Một Tập Thơ sau 54 năm tìm lại :Tiếng Thơ Miền Trung

 Phạm văn Nhàn

(trích Thư Quán Bản Thảo số 56 phát hành tháng 6-2013)

New Picture

Cách đây hơn một tháng (vào khoảng tháng 3/2013), nhà thơ Lê Ký Thương có gởi email qua cho tôi, hỏi: anh có còn nhớ đến tập thơ Tiếng Thơ Miền Trung không? Và, trong email đó anh cũng nói là anh đã tìm lại được tập thơ này và ngay cả tờ giấy quảng cáo cho tập thơ này nữa.  Anh sẽ cố gắng phục hồi lại, giữ nguyên bản chỉ đóng lại bìa (loại bìa cứng) in chữ mạ vàng, sẽ gởi qua cho tôi một tập, càng sớm càng tốt. Đồng thời anh cũng hỏi tôi để xin số phone của con gái lớn anh Từ Thế Mộng: Cháu Nguyễn Từ Giao Tiên để gởi biếu. Nhận được email của anh Lê Ký Thương tôi rất vui.

Đầu tháng 5/2013 tôi nhận được tập thơ này và một cuốn tiểu thuyết Tiếng Vạt Kêu Mưa do Ý Thức in năm 2012. Mà trong năm 2012 anh cũng đã gởi bản thảo Tiếng Vạt Kêu Mưa qua cho đọc trước, khi đó, tôi còn ở trên thành phố Amarillo.

Cầm tập thơ Tiếng Thơ Miền Trung trên tay tôi thật bùi ngùi và hết sức cảm động. Tôi không ngờ, người bạn tôi, anh Lê Ký Thương tìm ở đâu ra được nó. Vì, trước ngày anh Từ Thế Mộng mất, tôi có hỏi anh về tập thơ này. Nhưng anh nói lâu quá anh không còn giữ nó. Đồng thời, anh cũng có hỏi vài người bạn nhưng tất cả đều không có giữ tập thơ này. Sau đó, anh có nhờ tôi hỏi nhờ anh Trần Hoài Thư tìm hộ trong những thư viện của Mỹ. Hình như tôi cũng có nhờ anh Trần Hoài Thư vào thư viện Cornell, nhưng có lẽ không có. Bẵng đi một thời gian khá lâu, tôi cũng quên khuấy. Bỗng, anh Lê Ký Thương gởi email cho tôi là anh đã tìm được.

Với Tiếng Thơ Miền Trung, 54 năm về trước, tôi cũng có một tập, do chính anh Từ Thế Mộng ký tặng cho “ một đứa em mới tập tễnh theo chân đàn anh làm văn nghệ văn gừng”. 54 năm qua, tôi nghĩ, tập thơ này sẽ không và không bao giờ tìm lại được. Thế mà, anh Lê Ký Thương đã tìm thấy nó. Có lẽ không phải một tập mà là nhiều tập chăng? Ngoài tập thơ ra, còn có một tờ quảng cáo in trên giấy màu hồng, khổ lớn (49 ½ cm x 32 ½ cm, vào khoảng 19 ¼ ” x 12 ¾ ”).

Tôi thấy có con dấu đỏ (hơi mờ) của Ty Cảnh sát Đô thị Huế, đóng dấu cho phép: Được Phép Dán ngày…tháng…năm… Do nhà in Hợp Thành – Huế in. Kiểm duyệt số 7.362 HĐKD. Huế ngày 27.7.59. Nhưng tập thơ in sau đó một ngày (28.7.59) cùng một số kiểm duyệt.

Tập thơ in trên giấy dầy, màu vàng nhạt, qua 54 năm giấy đã úa vàng và có nhiều vết loang lổ, dễ mục nát. Gáy tập thơ cũng gần như muốn bong ra, nếu Lê Ký Thương không đóng lại bìa, thì khó mà lật từng trang để đọc.

Tập thơ gồm 5 tác giả. Mỗi tác giả đóng góp 6 bài thơ. Tầm Dương xuất bản năm 1959. Ly Tao chủ trương. Năm tác giả đó là:

1/ Cao Hoành Nhân. Tiêu đề: Hợp Tấu Mùa Xuân gồm 6 bài: Tuổi Mộng Thời Xuân. Em Đến Hồn Ta. Tiếng Ngân Hồ Biếc. Nàng Hôn Hoa Trắng. Nhạc Khúc Mùa Xuân. Mộng Cho Ngày Sau.

