Lời ca từ một hoàng hôn ở rừng tràm

Khi chiếc ghe máy mang chúng tôi trở lại rừng tràm
Hoàng hôn đã về, một mặt trời ở phía Tây hắt lên những ráng đỏ
Bên bờ Kinh là một rừng lau trắng mượt
Năm rạp mình trong màu ánh sáng nhá nhem
Thỉnh thoảng vài cánh chim lười biếng bay qua
Cánh đen in trên nền trời như giao thoa cùng đất đai và đồng cỏ
Xình xịch xình xịt
Chúng tôi ngồi lặng im trên boong
Bỗng nhiên một thằng cất lên bài Trở về Mái Nhà Xưa
Xình Sịch xình xịch
Tiếng máy nổ đều như nhịp hòa âm chậm và đều đều
Về đây khi  mái tóc còn xanh xanh
Mắt như buồn nhắm khẻ
Thân thể như nhẹ tênh
Bởi hồn như bay lên cao
Trong âm thanh buồn rầu của lời ca tiếng hát
Quên thân phận
Quên ngày tháng lầm than
Quên quên hết
Ghe qua khu  rừng lau
Màu trắng như màu tóc mẹ
NHìn cuối bờ
Không thấy gì trừ một màu trắng mênh mông
Sình sịch sình sịch
Tim muốn nghẹt thở
Mắt muốn mờ đi
LỜi nhạc nâng ta lên
Quên hết quên hết

Theo em (82)

Hôm qua,  chủ nhật, chở Y. đến chùa Thái Lan cách nhà khoảng 2 tiếng đồng hồ. .  Thời tiết êm dịu, dù mây hơi xám, có  mưa nhỏ như mưa bụi.

Chùa  tọa lạc  ở Bensalem thuộc tiểu bang Pennsylvania.  10 giờ sàng khi chúng tôi đến nơi thì bải đậu xe đã đông nghẹt. Tìm được một chỗ rất khó. Gặp lại một số người quen. Họ lăn xăn thăm hỏi Y.
Chỉ có những dịp lễ hội như thế này chúng tôi mới có dịp gặp mặt nhau. Và đây cũng là dịp để Y. bớt buồn. Anh H. nói: Mừng là chị còn tỉnh trí, minh mẩn. Còn việc không đi đứng thì mình phải chấp nhận như số phận. Có điều nếu không đi đứng được thì có anh Thư, có xe lăn, hay xe hơi.

Tôi  đã nhiều lần nói với Y. như vậy. Nhưng trong lòng tôi thì hơi bất an. Bây giờ có tôi để Y.  nương cậy. Nếu chẳng may tôi ngả xuống, thì lấy ai đẩy xe lăn, hay lái xe để chở Y. đi như ngày hôm nay.

Y. đã trải qua một buổi trưa đầy cảm động. Bạn bè dành đẩy xe lăn. Bạn bè đi lấy thức ăn. Bạn bè lấy muổng lấy dĩa. CHúng tôi ăn trưa tại một khu đầy cây, lá xum xuê. Chiếc bàn dài đủ chỗ hàng mưoi người. Như một picnic ngoài trời. Thức ăn ê hề. Ăn chùa mà. Có điều là thức ăn toàn là đồ mặn không phải chay như người Việt mình. CHùa quá lớn, đất quá rộng, và thức ăn  thì free, tha hồ chọn.   NHớ đến những mái chùa xưa. Buổi ăn chay đạm bạc với tương chao, món canh,vậy mà quá ngon. Nghèo hay giàu thì cũng vậy. Có khi món rau luộc chấm xì dầu và nước canh là nước rau luộc nặn chanh, bỏ vào một chút muối, vậy mà nhớ mãi.

