sáng tác của THT

Một truyện trước 1975: Khi mùa hoa cà phê nở

Posted on

 
Năm nào, cứ vào đầu tháng tư là chàng lại tìm mọi cách để trở lên miền thị trấn đất đỏ. Chàng sẽ trở lại khu đồn điền xưa, giữa một rừng hoa cà phê trắng rợp. Chàng sẽ đứng thật lặng yên. Rồi mắt chàng sẽ nhắm lại. Để nghe lại mùi hương yêu dấu từ năm xưa. Để sống lại cùng nỗi hoài niệm ngà ngọc một thời…
Sáng nay, chàng bước xuống phi cảng mà lòng đâm hồi hộp không đâu. Xung quanh chàng thiên nhiên mở rộng, từ núi chìm lẩn trong mây, từ rừng xanh sẫm bạt ngàn, từ đất một màu đỏ sậm, từ những người Thượng, với ống vố, với lưng gùi lưng con. Mắt chàng muốn chết đuối trước những rừng cây dày dặc ở hai bên đường. Chàng có thể biết được khu rừng này là rừng Giáng Hương, rừng kia là cao su, trâm, hay sao… Chúng chạy ngược bằng một màu xanh tươi mát. Chúng đan vào nhau như những mái thiên nhiên tình tự. Tất cả như một cảnh tượng man dại có một trong đời.
Trên xe hàng, chàng để trí não thêu dệt hình ảnh tuyệt vời của người con gái thiểu số. Cách đây hai năm, chàng đã làm quen với với cô bé trong một dịp hết sức tình cờ. Và qua một câu pha trò hết sức vẩn vơ, chàng không ngờ sự liên hệ lại trở nên thân mật đến như vậy. Câu chuyện tình cũng vậy. Nó đến thật mau chóng và quá dễ dàng. Phải chăng Pery vẫn còn mang nặng sự hồn nhiên, ngây thơ và man dã của sắc tộc nàng. Phải chăng, nàng vẫn chưa biết được lòng dạ của một người Kinh? Nàng vẫn còn tin tưởng ở lời nói mê hoặc của một tên phù thủy biết đời rất sớm? Chắc chắn phải vậy. Bởi vì, chỉ một buổi trú mưa dưới mái hiên của một căn phố lầu trong thị trấn, chỉ một câu hỏi của nàng: “Ông ơi, mấy giờ rồi ? ” Mà mọi sự đã mở ra cho một duyên nợ. Để chàng hỏi lại: “Cô bé học trường nào?” ” Trường Ma Soeur” “Cô bé học lớp mấy?” “Lớp Đệ Tứ” “Cô bé học chương trình Pháp hay Việt? ” ” Việt” “Cha mẹ cô bé làm gì? ” “Chủ đồn điền” “Tên gì?” “H. Pery. Ủa sao ông lại hỏi tôi nhiều như vậy ? Bây giờ tôi phải hỏi ông…”

