Cho những người bạn thám kích của chúng tôi

Có lẽ đây là lần đầu qua văn chương Miền Nam thời chiến, hai nhà thơ Mỹ Việt gặp nhau ở cùng chung một màu áo binh chủng. Một người nguyên là cố vấn đại đội, và một người nguyên là một trung đội trưởng. Họ không hẹn mà gặp, không phải ở trên quả đất này, mà ở trên văn chương. Họ cùng những giọt lệ thổn thức khi nhớ về đồng đội, về những người bạn thám kích QLVNCH của họ – những người lính không bao giờ biết nón sắt, áo giáp. Họ đội mũ rừng, trang bị súng nhẹ, gan dạ, quả cảm, luôn luôn đi đầu trong các cuộc hành quân tìm dấu địch. Và dĩ nhiên là họ chết trước.

Chúng tôi trân trọng giới thiệu bài thơ Cho những người bạn thám kích của tôi ( For my Scouts ) và Những bóng hình ( Shapes ) của nhà thơ Charles Schwiderski cùng bài thơ Trung Đội của Trần Hoài Thư.

* Nhà thơ Charles Schwiderski nguyên cố vấn cho Thám Kích Cao Nguyên, Biệt Khu 24 QLVNCH, Kontum từ 1967 đến 1968.

Trang nhà của tác giả:

http://www.8thwood.com/chuck_schwiderski.htm

* Trần Hoài Thư nguyên là một trung đội trưởng thám kích trong thời gian gần 4 năm (từ 8/1966 đến 6/1970).

Charles Schwiderski
Cho những người bạn thám kích của tôi

Tôi xây trong tim tôi
ngôi nhà cho những người bạn thám kích
Mỗi người một căn phòng cố định
Dù tất cả cửa sổ
Đều phủ màn đen
Và chủ phòng không bao giờ trở lại
Nỗi đau là của tôi … và tôi là một người ích kỷ
Tôi say sưa gom góp kỷ niệm về các bạn
Mỗi phòng chất chứa tinh hoa của chủ phòng
… của những chuỗi ngày vui buồn hay may rủi
của tất cả mọi điều từ trước đến nay
Khi cô đơn tôi có thể vén màn
và các bạn sống lại cười vui trở lại
Nhiều bạn thám kích của tôi đã sống trong ngôi nhà nầy
rất lâu … với hình con Báo Đen
sơn trên cửa phòng của họ
Bên trong tôi vẫn nghe giọng cười
và nước mắt tôi sa xuống trên nền nhà.

(THT phỏng dịch)

Những Bóng Hình

LTS: Bài thơ này được trích từ hồi ký chiến trường Hi Ro Bu kể lại cuộc hành quân của hai đại đội thám kích QLVNCH ở vùng rừng núi Hi Ro Bu. Chúng tôi xin được cám ơn nhà văn Hà Kỳ Lam đã bỏ công giúp chúng tôi chuyển ngữ bài thơ này..,

Chúa ơi, bọn chúng lại đến!
Tôi hãi quá… tôi không muốn chết!
Tôi nhìn qua miệng hố và thấy
Những bóng hình xám xịt chơi vơi bên dưới
Những bóng hình chạy từ gốc cây đến gốc cây
Những bóng hình tiến lên dốc đồi
Những bóng hình di động để giết tôi
Những bóng hình di động để cướp đi mộng đẹp của đời tôi
Tôi giương súng nhắm một bóng hình chơi vơi bên dưới
Giờ gần hơn… giờ rõ hơn
Tôi bóp cò và một hình hài ngã xuống
Miệng há hốc như nói với chính mình
Những bóng hình khác rõ hơn đang tiến đến tôi
Bắn tôi
Ném lựu đạn vào tôi
Tiến đến tìm tôi
Tôi thấy khói từ nóng súng của chúng
Cảm được viên đạn lướt qua gần sát thân mình
Cảm được chấn động của lựu đạn chúng nổ
Nghe tiếng rít của hỏa tiễn bay qua
Tiếng ré của kèn đồng chúng xung trận
Âm thanh xé màn nhỉ của tiếng tu huýt
Tôi hét lên và run vì sợ
Nhưng cẩn thận ngắm súng vào những bóng hình bên dưới
Siết cò súng hết phát nầy đến phát khác
Không thể để trượt… gần hết đạn rồi
Không thể để trượt… không được phí một viên
Những bóng hình tràn ngập khắp nơi
Những bóng hình sao nhiều đến thế
Xin Chúa giúp con
Tôi siết cò súng nhưng không gì xãy ra
Chúa ơi, con hết đạn rồi!!!
Tôi rút băng đạn ra khỏi súng và với lấy một băng khác
Tôi sục sạo nhưng không còn gì… hốt hoảng, hốt hoảng, hốt hoảng
Tôi tìm được một băng đạn… băng cuối, và lắp vào súng
Ngắm và bắn, ngắm và bắn và bắn và bắn
Thêm nhiều bóng hình ngã gục
Xác thân nằm mọi nẻo
Chết chóc đang vây quanh tôi