2/ Thanh Nhung. Tiêu đề: Khúc Nhạc Hoa Lòng gồm 6 bài: Vào Duyên. Tình Xuân. Vườn Trăng. Thu Mộng. Duyên Xuân. Mơ Hoa.

3/ Thương Nguyệt. Tiêu đề: Hành Lang Xanh gồm 6 bài: Hiện Về. Hoàng Hôn Ca. Tìm Nhau. Mênh Mông. Mê Sảng. Chờ em.

4/ Từ Thế Mộng. Tiêu đề: Mưa Hoàng Hôn gồm 6 bài: Điệp Khúc. Hương Yêu. Hương Giai Nhân. Nhạc-Khúc-Ly-Tao. Hoa Ép Trong Trang Giấy Học Trò. Mái Tóc Thề.

5/ Võ Thùy Lam. Tiêu đề: Tiếng Ân Tình gồm 6 bài: Trắng. Đắm Say. Mây Nước. Hoài Vọng. Một Sớm Mai Hồng. Khát Vọng.

Với 5 nhà thơ trong thi tập Tiếng Thơ Miền Trung tôi có một vinh hạnh là đã gặp, gặp khi ấy còn rất trẻ. Nhà thơ Thanh Nhung khi về Phan Thiết ở nhà tôi dự đám cưới anh Từ Thế Mộng, khi ấy chị chưa đi du học.

Trong số 5 nhà thơ ấy đã bỏ cuộc chơi mà theo tôi biết có hai người. Nhà thơ Từ Thế Mộng và nhà thơ Võ Thùy Lam. (Anh Võ Thùy Lam là anh ruột của nhà thơ Võ Tấn Khanh – Tôn Nữ Hoài My). Nhà thơ Cao Hoành Nhân, ở Mỹ. Khi anh Từ Thế Mộng còn sinh tiền bảo tôi tìm địa chỉ của anh CHN, để gởi tập thơ của anh TTM tặng. Tôi có nhờ qua anh Trần Hoài Thư tìm hộ, nghe đâu ở cùng một bang với anh Trần Hoài Thư. Anh Thư có gọi phôn, nhưng không ai bắt. Tôi vẫn còn giữ tập thơ của anh TTM có cả bút ký của anh ấy gởi tặng anh CHN. Với tôi, lâu lắm, không gặp anh ấy từ năm 1970 khi anh làm ở ngã ba Tam Hiệp, tôi có về thăm anh và xin anh vài bài thơ để đi trên Đặc San Giao Rừng của TTHL/TCTR/ Vạn Kiếp, mà tôi về thụ huấn.

Nhưng mới đây, cô em gái của chị Thanh Nhung có gởi qua cho tôi đọc một bài viết của Chu Trầm Nguyên Minh, mới hay chị đã về Việt Nam, và sống ở Nha Trang trong ngôi nhà ở đường Nguyễn Thái Học mà tôi đã từng đến trong thời chiến. Cả nhà thơ Thương Nguyệt cũng còn sống ở Việt Nam. Anh đã là một họa sĩ có tiếng trong nước: Trịnh Cung.

Tập thơ Tiếng Thơ Miền Trung hiện có trong tay tôi đã trải qua một thời gian khá dài: 54 năm tôi đi tìm, hỏi nhiều người không ai còn lưu giữ, ngay cả anh TTM cũng không còn. Hôm nay lại là ngày giỗ của anh (TTM) không biết anh Lê Ký Thương đã gặp cháu Nguyễn Từ Giao Tiên chưa và trao cho cháu tập thơ này theo ước nguyện của anh khi còn sống. Phải chi tập thơ này, anh Lê Ký Thương tìm được trước khi anh Từ Thế Mộng mất thì vui biết mấy.

Riêng với tôi. Tôi rất trân quý những người bạn của tôi, đã bỏ nhiều công sức đi tìm kiếm những tác phẩm một thời của nền văn học miền Nam cũ, in ấn, gìn giữ, và lưu truyền. Cho dù có tốn kém. Như hai anh Trần Hoài Thư và Lê Ký Thương này. Chịu khó là một lẽ, nhưng còn phải biết đam mê nữa.

54 năm qua, thi tập Tiếng Thơ Miền Trung vẫn còn trong lòng bạn bè yêu thơ.