Chàng nhớ ra rồi. Căn phòng chàng lưu thân, luôn luôn đóng kín cửa. Không giường, không bàn, bốn vách tường viết đầy những câu thơ của Nguyễn Đức Sơn, Bùi Giáng, mà chàng đã gọi nó là ngôi nhà mồ của Dostoievky. Hôm nay cánh cửa lại được mở tung, để tràn vào ánh sáng tươi đẹp. Và sau đó là một gương mặt của một cô bé Thượng lai Pháp ló vào, pha chút lém lỉnh tinh nghịch của một con sóc nhỏ lẫn cái man dại từ đôi mắt của giòng máu thiểu số. Chàng dấu vẻ bối rối như thể một tên tội đồ bị phát hiện. Căn phòng quá bụi đời này chỉ có hợp cho đám đàn ông lông bông như chàng. Chiếc nồi cơm nguội vẫn còn mở nắp. Chiếc chén vẫn chưa rửa. Đôi đủa nằm lăn lóc. Sách vở tứ tung. Chiếc mền không xếp.
Chàng vẫn còn nhớ rõ: cô bé mang chiếc quần patte màu mở gà và chiếc áo pull màu xanh đậm. Hàm răng cô bé rất trắng, và mái tóc ngắn thật đen như mun. Khi cười, má cô bé lộ hai lúm đồng tiền và đôi mắt cô bé rực sáng. Cô bé chống nạnh, quan sát khắp căn phòng. Rồi đôi mắt ấy chăm chú nhìn những câu thơ viết trên vách. Cô bé đọc to:
“Trong vườn em khóc gục đầu vai tóc xõa nước mắt chảy ướt nhiều ướt cả áo nhau. Không có rượu rơi quần hồng em hoen ố. Yêu nhau khổ sở như trời sụp đổ, cuộc đời tuổi dại trôi giòng nước chảy cuốn đi. Mùa thu lạnh. Trăng đời em xanh đó… Trăng chảy đầm đìa nước mắt thơ ngây…”
Rồi cô bé cười khanh khách:
– Ông ơi, ông viết gì lạ vậy ? Bộ ông điên sao ?
Chàng nói:
– Không. Đấy là một bài thơ của Đại thi sĩ Bùi Giáng.
– Sao ông ta viết cái gì lại kỳ cục vậy ?
– Pery phải đợi mấy chục năm mới hiểu. Cô bé có học Nguyễn Du không?
Nàng nhún vai.
– Tôi có học, nhưng tôi không thích ổng. Tôi thích chuyện con nít.
– Như vậy cụ Nguyễn Du chắc phải buồn lắm.
– Vì sao hở ông?
– Cụ than không biết trăm năm sau có người hiểu tâm trạng cụ hay không. Bây giờ hơn trăm năm rồi vẫn có người chẳng những không hiểu mà lại không thích cụ nữa.
– Ông nói chuyện gì đâu đâu. Này khách đến nhà bắt người ta đứng à?
– Thì ngồi.
– Ghế đâu ?
– Nền nhà đó. Tha hồ ngồi đâu thì ngồi.
– Bộ ông không có giường có ghế sao ?
– Không. Ngủ đất mát.
– Ông kỳ thấy mồ. ít có ai như ông. Này ông làm gì ?
– Tôi không làm gì hết.
– Như vậy làm sao ông sống ?
– Thế mới tài.
Lòng chàng tự dưng nẩy nở một niềm vui thầm kín. Sự có mặt của một cô bé thiểu số như một cánh chim tuyệt vời. Ở đó, chàng có thể tìm ra một nỗi vô tư hồn nhiên của một con sóc, và tinh nghịch như một con mèo con. Còn cả cái vẽ kiêu kỳ học-đòi-làm-người-lớn của cô bé nữa. Chàng bắt đầu giới thiệu:
– Này, cái chiếu này làm giường ngủ. Cái soong này để nấu cơm, nấu nước, luộc rau. Rau luộc xong, lại dùng nước làm canh, nặn vào một tí chanh, thêm vào một tí muối. Chai xì dầu này dùng cho cả tháng. Đèn cầy này để đốt. Những cuốn sách này để đọc…
– Ông đọc gì nhiều vậy ? Ông không sợ nhức đầu hay sao ?
– Đâu có nhiều. Phải trăm lần hơn thế nữa, mới đủ.
Cô bé thiểu số so vai, lè lưỡi:
– Ông giỏi quá. Ông có truyện không ?
– Có. Nhiều lắm. Câu chuyện một giòng sông. Sói hoang trên đồng cỏ. Tội ác và hình phạt. Hồi ký viết dưới hầm…
– Có phải truyện cổ tích bằng tranh hay không ?
– Không. Những truyện về triết lý, suy nghĩ về thân phận làm người…
– Eo ơi, tôi không thích. Tôi chỉ thích truyện của Phi Long.
Chàng bật cười:
– Cái đó thì không bao giờ có cả.
– Yếu quá. Tôi có truyện Con Tàu Máu, Đảng Bàn Tay Máu, Đầu Lâu Máu… Hay không thể tưởng. Ông muốn thì tôi cho ông mượn ?
– Như vậy cô bé không sợ các soeur hay sao ?
– Tôi có cách dấu.
Chàng mỉm cười. Lòng chàng lại tràn ngập một cảm giác quá êm đềm. Ở cô bé, là cả một sự hồn nhiên chất phát đến thần thánh. Một sự chất phát không gợn một chút bùn nhơ như những người đàn bà Thượng với cặp vú trần khỏe mạnh xuất hiện trong thị trấn.
Nắng chiều lọt vào phòng một màu vàng thắm. Nắng chảy lai láng trên mái tóc mun đen của người con gái. Cô bé đi khắp phòng nhìn chăm chú mọi thứ. Cô bé trố mắt ngắm bức tranh của một họa sĩ thời danh. Cô bé lại nhún vai, rồi lại nhíu mày trước một câu thơ của Tagore. Cô bé đọc to Vô Ngôn, rồi hỏi:
– Vô ngôn là gì hở ông ?
– Là không nói, im lặng.
– Tại sao ông lại viết như vậy ?
– Bởi vì tôi là một thiền sư.
– Thiền sư là gì ?
– Là người chuyên ăn gạo lức muối mè, coi cuộc đời là biển khổ.
– Ông điên rồi.
Lại ông điên rồi. Chàng tự nhủ. Hết điên rồi đến gì đây? Chàng có ý nghĩ đang tham dự vào một trò chơi, trong đó chàng phải thay xác đổi dạng toàn diện. Chàng phải bỏ tất cả chữ nghĩa, suy tư, vô ngôn hành giả. Chàng khám phá rằng, từ lâu, chàng đã theo đuổi một con đường âm u từ chương sách vở. Hạnh phúc là gì? Mục đích của đời sống là gì? Nó đâu phải ở trăm ngàn trang sách, trăm ngàn đêm gối đầu suy nghĩ. Nó cũng phải ở một cõi bờ rất xa, rất khó đạt, nhưng nó chính là ở đây, rất gần gủi, tựa như tiếng cười dòn dã, cái cau mày, cái cắn môi, bậm miệng, như thể cố ngăn tiếng cười chợt bật dậy của cô bé. Nó là tấm lòng trong như pha lê. Nó làm con người nhận ra cái căn nguyên bản ngã của mình. Cái tính thiện và lòng từ ái đã bỏ quên của mình.
Thế rồi, chàng rủ cô bé ra sân cỏ. Hàng bông sứ trổ bông trắng rộ. Trên sân, hoa sứ rụng đầy. Xa hơn nữa là bờ rào dâm bụt, sẫm tối dưới bóng hoàng hôn. Chàng và cô bé ngồi trên bực thềm. Chàng xuất thần cùng nỗi niềm hạnh phúc òa vỡ, vừa dạo đàn vừa hát:
Tôi muốn loài người biết thương nhau. Không gây oán, không gây hận thù… Em có biết hoa kia mới nở. Trong giây phút xinh đẹp tuyệt vời…”
Cô bé lặng yên. Bàn tay ngắt một cọng cỏ may rồi ngậm trong răng. Và gió lại nổi. Hoa sứ lại rụng xuống dập dìu. Thềm cỏ may lại dịu dàng rợp xuống. Chàng như người nhấp phải một cốc rượu mạnh. Chàng say sưa hát. Chàng đã quên chàng, quên cả cô bé. Lời chàng ấm và ràn rụa xúc cảm. Vườn hoang tắm ánh ráng chiều, một màu vàng sẫm đọng trên cỏ, những hàng sứ, hàng ngâu. Không nghe cả một tiếng động của xe cộ, hay những tiếng nổ từ căn cứ quân sự gần đấy. Tiếng hát chàng quá ân cần, đến nỗi, mắt chàng phải cay, và nóng. Cô bé thiểu số thì ngồi lặng yên như một pho tượng. Cô bé đã bị tiếng hát của chàng mê hoặc rồi.

