi dành nhiều thì giờ để đọc Sáng Tạo. Các bạn cũng đã thấy là tôi đã post nhiều văn liệu liên quan đến ST, từ những lá thư của người chủ trương Mai Thảo, đến tuyên ngôn chung cùa nhóm gồm 8 người, rồi một bài viết có thể nói là hằn học nhất của MT mà tôi được đọc nhằm công kích nhóm người mà ông gọi là “bọn bảo thủ phản tiến hóa”. Tôi cũng đã đánh máy in lại bài viết của Nguyễn văn Trung, dù không nói thẳng, nhưng ám chỉ ST là nhóm phe phái, và Nguyên Sa về điều mà ông rất ân ận là đã nhầm lẩn khi cọng tác với ST.

MT

Nhưng một câu hỏi là thật sự ST có tạo nên điều mà họ từng cổ xúy hô hào và hãnh diện như Mai Thảo đã viết trong tạp chí Sáng Tạo số 6 Tết 61: “Nhng khuynh hướng mi. tng hp thành trào lưu tư tưởng ngh thut mi, trào lưu đó đang hình thành rc r, đã bt đu gây nhng tác đng mãnh lit xâu rng trong tâm hn người sáng tác trong đi sng xã hi, kh năng xây dng và hy phá ca nó đang to thành mt đi mi, mt đo ln chưa tng thy trong lch s ngh thut Vit Nam” ?
Tôi xin được phép trả lời, theo ý nghĩ riêng của mình:

Theo ý tôi, ST  chẳng có một chút gì ảnh hưởng cho nền văn học miền Nam sau khi ST đình bản.  Chẳng thấy một nhà thơ nào được nổi tiếng qua bài thơ tự do, một thể thơ mà ST đã từng cổ xúy. Thơ Nguyễn Tất Nhiên, Vũ Hữu Định, Nguyễn Bắc Sơn hay Kim Tuấn, hay Hạc Thành Hoa, Mường Mán, Linh Phương,  Phạm văn Bình v.v…có bài thơ nào là thơ tự do để chúng ta có thể nhớ nằm lòng ?

hay là  :

người từ trăm năm
về khơi tình động
ta chạy vòng vòng
ta chạy mòn chân
nào hay đời cạn!

(thà như giọt mưa
vỡ trên tượng đá
thà như giọt mưa
khô trên tượng đá
có còn hơn không
mưa ôm tượng đá)

(NTN: Giọt tình buồn)

….

em hiền như “ma sœur”
vết thương ta bốn mùa
trái tim ta làm mủ
“ma sœur” này “ma sœur”!
có dịu dàng ánh mắt?
có êm đềm cánh môi?
ru ta — người bệnh hoạn

(NTN:Ma Soeur)

Lòng suối cạn phơi một bầy đá cuội
Rừng giáp rừng gió thổi cỏ lông măng
Đoàn quân anh đi những bóng cọp vằn
Gân mắt đỏ lạnh như tiền sắc mặt
Bốn chuyến di hành một ngày mệt ngất
Dừng chân nơi đây nói chuyện tiếu lâm chơi
Hãy tựa gốc cây hãy ngắm mây trời…

(Nguyễn Bắc Sơn: Chiến tranh VN và tôi)

hay

 

Mai trở về chiều hoang trốn nắng
Poncho buồn liệm kín hồn anh
Mai trở về bờ tóc em xanh
Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt
Mai anh về em sầu thê thiết
Kỷ vật đây viên đạn mầu đồng
Cho em làm kỷ niệm sang sông

(Linh Phương – Kỹ vật cho em)

hay :

….

phố núi cao phố núi đầy sương
phố núi cây xanh trời thấp thật buồn
anh khách lạ đi lên đi xuống
may mà có em đời còn dễ thương

phố núi cao phố núi trời gần
phố xá không xa nên phố tình thân
đi dăm phút đã về chốn cũ
một buổi chiều nào lòng bỗng bâng khuâng

em Pleiku má đỏ môi hồng
ở đây buổi chiều quanh năm mùa đông
nên mắt em ướt và tóc em ướt
da em mềm như mây chiều trong

(Vũ Hữu Định – Còn một chút gì để nhớ)

Tôi chỉ post vài đọan trong số những bài thơ quen thuộc với bạn đọc. Còn rất nhiều, rất nhiều những bài thơ hay trong thời chiến chúng tôi đã sưu tầm và in trong Bộ Thơ Miền Nam thời chiến. Nhưng chúng tôi chẳng tìm ra bài nào nặng âm hưởng của TTT hay NS hay TTY.