Những bóng hình đang xông tới
Những bóng hình hiện diện khắp nơi
Những bóng hình đang xáp đến bên tôi

Những bóng hình nhiều quá đi thôi
Xin hãy giúp tôi!!

(Hà Kỳ Lam chuyển ngữ)

Trần Hoài Thư

Trung đội

Băng đồng, băng đồng, đêm hành quân
Người đi ngoi ngóp, nước mênh mông
Về đây Bình Định ma thiên lãnh,
Mỗi bước đi rờn rợn âm hồn

Trung đội những thằng trai tứ chiếng
Những thằng bỏ lại tuổi thanh xuân
Diều hâu bôi mặt hù ma quỷ
Thuở đất trời bày đặt nhiễu nhương

Đêm của diều hâu về xứ khổ
Poncho phơ phất gió hồn oan
Trên vai cấp số hai lần đạn
Không một vì sao để chỉ đường

Mưa lạnh thèm tu hơi rượu đế
Để quên tim nhảy nhịp lo âu
Giơ tay vuốt mặt lau tròng kính
Giờ G, giờ G sao quá lâu

Thì đi, đột kích trong lòng địch
Chụm tiếp nồi cơm hộ Bắc quân
Cơm nóng thầy trò ăn đỡ đói
Ha hả cười, cơm của nhân dân

Trung đội cả tuần đêm không ngủ
Lương khô đã hết, chờ trực thăng
Hành quân một tháng trên An Lão
Một tháng trời mưa thúi chiến trường

Pháo chụp người gào khan cả họng
Máy sôi tắt nghẹn chờ phi tuần
Miểng thép đâm xiên, thằng bạn gục
Hỏa châu vàng thoi thóp triền sơn

Địch vây xiết chặt bộ tiền phương
Quân băng đường máu về Bồng Sơn
Qua kênh, sương muối mờ tre bụi
Thánh giá chơ vơ nóc giáo đường

Nước nguồn đổ xuống ngày binh lửa
Những xác nào đã thúi hôm qua
Ai bạn ai thù sao quá thảm
Trên một dòng cuồn cuộn oan gia

Con sông chia cắt bờ bi hận
Cột khói còn lưu luyến chiến trường
Có ai chạy loạn bơi xuồng kể
Một thước đi, xác ngập thước đường

Cây cầu sắt bắc qua tử địa
Bên kia sông ta chiếm rừng dừa
Đêm bỗng nghe quạ bầy động ổ
Gọi ran trời kinh động sao khuya

Lũ quạ trốn đi từ dạo ấy
Để giờ đây kêu động rừng phong
Quạ gọi bầy tháng năm tháng bảy
Sao ta gọi bầy thăm thẳm mù tăm

Trung đội ta những thằng giữ đất
Từ Qui Nhơn, Phù Cát, Phù Ly
Ra Tam Quan qua rừng An Lão
Từ Kỳ Sơn, Phước Lý, An Khê

Đồng đội ta những người đã chết
Những Vọng, Nga, Nai, Bình Lò Heo
Những Chấn, Hảo, Sơn, Tài Xóc Dĩa
Đàn diều hâu thảm thiết khóc òa

Lịch sử cũng vô tình thế đó
Người qua sông không nhớ con đò
Những người chết không còn nhắm mắt
Người sống giờ như những hồn ma

Sách hiếm:Ly Chanh Trung: Introduction to Vietnamese poetry (updated)

Lời chủ Blog:  Kỳ Post này được dành cho một tập sách mỏng (20 trang) do  Bộ Quốc Gia Giáo Dục VNCH xuất bản vào năm 1960.