Bắt đầu từ đó, căn phòng âm u của chàng đã tràn ngập những tia nắng tươi đẹp. Nó đã được trang hoàng. H. Pery đã tỏ ra một nội trợ đại tài. Từ lọ hoa với những nhánh hoa mới. Từ chai nước lọc lúc nào cũng tràn đầy. Từ những chồng sách vở lúc nào cũng ngăn nắp. Cô bé đã bắt chàng từ bỏ cái nếp sống bừa bãi, phóng túng cũ. Rõ ràng cô bé đến như một bà hoàng hậu đầy quyền uy.
Thỉnh thoảng hai người lại rủ nhau về đồn điền xa. Chàng vẫn còn nhớ như hôm qua mùi hương nồng nàn của hoa cà phê sực nức cả một không gian núi đồi. Những cánh hoa cà phê trắng, nổi bật giữa ngọn đồi đất đỏ, nhìn từ trên cao, chẳng khác một biển hoa trắng bát ngát. Và muôn loài bướm loài ong từ đâu đổ xô về. Và những thân cây từ khu rừng cao su vươn lên, thẳng hàng, trên ấy những vòm lá đan những vòng tay tình tự. Và cả rừng Giáng Hương nữa. Giáng Hương hay là một người tiên lạc xuống rừng, để lại làn hương cho người thi sĩ. Chàng và H. Pery cầm tay nhau cùng chạy. Hai người cùng đuổi bắt quanh những thân cây cao su. Rồi cô bé chạy trốn chàng trong lùm cà phê. Chàng cố tìm cô bé nhưng đành chịu thua. Chàng la lên: “Chú chịu thua rồi, Pery ơi.” Có tiếng cười khúc khích đâu đó. Chàng lại đuổi theo tiếng cười. Chàng hăm hở rẽ cành rẽ lá. Như đứa bé đuổi theo tiếng gáy của chú dế mèn. Bông hoa cà phê che ngang tầm mắt. Rồi chàng ngơ ngác giữa một biển hoa. Rồi chàng phải giật bắn cả người vì tiếng cười rú lên. Thì ra cô bé là một cái chồn cái cáo…
Chàng ôm choàng cô bé. Gió như ngừng thổi. Nắng như ngừng lay động. Chỉ còn mùi thơm của hoa cà phê. Mùi thơm nồng nàn, từ trời đất thiên nhiên, và từ da thịt cô bé. Đôi mắt cô bé nhắm nghiền lại. Hơi nóng từ người cô bé chuyền qua chàng, khiến chàng có cảm giác hai người đang hòa nhập lấy nhau. Trong khi đó, muôn bướm vàng lượn vờn trên đầu hai đứa, tiếp tục yêu nhau như một định luật của tạo hóa. Chỉ khác chăng là con buớm đực sau đó lại trút hơi và rơi xuống đất.
Đến một lúc nào đó, Pery cố gỡ vòng tay cuồng bạo của chàng. Cô bé lại trở về cùng tư thế của một người tự vệ. Cô bé nói:
– Này, chú nhắm mắt lại đi.
Chàng nghe lời nàng. Mắt chàng nhắm lại. Có tiếng cảnh cáo của cô bé:
– Chưa đâu, nghe chú.
Chàng không biết cô bé làm gì. Nhưng chàng cảm thấy thật vui. Vui vì được trở lại một thời khờ khạo.
– Rồi chưa cô bé ?
– Rồi.
Chàng mở mắt. Mái tóc của cô bé bây giờ cài thêm những cánh hoa cà phê. Hoa làm gương mặt cô bé rực rỡ tuyệt vời. Chàng bàng hoàng run rẩy. Chàng lại ôm lấy cô bé, với tất cả sự dịu dàng và trong sạch của mình. Chàng thầm thì:
– Pery của chú đẹp quá. Pery của chú là một nụ hoa tuyệt vời mà chú bắt gặp trong cõi lầm than của chú.