Ngay cả Nguyên Sa, một nhà thơ tiên phong về thể thơ này trong Sáng Tạo  cũng đã phải công nhận là ông đã nhầm lẩn trong  Những Nhầm Lẩn của Dỉ Vảng mà tôi đã nhiều lần trích trong các bài post trước đây.

Có thể nó tạp chí Văn số 18 phát hành vào tháng 10-1964 là cánh cửa đóng lại cho một nền văn học mà đến giờ phút này người ta vẫn xem là có công rất lớn trong việc cổ xúy nghệ thuật mới, văn học mới. Nếu thật sự nhớ là nhớ những bài thơ của Tô Thùy Yên – một người trụ cột của ST – qua những bài thơ ông viết  sau này trong cuộc chiến tranh máu lửa  như Trường Sa Hành , Qua Sông, hay Anh hùng tận mà thôi. Theo tôi, chỉ những bài sau khi ST đóng cửa mới là những bài để đời.

Ví dụ:
Giặc đánh lớn – mùa mưa đã tới.
Mùa mưa như một trận mưa liền.
Châu thổ mang mang trời nước sát.
Hồn chừng hiu hắt nỗi không tên.
Tiếp tế khó – đôi lần phải lục
Trên người bạn gục đạn mươi viên.
Di tản khó – sâu dòi lúc nhúc
Trong vết thương người bạn nín rên.
Người chết mấy ngày chưa lấy xác,
Thây sình, mặt nát, lạch mương tanh.

(1)

Cuối cùng, có nên đặt thêm một câu hỏi:

Nếu quả thật là Sáng Tạo có ảnh hưởng thì giờ đây miền Nam đâu dễ  bị mắc lừa như lịch sử đã chứng tỏ và  những tâm huyết mà ST đã bỏ ra, để cổ xúy hô hào, để nói sự thật về  những kinh nghiệm mà họ  đã trải sống với CS  cuối cùng chỉ là tiếng kêu lẻ loi, chẳng ai  cần để ý. Hay ít ai để ý. Có khi lại ngờ vực:

Như Mai Thảo đã phải công nhận:

Những người viết trẻ của chúng ta không sai lầm chút nào đâu, khi hướng sáng tác vào những chủ đề căn bản của xã hội và đất nước chúng ta hiện nay, như chiến tranh đang lan tràn với tất cả những đau đớn, những  mất mát của nó, như sự phẩn nộ của tuổi trẻ trước một xã hội ngưng đọng, như sự hoang mang ngờ vực của cả một lớp người trước lịch sử đầy biến động… (2)

 

Nếu có chăng là ST đã gây thêm sự chia rẽ, tạo nên sự bất hòa giữa những người có cùng chung giòng máu văn học nghệ thuật ở miền Nam. 

Thử đọc những bài điểm sách của ST mới thấy được sự chỉ trích quá mức giới hạn của nó. Không nên làm kẻ cả trong việc phê bình và nhận định. Chẳng hạn xem vụ Nhân Văn Giai phẩm chỉ là ” hiện tượng không có gì đáng kể lắm: hiện tượng Nhân Văn giai phẩm ở ngoài Hà Nội ” trong bài điểm sách “Đem Tâm tình viết lịch sử ” của Nguyễn Kiên Trung. (3) hay những lời cợt đùa nhạo báng tác giả Nguyễn Vỹ:

“Nếu có một ông thầy tuồng cắt sén thành hồi, thành lớp, để dựng thành kịch, thêm sáu câu vọng cổ, mấy bài hát cải cách và mũ áo La Mã, thì Chiếc Áo Cưới Màu hồng sẽ là một đề tài lý tưởng cho một sân khấi cải lương nào đó.”

(Nguyễn Đăng, ST số 13 tháng 10-57: Điểm sách Chiếc Áo Cưới Màu Hông của Nguyễn Vỹ)

Để rồi sau đó ST bị chỉ trích thậm tệ, bị lên án bị đòi đưa ra trước chính quyền để trừng phạt như Mai Thảo viết:

nhng khuynh hướng đó có thc là nhng trng thái tiêu biu cho mt th ngh thut vô luân, xa đa, phn luân lý đo đc, vong bn, ngoi lai, phn lon, như bn bão th phn tiến hóa  đây đang điên cung gào thét, đòi t cáo trước chính quyn, đòi trng pht…;” (Sáng Tạo số 6 Bộ Mới)

Để rồi lại thêm một lần những chữ như phản luân lý đạo đức, vong bản, ngoại lai, phản lọan. vô luân. xa đọa lại biến thành những cụm từ như văn hóa nô dịch, văn hóa đồi trụy, văn học hiện sinh, âm mưu thâm độc của đế quốc Mỹ để đám phê binh nhận định ngoài Bắc dùng và đánh miền Nam trong lảnh vực văn hóa… Không cần biết là ST chết vào cuối năm 1961, cũng chẳng cần biết có một dòng văn chương khác đồ sộ hơn, lẩy lừng hơn thay thế đảo chánh ST kể từ năm 1963. Đó là giòng văn chương nhân bản mà chúng tôi đã có nhiều bài post trước đây.