Chúng tôi đang đánh máy  từ từ và sách sẽ được lưu giữ  trong thư viện ảo Di sản văn chương miền Nam, hầu có thể giúp cho những vị nào cần dùng đến để tham khảo.

PTDC8758

 

l. ORIGINS : THE POPULAR SONG

Schiller, speaking of his poetic creation,says somewhere : “ With me, poetic perception is first of all without a clearly defined object ; that object is formed later. A certain musical mood precedes it and brings forth in me the poetic idea”, (quoted by F. Nietzche in The Origin of Tragedy).

It is not known whether all poetry begins in music, but Vietnamese poetry is a musical fact, for it’takes rise in popular songs which are said to be, according to Nietzche, “ the musical mirror of the world, the primitive melody seeking for itself a parallel dream image and expressing that image in the poem “. (Nietzche, The Origin of Tragedy).

Moreover, our language is essentially musical. It is composed of few words and many tones. There are 6 tones, we might say a scale of 6 notes : the grave tone, the falling tone, the even tone, the intetrogative tone, the rising tone and the sharp tone. Each word, as it changes its tone, changes its meaning.

Thus the word  “la” can mean according to the tone : to shout (la), strange (lạ), to be (1à), insipid (1ã), tired (1ả), and leaf (lá).

From this primitive music was born  the poetical  idea or rather dream which flourishes in our old legends. So our

own culture began with our poetry and our poetry began with our language itself.

The period of the legends is a misty one, full of titanic dreams and fabulous animals, a period when a people still in its infancy was groping for the explanation of things and wondering, about its origin. “ The origin of our people” — so runs the legend -” is the union between LAC-LONG-QUAN, the King of the race of dragons, and AU-CO, the Queen of the race of Fairies. One day AU-CO gave birth to a hundred eggs out of which came a hundred male children. LAC-LONG-QUAN then said to his wife : “ I am a dragon and I like the sea ; you are a fairy and you prefer the mountains. Fairy and Dragon, we cannot live together very long, so let us divide the children between us and part”.   Then taking half the boys, LAC-LONG-QUAN went down to the Southern  Sea and there he founded the Kingdom of Vietnam ».

Like all legends, this one was passed on orally through the ages and. the song, which is supposed to be merely the musical expression of this poetic dream, sums it up, or rather suggests it, in these two lines:

“Dragons’ eggs produce dragons,

Serpents’ eggs produce only serpents “.

Popular songs were perhaps never composed. Essentially, they burst out spontaneously and instinctively from the mouths of the people, in a kind of musical excitement.

Let us hear how a French orientalist, Georges Cordier, depicts the role of the song in the life of the Vietnamese peasant :

“ In all seasons, at all times, this whole people, men and women, old and young, go about reciting verses. The song rises with the sun, and lasts far into the night. At the time, especially, when the din of daily work is hushed, its sweetness moves us more”.

Let us listen to a young peasan’s declaration of love :

“ Yesterday drawing water hard by the pagoda,

I left my tunic on the lotus flower.

If you have taken it, my friend, give it back to me;

Unless you wish to keep it as a pledge !

My tunic is all unstiched  at the edges

I haven’t a wife yet,

And my old mother has not yet  mended it.

My tunic has been unstitched for so long,

Would you be kind enough to mend it for me ?”

Or again, this declaration by a young fisherman :

“As the billow slowly wears away the rock awash,

So thoughts of love, do what we will, keep coming back.

For one bark on the river, how many cares !

How many cares wind and storm give us !

I love you, you with a dimple in your cheeks

Like the hole in a sapeke, you who live on a floating bark,

Knowing nothing of paint and powder,

The bark in autumn meets an adverse wind

Will that adverse wind not sadden  my heart  ?

United, we might sail down torrents and cross rapids,

And one hundred years will see us still loving and faithful !

When Spring is reborn, the river glides on,

The bark drifts, the moon is reflected in the water,

What more do you wish, my friend ?