Chàng đã sống cùng cơn mộng mị ấy sốt cả bốn tháng tại miền đất hung bạo. Đồn điền cà phê, cao su, rừng Lao Xao, cỗ xe ngựa lăn bánh từ thị trấn về đồn điền, và bao nhiêu ngày trong phòng trọ hoang phế. Nhưng tuyệt nhiên chàng không hề nghĩ đến một lần đòi hỏi. Chỉ có một đêm, một đêm cuối cùng…
Đó là lúc chàng bị buộc phải rời miền núi. Đó là lúc chàng cảm nhận ở phương trời kia là một hỏa ngục kinh hoàng. Sự hồi sinh từ bấy lâu nay giờ đã băng rã. Chàng có ý nghĩ là phải hưởng thụ tất cả những gì sắp sửa bỏ mất. Như H. Pery, nụ hoa xinh đẹp nhất mà đời đã dâng cho. Chàng không còn đặt tay lên tim để tự dỗ dành cùng cơn men của Quỉ. Chàng cũng chẳng nghĩ đến sự ngây thơ của một người con gái thiểu số. Vì vậy, cái đêm cuối cùng ấy, chàng đã tìm mọi cách để cám dỗ con nai vô tội. Mắt chàng nỗ lửa, hai tay chàng vũ phu. Miệng chàng ham hố. Cõi tối đen tràn ứ hơi thở và lời van lơn. Nhưng cuối cùng, chàng cũng đành chịu thua. Pery đã trở thành một vật bất khả xâm phạm. Nàng tránh đỡ những ngón tay ve vuốt, những nụ hôn nóng bỏng của chàng. Nàng chảy nước mắt nói:
– Chú tha cho cháu. Phong tục của cháu không cho phép việc làm của chú.
Nàng lại áp hai tay vào bờ ngực trần. Giọng nàng van xin:
– Chú đợi vài năm nữa, cháu sẽ cưới chú.
Lời năn nỉ tội nghiệp của người con gái kèm theo hai hàng nước mắt lai láng bỗng thấm lạnh vào con tim cuồng nhiệt, xua đuổi con Quỉ ra khỏi con người chàng. Vì thế chàng đã buông tha. Như một kẻ mê cuồng thức tỉnh chàng bỏ đi ra ngoài sân. Chàng nhìn lên cao. Một bầu trời miền núi lung linh muôn ngàn vì tinh tú. Đêm dậy hương sứ và hương lạ.
Cô bé đã theo sau chàng tự lúc nào. Nàng đi chân trần và xuýt xoa vì một cơn gió lạnh giá. Đến đằng gốc sứ, cô bé nói:
– Chú ơi, chú có giận cháu không ?
Chàng nhìn lên đôi mắt của người con gái. Chàng ngắt một cánh hoa sứ, cài lên mái tóc của nàng, rồi sau đó dịu dàng hôn lên vầng trán:
– Cháu nhớ đợi vài năm nữa nhá. Cháu cưới chú nhá. Cháu bắt cái chồng chú nhá.
H. Pery gật đầu. Dưới ánh trăng, mắt cô bé càng sáng, càng rực rỡ hơn, như đôi mắt mà chàng đã bắt gặp trong đồn điền cà phê lần quen nhau đầu tiên.
Bây giờ chàng trở lại. Bây giờ lại thêm một mùa hoa cà phê rợp trắng vùng đồi, nhưng người con gái pha hai giòng máu kia đã bỏ đi biền biệt. Và giữa các lối đi, bướm vàng thi nhau bay dập dìu trong nắng ấm như một khởi đầu cho một mùa hò hẹn. Bướm đang tìm bướm. Ong đang tìm nhụy hoa. Những cành lá cao su, giáng hương và trâm đang ôm lấy nhau nối kết. Chỉ còn mỗi một mình chàng thì đứng yên. Tìm gì… Chỉ có chăng là tiếng lao xao của rừng và thinh không thì ngạt ngào mùi thơm của loài hoa kỹ niệm. Chàng khẽ ngắt một chiếc hoa cà phê rồi áp vào môi. Chàng vẫn có thói quen như thế khi tháng tư bắt đầu trở lại.

(nguồn Ra Biển Gọi Thầm)

sáng tác của THT

Người không đội ngũ (truyện viết ở Mỹ)

Posted on

Chưa lúc nào như lúc này, ông lại phải chạm trán vào một mặt trận mà chỉ có mỗi một mình ông là một tên lính cô đơn. Cái mặt trận không có súng nổ, đạn bay, không người chết, kẻ bị thương, anh trở về với đôi nạng gỗ, lá cờ phủ trên quan tài. Mà trái lại, nó là những gì ông viết trên computer, những gì ông suy nghĩ, những cuộc thảo luận triền miên giữa ông và một vài người có thẩm quyền của công ty để tìm ra lời giải hầu biến thành khí giới giải quyết chiến trường giúp cho chủ thắng và thợ thua.

Mục đích của mặt trận là làm sao tự động hoá hệ thống đặt hàng tức là order automatization. Có nghĩa là từ đây, không còn cảnh trên khắp nước Mỹ, với những nhân viên thay phiên trực trước máy để chờ trên màn ảnh những tín hiệu từ nơi xa gởi về, đặt hàng, trả lại hàng, trao hàng, đưa hàng tới UPS, Federal Express, bao nhiêu pound, bằng lối ưu tiên, hay Overnight, hay đường bộ… Sẽ không còn một
nhóm chuyên viên ở tổng hành dinh mà người ta gọi
là production suppport team thay phiên làm việc 24/24 để giúp các nhân viên xa giải quyết những chuyện phiền phức như điện tắt làm máy phải bị tê liệt, và các dữ kiện data bị hư mà danh từ chuyên môn gọi là crashed hay những vấn đề linh tinh khác.