___

(1) Tô Thùy Yên – Qua sông viết năm 1964

(2) Mai Thảo, Giòng sông rực rở, Tập truyện Văn Uyển xuất bản, tháng 1-1968

Thơ phúng điếu nhân ngày Haloween: Tôi ở xa, rất xa không về để được sắp hàng…

Tôi ở xa, rất xa không về để được sắp hàng
Nhân mùa lễ Haloween, cửa hàng bày tòan đồ hàng mả
Nay xin gởi nhờ mấy ông ác thần  gát cửa
Chiếc mặt nạ này từ lễ hội giả trang !
Mong ông vui lòng nhận từ tên lính “ngụy” miền Nam !

Người viết và độc giả của dòng văn học thời chiến (bài hai)

Một tấm hình bằng ngàn  chữ viết. Xin được mượn tấm hình  chụp một người lính Mỹ  nằm đọc sách trong buổi dừng quân để có thể giúp bạn hình dung phần nào nhu cầu đọc và viết của giới trẻ trí thức nhập cuộc chúng tôi. Nó không phải có từ  độc giả thành thị  như nhà văn Võ Phiến, Nguyễn văn Trung, Nguyễn Mộng Giác đã nhận định , hay nhắc đến văn học miền Nam là văn học thành thị, văn học đô thị  như  những nhà lý luận phê bình ở miền Bắc trước 1975 và ngay cả bây giờ vẫn thường rập khuôn.

Dù là lính Mỹ, nhưng điều  này có hề gì. Cái mẫu số chung là chiến tranh VN, là rừng cây, là ba lô, là súng đạn, là một cảnh trong giờ dừng quân, nghỉ ngơi, là nhu cầu đọc của người trẻ trí thức nhập cuôc.,

00000017

(hình internet)

Chỉ tiếc là lính miền nam nghèo quá, đâu có tiền để sắm máy hình như lính Mỹ.

Thôi thì đành mượn tạm hình người để nhớ đến mình !

Theo thống kê do chính chúng tôi thực hiện, qua việc thực hiện bộ thơ miền Nam thời chiến, có khoảng 400 nhà thơ do chúng tôi lựa chọn, có bài đăng ở trong các tạp chí thời danh trước 1975 như Văn, Bách Khoa, Khởi Hành, Ý Thức, Thời Tập, Vấn đề, Trình Bày… mà đại da số là thành phần quân nhân… Con số ấy chỉ khiêm nhường . Có thể lên hàng ngàn nếu chúng tôi có đủ tài liệu!

cropped-hardcover.jpg

Điều này không phải là phóng đại. Cứ mở bất cứ một số báo nào trước 1975, mới thấy được sự góp mặt của giới trẻ. Thử hỏi,  khi họ phải có mặt tại một xó xỉnh núi đồi hay một nơi heo hút nào đó, họ còn cách gì ngoài cách viết và đọc ?  Tôi không nói khoác.  Tôi nhớ  cách đây vài năm, một độc giả của Thư Quán Bản Thảo có yêu cầu tôi tìm dùm anh bài Biên Cương Hành của Phạm Ngọc Lư mà anh đã đọc được khi anh chờ trực thăng tải về trên ngọn đồi Thường Đức…

Vâng, nhà thơ Nguyễn Phúc Sông Hương đã nói hộ nỗi khát khao thèm viết và thèm đọc của người lính miền Nam:

Người lính miền Nam đi chiến trận
Ba lô mang theo hồn thơ văn

quả thật đúng,  đúng vô cùng !

Đó là lý do giải thích tại sao một tuần báo bán chuyên về văn học nghệ thuật là Khởi Hành lại có số lượng phát hành trung bình là 5000 ấn bản, có khi lên đến 10 ngàn  như nhà thơ Viên Linh đã kể và chúng tôi đã đề cập trong bài một:

người viết và người đọc của văn học thời chiến đến từ đâu (bài một)