Y. ,muốn  tập đi trên cỏ. NHớ lại có lần tôi đọc một tài liệu viết bằng tiếng Anh của  một nhóm bác sĩ Mỹ trên Mạng nói về sự công hiệu của đất đai trong việc chửa trị những người bị liệt. Chân bước không phải bước trên mây, nhưng bước trên đất. Hai chân đứa bé mới tập đi, cũng bắt đầu đạp trên đất. Đất là  nơi hấp thụ âm và dương, khí trời, mặt trăng, ngày và đêm. Từ đó đất mới đầy đủ năng lượng để chuyền những điện tử lên bàn chân mình. LỜi giải thích có vẽ hữu lý, khiến Y. cứ đòi tập đi trên đất với chân trần. Và đây là dịp tốt để cho Y. được tập. Tôi tháo đôi giày ra khỏi bàn chân Y. và đở Y. đứng dậy. Tay cầm chặc vai áo, lai quần, để đề phòng Y. bị té. Cỏ dưới chân. Bên bờ là hoa hướng dương, ho lài, hoa thược dược. PHìa trong ấy là chùa đang trong giờ hành lễ, thuyết pháp. Y. không vào chùa được vì qua đông, nên Y. vừa tập đi vừa cầu Phật giúp đở phù hộ mình qua được nạn dữ. Tôi thấy thương xót cho Y. Nếu quả thật giữa hàng trăm hàng ngàn người đến chùa để cầu xin, gỉa dụ như vậy, thì chắc chắn đức THế Tôn và những vị Bồ Tát sẽ nghĩ nhiều đến Y. Y. đi trên bải cỏ, chân thấp chân cao. Tay phải cầm gậy chống. Tay trái ngủ yên đình công. Vậy mà vẫn bước với đôi bàn chân trần. Để làm gì. Có phải là để tiếp tục một niềm tin mà mình chưa thấy, hay chưa có.  Để mà còn nuôi hy vọng trong trái tim mình. Bởi vì sống là phải vậy.

Có phải vậy không?

IMG_4515

Bóng tháp (4): Một trang báo cũ

Dưới đây là một trang báo cũ do một bạn ở SG sưu tầm và gởi tặng.  Đó là bài thơ “Tháp Cổ” đăng trên tạp chí Bách Khoa số 273 phát hành khoảng năm 1968. Phía trên  đầu là 4 câu cuối  trong một bài thơ  của  nhà thơ Phan Nhự THức tức là Mê Kung được viết vào ngày mồng Ba Tết Mậu Thân. Phan Nhự Thức   khóa 23 Thủ Đức. trên tôi một khóa. Chúng tôi rời quân trường vào giai đoạn chiến tranh khốc liệt nhất – 1967. Rồi tiếp đến là năm Mậu Thân. Tôi bị thương ngay tại cửa vào thành phố Qui NHơn sau khi chỉ huy trung đội chiếm Cây Xăng Ông Tề. Trong khói súng, trong tình trạng cực kỳ căng thẳng, vậy mà thơ lại là lời ru. Ru ta ngọt ngào. Ru tim ngoan ngỏan.  Nương tựa vào bóng Tháp để làm thơ. Thơ chúng tôi chẳng mang gì chút hận thù. Hận thù gì khi  chúng tôi học từ CHúa và Phật và dưới bóng của những ngọn tháp thiêng liêng.

Xin hãy đọc 4 câu cuối của bài thơ thất tán của Phan Như Thức để hiểu thế nào là tuổi trẻ của thế hệ chúng tôi về chiến tranh mà chúng tôi có mặt. Để thấy thơ miền Nam không hề có tạc đạc chất nổ dao găm mả tấu,  mổ mắt mổ tim chặt đầu thề phanh thây uống máu quân thù. Trái lại, thơ làm cho con người, vì con người. Như  bốn câu của PNT sau đây:

Khi phố này khóc thương cho phố nọ
quảng-ngãi, sài-gòn, huế… để tang nhau
TA cùng với nỗi tình nghi ngút đó
thắp lời chia buồn soi rõ mặt nhau

(Mồng ba – năm Mậu Thân)

Riêng bài Tháp Cổ tôi xin đăng lại, để nói lên lý do tại sao tôi lại có một lọat sáng tác Bóng Tháp trong thời gian qua. Không phải bây giờ tôi mới nương vào bóng tháp mà mấy mươi năm về trước.

thap-ok