Rõ ràng trong mặt trận này kẻ thắng thì thắng lớn, bởi từ đây hàng chục người sẽ mất công ăn việc làm, và công ty sẽ tiết kiệm mỗi năm hàng triệu đô la.

Tự động hóa hệ thống. System automatization. Từ lâu, người ta đã nói nhiều về việc tự động hoá. Thợ chờ đợi. Nhân viên bàn giấy chờ đợi. Những người có chức vụ trong công ty chờ đợi. Ai cũng dư hiểu một ngày máy móc kỹ thuật sẽ thay thế con người. Ai cũng hiểu một ngày họ sẽ bị đào thải bởi những dàn điện toán, e Business, hay những chip nhỏ xíu như đồng penny mà sức chứa bằng cả một thư viện trung bình. Ai cũng chờ một ngày móng vuốt con quái vật sẽ vồ chụp họ, không cho họ một chỗ đứng. Nhưng một năm trôi qua, rồi một năm khác trôi qua. Họ vẫn tiếp tục làm kẻ sống sót. Họ vẫn tiếp tục mỗi ngày vào giàn máy làm những công việc thường lệ như canh chừng tiếng bíp của máy phát ra là họ dùng những dữ kiện đã có sẵn, đánh vào những ô trống cần thiết rồi cho máy chạy. Máy sẽ tính ngày hết hạn, số lượng tồn kho, hay trường hợp không có đủ cho nhu cầu đòi hòi, phải vay mượn từ các kho khác, phải cập nhất hoá để cuối năm làm kiểm kê cho chính xác. Nói tóm lại, ở đây, vẫn còn có sự có mặt của con người. Họ lý luận là tại chủ ngại tốn tiền khi phải thuê thêm những programmer, sau đó phải huấn luyện nhân viên, thợ thuyền, phải mua sắm trang bị máy móc.

Nhưng cuối cùng cái gì chờ đợi cũng đã đến. Bà Nancy gọi ông cho biết quyết định của cấp trên và dặn ông đừng hé môi sợ nhân viên xôn xao. Bà hỏi ông. Không, bà ra lệnh cũng nên:
“Ông nghĩ liệu mình có thể hoàn thành dự án trong vòng một tháng không? ”
“Một tháng? ” Ông la lên.
“Tôi biết. Tôi biết. Nhưng người ta muốn vậy. Phải làm gấp”
“Tôi nghĩ là bà nên trình lại cấp trên. Thứ nhất là nhân lực. Chỉ có một mình tôi còn lại trong nhóm. Vả lại, tôi không thể làm full time cho dự án. Tôi còn có biết bao nhiêu việc khác phải làm”
“Tôi biết. Tôi biết.”
Bà luôn luôn nói Tôi biết, tôi biết I know I know để chứng tỏ rằng bà đã hiểu những khó khăn mà nhân viên của bà sẽ gặp. “Ông về phòng nghiên cứu rồi trả lời cho họ vào buổi họp ngày thứ Năm này”. Bà nói tiếp, như một cái lệnh, không cách gì thay đổi.

Ngày thứ năm, hai giờ trưa. Tám người khắp các tiểu bang cùng họp và thảo luận dự án qua điện thoại. Ông Bill nói về dự án và yêu cầu mọi người nhúng tay để dự án được hoàn thành đúng theo lịch trình.
Dù ông yêu cầu mọi người nhúng tay nhưng chỉ có hai ba người mới là vai chính. Trong đó có ông, Jeff và một người nữ á châu.

oOo

Một tháng phải hoàn thành. Cả ba người cố gắng giải thích là họ không thể kham nổi trong một khoảng thời gian eo hẹp như vậy. Nhưng nói để mà nói, trình bày để mà trình bày, họ vẫn bị buộc vào trong lịch trình đã ấn định. Bởi tất cả đã sẵn sàng. Tháng tới vài nơi sẽ đóng, những máy địa phương sẽ được nối về một máy chánh mà danh từ chuyên môn gọi là Server và máy này sẽ tự động làm tất cả việc mà trước đây máy địa phương đã làm. Họ nói thêm “Rồi còn phải thử. Còn test…”
Mặc cho những lời biện giải, những người quan chức của công ty vẫn khắng khăng. Rõ ràng, họ chưa bao giờ hiểu được hoàn cảnh cũng như những nỗi khó khăn của những programmer. Hay là họ nghĩ những tay này đang chơi trò làm yêu làm sách…