                                         Phạm Văn Nhàn

Tác phẩm mới: Tiếng Thơ Miền Trung

Buổi sớm, căn hầm nghe xôn xao bao lời nhả nhạc. Này là Okidata C6100, Okidata 3200, này là Hp laser jet 5SI, Laserjet 8000N…Này là giấy glossy một mặt từ lâu ít dùng.
Này là biển màu xanh và mây trắng. Nha Trang. Nha Trang là nơi mà cách đây 54 năm, có một địa chỉ  Công Tằng Tôn Nữ thị Nha Trang, với bút hiệu Thanh Nhung, để bằng hữu và người đọc  yêu thơ gởi đến đặt mua tập thơ Tiếng Thơ Miền Trung… 54 năm. Giờ lại trở về trên màn ảnh máy, để tái tục cùng niềm vui.

Sáng sớm, 3 AM. Tôi bắt đầu làm bìa. Tôi đã bỏ bao nhiêu cái rồi, khỏi cần thắc mắc. Tôi là người thực hiện in ấn, là người xuất bản, là chủ tiệm. Vậy mà tôi khác những chủ tiệm khác. Bởi chủ tiệm khác họ đâu có hiểu thế nào là di sản văn chương miền Nam. Họ chỉ nhận những gì mà bạn trao, và họ nhắm mắt in và đóng. Họ không cần biết nội dung chuyên chở thế nào.

Còn tôi, tôi hiểu nội dung. Tôi muốn cái bìa là những dấu chân còn sót lại trên bãi biển cát vàng.  Đó là dấu tích. Đó là di sản. Rồi nước sẽ cuốn. Nhưng trong trái tim và hoài niệm của chúng tôi vẫn còn in đậm  những dấu chân trên cát ấy. Có phải vậy không?

Tôi đã lên lầu lấy xuống những xấp giấy láng mà từ lâu tôi không dùng. Khổ 11×17. Cắt làm đôi thành khổ letter. Vì giấy láng lại dày nên khó in theo cách duplex. Phải in một mặt. Sau đỏ trở ngược lại in mặt sau. Hơi vất vả.

Vậy đó, bìa láng, ép phim mỏng. Cám ơn các bạn ta. Chỉ hai tuần mà một thi phẩm xuất bản cách đây 54 năm, ra đời. Người đánh máy. Kẻ sửa lỗi chinh tả. Và kẻ layout, design, in và đóng.

Phương xa, xin bạn hãy uống dùm ta một cốc rượu chia mừng.

7ENG THO

Bài thơ nhân ngày father’s day

Giữ Chút Mong Manh

Năm một tuổi, mẹ bồng tôi chạy loạn
Tôi không cha, không cụm đất quê hương
Tôi lớn khôn, không ngày tháng năm sanh
Sớm biết chiến tranh buồn hơn nước mắt

Khai sinh tôi đây, mẹ cha ngăn cách
Tôi nói làm sao về một  nỗi buồn
Tôi phải kể gì về một tuổi thơ
Khi phải đọc một bài kinh cầu nguyện
Những trang giấy đầu tiên,
những giờ cô nhi viện
Mây Bết Lê Hem, sóng biển Hòn Chồng
Nắng thì vàng thắm cả trường sân
Tôi ôm mặt làm con chim côi cút
Tôi đã có những vì sao thổn thức
Những con dế mèn gọi mãi đêm trăng
Tôi chỉ  là  con ngựa bờm rung
Kéo hết nổi, loạn ly, cùng tuổi chứng

oOo

Tôi gặp lại cha tôi vào năm mười một  tuổi
Hôm nào đây, sao cứ  ngỡ hôm qua
Trời cũng mù sương, phi đạo bơ vơ
Trưa chẳng nắng để mây buồn trong khói
Ba tôi đến,
“con là Ty? “, người hỏi
Chiếc áo lương đen, côi cút giữa trời
Tôi nghẹn ngào, rưng rức một tiếng ba
Rưng rức mãi, cho mỗi ngày mỗi lớn
Rưng rức mãi, bên lòng cha vạn đại
Bên dòng sông sương khói mịt mùng
Bên những cột đèn ủ rũ mùa đông
Trong tiếng rao hàng đêm đêm Hàng Đoát
Trong những xóm, người di cư cắm đất
Cắm thêm từng nỗi nhớ quê hương
Vâng thì tôi cũng có yêu thương
Theo tiếng tục con gà trống ốm

Bao năm sau, tôi cũng đành bỏ xứ
Con gà kia, già quá, sao cam
Chiếc áo lương đen, chiếc áo thọ đường
Chiếc mũ xám, chiếc dù đen, đã mất
Tháng ba, ba xa, nằm trong lòng đất
Tháng tư tôi lên đồi núi gào kêu
Quê người đây, mây lũng nặng ban chiều
Tôi ôm mặt biết thêm đời mất mát…

Theo em (73): Xe lăn đẩy báo…

Hôm nay xuất quân
Bằng hàng trăm phong bì đựng tập TQBT số 56 vừa
mới in xong
Bỏ vào đằng sau trunk
kề bên chiếc wheelchair bằng nhôm nặng 26 pound
dành riêng cho Y.