Như vậy, hết cách. Lại chiến đấu. Lại xung trận. Không phải là tên lính trinh sát chiến đấu. Thời ấy con tim hừng hực lửa. Thời ấy bên cạnh là bạn bè đồng đội. Thời ấy chiến đấu để bảo vệ sống còn cho người khác. Bây giờ thì khác. Một người của số tuổi sắp về chiều chiến đấu. Chiến đấu cho ai, vì ai. Một trăm phần trăm là cho chủ. Bởi vì ông lãnh lương chủ, hưởng bổng lộc của chủ, thuốc men, nằm bệnh viện cũng của chủ. Những kiến thức kinh nghiệm trong muời mấy năm trong nghề, hôm nay, ông cố mang ra để làm cho chủ. Ông biết đây là cơ hội vàng ngọc để cho mọi người biết đến ông nếu ông muốn lấy điểm với cấp trên. Ông sẽ chứng tỏ cùng mọi người về tài năng mà từ lâu người ta không hề biết về ông. Ông sẽ được tưởng thưởng, thăng cấp. Không, ông đâu cần những mũ áo xênh xang như vậy. Bởi ông đã mỏi mệt. Tuổi càng ngày càng lớn. Ông chỉ muốn an thân không còn muốn đua chen cùng đời nữa. Ông từ chối những lời mời mọc như lương cao, nhiều ngày phép. Ông không cần bận tâm đến tin đồn là hệ thống mà ông phụ trách sẽ hết xài và dĩ nhiên ông sẽ bị thất nghiệp. Ông chẳng khác một cổ thụ bám rễ sâu, chờ ngày tàn tạ. Ông cầu an với công việc làm. Không hăm hở, nhiệt tình như trước nữa. Những đầu ngón tay của ông đã bắt đầu bị tê buốt. Cả bả vai cũng vậy. Trước đây ông đánh vào bàn gõ keyboard nhanh, nhưng giờ, ông đánh chậm lại, khoan thai, từ từ. Trong các buổi họp về nghề nghiệp, ông im lặng không phát biểu ý kiến. Ông muốn dừng lại, làm kẻ đứng bên lề. Ông cũng chẳng màn bận tâm về những thay đổi của khoa học kỹ thuật liên quan đến ngành ông làm việc. Còn bao lâu nữa ta về hưu rồi, hơi sức đâu mà ganh đua cho mệt óc. Bây giờ ông mới hiểu tại sao người già vẫn thường là người bảo thủ. Chính vì họ không thể theo cái mới. Thế thôi.

Cái lệnh ác ôn ấy đã làm ông khổ sở không ít. Ông bị dồn vào chân tường. Trời ơi, làm sao họ có thể hiểu là hệ thống này trước đây cần đến bốn người giờ chỉ có một mình ông. Mà giả dụ bây giờ nếu mướn thêm bốn người mới nữa thì cũng vô ích bởi vì họ đâu có kinh nghiệm để mà làm? Làm sao họ có thể hiểu những cái khó khăn mà bất cứ một programmer nào cũng phải gặp. Đó là những con bug bọ không bao giờ ngờ như con bug Y2K. Làm sao họ hiểu ông đã bước vào cái tuổi già, trí não chậm lụt, lu mờ mà nghề này đòi hỏi phải có một trí nhớ tốt. Có biết bao nhiêu command, mỗi dấu chấm, dấu phết là cả một tai họa nếu bỏ sót hay ở sai vị trí. Mắt ông đã bắt đầu mờ, khốn khổ lắm mới đọc chử, đọc số, huống chi cái dấu chấm nhỏ tí ti trên màn ảnh. Rồi bao nhiêu chuyện phải làm. Làm sao để từ một nơi xa muôn dặm tự động gởi tin và ở đây nhận tin cũng tự động, rồi tự động đến máy in, rồi máy in tự động in cái hoá đơn, cái receipt, cái bill, cái label… Nói thì dễ, lý thuyết thì dễ, vẽ đường đi nước bước thì dễ, khi ở trong cuộc mới thấy khó, quá khó.

Vâng, quá khó, 12 giờ đêm ông còn ở bên máy để liên lạc với hãng qua modem. Vợ ông đã dục ông đi ngủ. Ông không trả lời. Ông đang cố tìm xem con bug đang ở đâu. Tại sao mỗi lần ông compile là mỗi lần máy cho biết cái program ông viết bị lỗi. Ông lấy cặp kính lão mang vào, và ước ao có một kính lúp để nhìn chữ cho rõ hơn. Ông nuốt nước miếng. Rõ ràng đây là trận đánh. Ông là tên tướng và cũng là tên tốt. Ông thảo ra kế hoạch và ông cầm súng đơn thương tìm địch. Nhưng địch thì quỉ quyệt. Tóm được một tên thì tên khác lại xuất hiện. Ông bị cuốn hút trong thế trận. Ông hồi hộp theo dõi từng bước, từng bứơc mà danh từ chuyên môn là step by step. Ông xử dụng những công cụ để yểm trợ như display, animation, printf để nhận rõ con bọ quái quỉ. Ông chạy đông, chạy tây, chạy nam, chạy bắc giữa những hàng chữ nghĩa mà ông đã viết.

Lại chữ nghĩa. Chữ nghĩa tàn bạo. Chữ nghĩa khốc hại. Ông mệt lã. Đầu óc nóng bừng. Ông đứng dậy đến cửa sổ nhìn xuống đường. Ánh điện neon trắng soi sáng một khúc lộ. Những chiếc lá khô thỉnh thoảng lại rụng. Ông biết là mùa thu đang trăn trở. Còn hai tháng là sẽ đến mùa đông, trời sẽ lạnh, tuyết sẽ rơi, cây cối sẽ trơ cành. Cũng như ông bây giờ, ở vào tuổi sắp lục tuần, những tế bào sống đã từ từ khô và chết dần. Những sợi tóc đã từ từ khô rồi rụng dần. Nhưng đời vẫn chưa buông tha ông. Nhà vẫn không thuộc về ông. Xe cũng không thuộc về ông. Cơm áo, áo cơm, vẫn không cho ông nghỉ dừng một lát. Chữ nghĩa. Ông muốn gào lên. Đâu cũng là chữ nghĩa. Chữ nghĩa mở mang kiến thức, nhưng chữ nghĩa cũng là sợi dây thòng lọng rờn rợn kinh hoàng. Như một thời chúng làm thanh niên hai miền Nam Bắc mê cuồng, lăn lộn. Như những câu thơ cắt cổ giết người kích động của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Huy Cận… Như những chủ nghĩa lý thuyết để cả dân tộc ông phải tắm trong máu của hận thù. Chữ nghĩa. Giờ đây chúng lại đày ông, bắt ông phải thuộc lòng, phải nhớ như đinh đóng, không thiếu không thừa. Chúng không cho phép ông được nói những gì ông thích nói, viết những gì ông thích viết.

Ông châm điếu thuốc, ngồi lại trước máy, tiếp tục cùng trận chiến. Ông tiếp tục hành quân, tìm địch, diệt địch. Địch thì bị diệt, nhưng mục tiêu thì vẫn còn mịt mờ không thấy ở đâu.

Và cứ mỗi tuần đến ngày thứ năm, hai giờ chiều, là ông ngồi trong phòng để tường trình diễn biến của công việc cho những manager ở những tiểu bang xa được rõ. Ông trả lời thắc mắc. Ông nêu những vấn nạn. Họ chia xẻ cùng ông. Nhưng lệnh vẫn là lệnh. Dứt khoát.
oOo

Có tiếng chuông điện thoại reng. Thằng Ray từ Houston gọi. Ông chào nó, yếu sìu. Giọng thằng Ray vang lên trong máy:
“Ông Sang, ông bị bệnh ?”
“Không. Tao không bệnh, nhưng mệt”
“Này, nghe tôi, hãy tịnh dưỡng. Sức khoẻ là trên hết”
Trời ơi nó lại khuyên ông, Nó làm sao biết nó sắp trở thành nạn nhân. Nó làm sao biết ông đang tiếp tay với chủ để đá nó. Nó làm sao biết là ông đang dấu nó về những gì ông đang làm.
Ray thuộc nhóm production support., một nhân viên thâm niên của công ty. Nhiệm vụ của nó là giúp giải quyết những trở ngại mà các người xử dụng hệ thống gặp phải. Thỉnh thoảng nó lại gọi ông để nhờ ông giúp một vài vấn đề chuyên môn. Nó nói tại Virginia đang gặp khó khăn. Sét đánh làm máy ngưng hoạt động. Nhân viên phụ trách gọi nó cho biết có những dữ kiện không đúng. Phải sửa gấp.
Rồi nó cho ông số điện thoại để liên lạc.
Ông quay điện thoại. Ông đang gọi nạn nhân của ông. Phải, không trước thì sau, dự án sẽ hoàn thành, những nhu liệu sẽ được bỏ vào máy, và họ sẽ bị sa thải. Đừng cho họ biết, họ sẽ xôn xao. Lời bà Nancy vẫn còn vọng bên tai. Đầu dây, giọng người đàn bà vang lên. Giọng quen thuộc. Ông biết là cô nàng Kathy:
“Có phải Kathy?”
“Phải. Chính tôi. Có phải ông Sang?”
“Phải”
“Cái gì xảy ra ở đấy?”
“Hôm qua bão. Điện bị cúp, và máy bị tắt. Sáng nay những data bị sai”
“Hãy cho tôi một order bị sai”
Kathy đọc cho ông nghe. Ông nói ông rất bận nhưng sẽ cố gắng giải quyết chuyện này càng sớm càng tốt. Kathy cám ơn rối rít:
“Tôi bảo không ai được vào máy để chờ ông nhé?”
“Vâng”
Rồi ông gác ống điện thoại. Ông thở dài. Bây giờ ông có dịp được giúp đỡ họ, nhận ở họ lời cám ơn, nhưng không chóng thì chày, họ không còn dịp để ngồi trước máy nữa. Chính ông là thủ phạm. Không, ông không phải là thủ phạm. Không có ông thì có trăm ngàn người khác mà. Nhưng mà tại sao lương tâm lại cảm thấy bất an.

Cuối cùng, dự án cũng được hoàn thành trước ngày ấn định. Ông mừng đến điên khùng khi những file đầu tiên đến trạm và ở đầu dây điện thoại thằng George gọi về cho hay: Tốt rồi. Hóa đơn đã chuyển đến máy in và label được in. Chúng ta phải mở champage mà ăn mừng là vừa. Ông thở phào như trút hết gánh nặng trong ngực. Cái gánh nặng cơm áo và danh dự. Danh dự của một người Việt Nam. Và danh dự của một người già. Danh dự của nhóm. Cái gánh nặng như đêm thức trắng để vật lộn cùng chữ nghĩa: if else, do perform, get, put, uux, uuto, at, for, case, end-of-file, return code, isread, iswrite, rewrite, rewind, printf, sprintf., malloc, pointer, address, realloc, parent, child, table, array… đã được đền bù. Bà Nancy hứa sẽ can thiệp để cho ông tiền thưởng và dục ông lấy mấy ngày nghỉ. Nếu ông vui 10 phần thì ba phải vui 100 phần cũng nên.
Như vậy cuối cùng ông đã chiến thắng. Nhưng giữa niềm vui vô hạn ấy, thằng Ted gọi về tiếp tục hỏi về system. Nó vẫn chưa biết. Rồi nàng Kathy cũng gọi về nhờ ông cứu dùm. Cái database lại bị hư hại (corrupted). Ông muốn rưng rưng. Danh dự, vâng, ta cảm thấy danh dự thật. Nhưng chắc chắn là ta không cảm thấy tự hào hãnh diện chút nào.