Bia 56 for lasejet 2020

 

(muốn đọc rõ, xin click vào hình)

 

Hôm nay xuất quân
Nương vào đường bay gởi đến bạn bè thân hữu tứ phương năm châu bốn biển
những trang chữ hồi sinh
những niệm vui nở nhụy
Những nắng trên hàng cây  xanh
sau những đêm mất ngủ
sau những ngày hai ngón tay gõ miệt mài
đôi mắt căng trừng thị lực
Sau những lần thính giác của lũ chó săn
lắng nghe tiếng Y. rên hay tiếng chuông kêu giúp đỡ

Như thời thanh xuân trrên gò huyệt dưới mương lạch
Mắt mù vì đêm đen
nằm đợi giờ đột kích

Phải rồi giờ G đã về
Ta gom quân
Những cuốn báo bỏ vào phong bì
Những cuốn báo bỏ vào thùng cartoon
Mấy thùng sách nặng trĩu nhờ vợ chồng bạn trên núi xuống  mang đi gởi dùm ở bưu điện

Còn lại hàng trăm bì thơ ta liếm môi liếm miệng dán tem thư đóng triện son đỏ chói Kính biếu Media
Dán hai con tem $1 đồng, một con 45 cent, một con 10 cent
Dán đến mõi nhừ
Đến mắt mờ
Đến miệng lưỡi khô đắng vì cạn nước miếng
Vậy mà lòng hân hoan vô kể

Tự thửởng mình chai bia

Cho một lão già  có hai  cánh tay phải

Một tay nuôi vợ bị stroke
Một tay in ấn đóng cắt dán một tờ báo dày 278 trang bỏ báo vào trunk chạy giữa thị trấn mùa hè

Hôm nay ngày xuất quân
Đậu xe tại parking  đàng sau bưu điện
Xa ơi là xa
Sao mà khiêng nổi

Có nghĩa lý gì ở những cuốn sách này không
Có nghĩa lý gì ở những bè tràm bó củii trong rừng tràm khổ sai này không
Có nghĩa lý gì ở những mỹ từ  mà người đời tròng xuống cổ mình không

Sách ơi là sách
Sách lớp lớp nằm như lớp cá xếp vào nhau
Như những con cá mòi trong hộp

Vậy mà ta chẳng bao giờ bỏ chúng
Cứ  bắt chúng theo ta hoài

Sách ơi là sách

Nhưng mà có cái wheelchair này

Cái xe lăn được chế tạo để chở bệnh nhân bất lực đi đứng này
Cái phương tiện để di chuyển nhữbg phận đời gẩm hiu buồn bã này
Cái chỗ ngồi ta theo em này
Đẩy đi, đẩy về, xếp lại nhấc vào trong trunk

Để rồi treo bảng handicapped
bảng hiệu dành cho những phận đòi sống sót

Ta có nó, chiếc xe lăn lúc này
Nó giúp ta chở dùm hai bao vãi đầy sách nặng trĩu

Nó giúp vai ta nhẹ tênh
Hai chân ta bước đều thong thả làm sao

Nó thế vào chỗ ngồi của Y.
Nó vui mừng có người đẩy đi dạo chơi
TRước khi chia tay về những phương trời xa lạ

Ngày xưa,  khi ta bất lực kéo bè tràm  khổ sai trước giòng nước ngược
Trời thì lạnh mà  ta thì đói tận cùng
Ngày xưa ngọn dồi Núi Sọ thấy mờ ẩn từ xa dưới anh hoàng hôn
mà ta thì cố hoài mà chẳng bao giờ tới đích

Vậy mà em người em gái miền Nam khăn sọc vằn che khuất hai má chỉ thấy lộ đôi mắt trời ơi dịu dàng hiền từ làm sao xinh đẹp làm sao
Em có mặt bên đời ta như người ân nhân cứu độ

Với chiếc áo bà ba vá vai nổi giữa đầm hồ sen súng
Để tiếp trợ cho ta miếng cơm miếng cá miếng nước cam lồ

Bây giờ cũng vậy

Chỉ có cái wheelchair 26 pound nằm trong trunk

Ta dùng nó chở những đứa con của ta

Cho chúng được đến những bến bờ mơ ước