 

Phải.  Ông không cho cái dự án mà ông vừa hoàn tất ấy là một sự thành công vượt bực và hãnh diện vượt bực như công ty đã ban tặng ông. Nếu thật sự hãnh diện là hãnh diện vị kỹ. Cho bản thân, gia đình ông. Cho chủ của ông. Chứ không phải cho tập thể hay tha nhân. Như niềm kiêu hãnh sau đây mà ông đã giữ trong lòng, và chỉ một mình ông biết. Để ông ngẩng đầu lên giữa những người xung quanh ông. Để ông vịn mà đứng thẳng trong lúc cô đơn nhất.

A, ông nhớ ra rồi. Ngày cuối cùng ấy. Trung đội ông được lệnh giữ chiếc cầu đúc trên quốc lộ Một. Trên lý thuyết cấp số ít nhất phải là 30 người, nhưng thật tế chỉ còn lại 12 người. Bởi lính chết và bị thương quá nhiều người ta không kịp bổ sung. Mười hai người cho một chiếc cầu dài 100 thước, và một giòng sông đen ngòm, thỉnh thoảng cuồn cuộn những thước gỗ, những xác thú vật và cả xác người từ thượng nguồn đổ về. Mười hai người chia nhau canh gác. Mỗi ca hai người, và phần còn lại đi nằm ở bờ sông mai phục. Những đêm trắng mắt và nổ cả mắt vì cầu không có đèn để soi sáng. Thỉnh thoảng đám lính lại nổ súng vào đám lục bình khả nghi. Đôi lần cả bọn ngồi ngay trên cầu nhậu chung, rồi đi tiểu xuống sông, nghe cả tiếng rí rách của nước tiểu. Ông nhớ đến thằng Hùng nhảy dù, mỗi lần say rượu cứ cầm dao rượt vợ. Ông nhớ đến thằng Minh, có lần nhậu xong, trèo lên bàn thờ ngồi. Ông nhớ đến chúng nhìn ông chờ đợi. Bởi người ta đổ xô qua cầu nhiều quá. Xe nhà binh. Xe dân sự. Thường dân, quân lính. Hốt hoảng, nghẹn ngào. Người ta chạy như bị ma đuổi. Người ta chẳng cần biết chiếc cầu họ đã qua bình yên là do ai mà có. Cứ thế, trung đội ông có mặt. Có mặt đến giờ phút chót.
Từ đó, ông không còn nhận được lệnh của ai nữa. Tiếng súng lớn và tiếng rền của xe tăng Bắc quân càng lúc càng nghe rõ. Ông ra lệnh phá sập cầu. Bao nhiêu lựu đạn còn sót lại. Bao nhiêu chất nổ, ngòi nổ, mìn claymore, được đặt tối đa dưới cầu. Sợi dây điện được nối qua bên bờ. Sau đó, ông cho bấm nút. Chỉ tích tắc là cả chiếc cầu lồng lên, quằn quại. Cả chiếc cầu gãy làm đôi, gục xuống giòng nước.

Đó mới thật là niềm hãnh diện lớn nhất của đời ông. Bởi vì ít ra cũng nhờ ông, mồ hôi của ông, máu lệ của trung đội ông, người ta còn qua cầu được bình yên. Cho dù những người qua cầu năm xưa chắc gì nhớ đến đám gác cầu. Cho dù kẻ giữ cầu ấy đã bị đày đọa trong tù, bị giam trong connex, bị cùm chân suốt cả hai tháng trời khi phe thắng trận biết được chính ông là kẻ ra lệnh phá cầu để giảm đường tiến quân của lực lượng quân đội nhân dân anh hùng.

DI SẢN VĂN CHUONG MIỀN NAM

Bài thơ của thầy dạy Đệ ngũ

Posted on

Năm 1956 tôi học Đệ ngũ tại Huế ở một ngôi trường bên giòng An Cựu. Thầy dạy Việt Văn là nhà thơ Trụ Vũ.  Cho đến bây giờ tôi vẫn nhớ đến dang người gầy guộc, đến gương mặt  ra nét bi thảm, mắt nhắm nghiền lúc thầy đọc bài Quasimodo hay bài Vũ Trường.  Thầy ngâm thơ rất hay. Nhất là thơ của thầy.  Thầy đã giúp tôi yêu mến thi ca.
Thời gian trôi, tôi bỏ trường bỏ lớp bỏ sách vở lại cho thầy, tôi chỉ nhớ đến những ô cửa bên giòng sông:

Ôi trường cũ có bao nhiêu ô cửa
Hãy cho tôi về đếm những đám mây…

Tôi chỉ mang theo những câu thơ của thày làm hành trang. Chúng dĩ nhiên chẳng tạo nên tiền bạc, danh vọng, nhưng chúng nuôi dưởng tâm hồn tôi trong những tháng năm bị bầm dập bởi chiến chinh, tù tội. Như mấy câu trong bài Quasimodo:

Nàng cúi, cúi xuống thềm
Lão gù che mặt lại
Và trông lên trông lên..

Hôm nay, xem lại một số báo cũ do một người bạn chụp từ tủ sách gia đình còn dấu được sau nạn đốt sách, thấy bài thơ mà mình rất mong tìm lại của thầy. Đó là bài Vũ trường đăng trên tạp chí Nhân Lọai  số 6 ngày 15-11-1958.  (xin click hình để đọc rõ):truvu-1truvu-2