And here is the girl’s wise response :

“ I am like a piece of peach-coloured silk,

Waving in the middle of the market,

Not knowing into whose hand it will fall”.

Let us go on with Georges Cordier’s description :

“Night has come now, a fine Eastern night, heavy and scented. The village can now, be seen only as a dark mass, darker than the sky. Everywhere in alleys bordered by tall areca trees, along the gardens fenced by cactus and longan trees, there are groups of lads and lasses singing never—ending

From this primitive music was born  the poetical idea or rather dream which flourishes in our old legends. So our …..

(Continued)

Theo em (69)

Tôi đã giải quyết được cái chuyện “giao lưu” giữa tôi và Y.  Chỉ cần cái chuông cửa điện không dây (wireless door bell), là Y. có thể gọi tôi dễ dàng, cũng như tôi có thể biết khi nào Y. cần đến tôi. Trước đây một người bạn tặng tôi một hệ thống chuông cảnh báo cho con trẻ  nằm trong nôi,  giúp cha hoặc mẹ không có mặt thường trực biết được tình trạng của đứa con họ. Nhưng dụng cụ này quá  bất tiện vì  cứ phát ra tiếng kêu liên tu bất tận,  như những  âm thanh trong phòng cấp cứu khiến tôikhông thể nào ngủ  được. Sau đó, tôi dẹp đi, và  đề nghị  Y. mỗi lần cần đến tôi  giúp thì cứ gọi hay la  lớn. Phương pháp “manual”  này càng làm khổ cho tôi hơn.  Ví dụ, khi Y. xem TV, tiếng la trên truyền hình, cũng khiến tôi tức tốc từ  phòng làm việc của tôi dưới hầm nhà chạy lên, hay khi viết lách, nhưng  đôi tay cứ  như căng ra, lắng nghe tiếng động từ trên nhà, để đầu óc tâm trí không còn tập trung vào chữ nghĩa nữa.
Bây giờ, tôi đã có thể ngồi an tâm trước máy computer, hay  có thể in ấn, cắt xén hay binding… hay giặt dũ quần áo mà không bị chi phối bởi những tiếng động phát ra từ trên nhà nữa. Thay vì gắn đồ bấm ngoài cửa nhà, thì   để bên giường Y. Thay vì cái chuông để ở phòng khách thì bây giờ để dưới basement.

Việc này giúp tôi rất lớn trong việc tìm niềm vui cho mình. Đã gần bốn tháng nay, xác tôi như bị ép lại, thần trí như bị căng thẳng muốn nổ bùng, dù nước mắt không còn chảy nữa, nhưng nỗi đau xót lẫn thương hại đã luôn luôn làm tim tôi muốn nhói. Như lúc cầm lấy cánh tay trái, không thể cục cựa, như lúc nâng chân trái để Y. dễ dàng tập đi, như khi thấy Y. nhắm mắt cùng cơn đau để cố tập tành, hay thấy chính mình – một kẻ ham họat động, ham đi chơi, ham bạn bè- giờ lại bị thúc thủ trong căn phòng đầy thuốc men, với chiếc xe lăn để cạnh…

Tôi không thể ép thêm cái thân thể đã quá tiều tụy này nữa. Y. cần đến tôi, luôn luôn cần đến tôi. NẾu mà tôi ngả xuống thì không còn có ai chăm sóc Y. Không phải dễ dàng gì để dìu một người bệnh từ trên giường xuống nền nhà, rồi vào nhà vệ sinh, trong khi người bệnh không thể kéo quần xuống  cho mỗi lần làm vệ sinh cá nhân. Không thể dễ dàng tắm rửa người bệnh… hay giúp người bệnh xúc miệng đánh răng khi người bệnh chỉ còn có một tay làm việc. Và cũng không dễ dàng gì khi nằm trên giường bênh cạnh giường người bệnh, để nghe tiếng rên, hay những cơn ho như xé cả buồng phổi… Đó là lý do tôi thoái thác những tấm lòng mà các bạn bè bằng hữu đã có nhả ý tình nguyện chia sẻ với gánh nặng của tôi…Ngay cả người physical therapy cũng còn chịu thua vì không thể cầm lấy cánh tay trái của Y. khi cánh tay ấy đau nhức, để tập cách xuống giường một mình.

Vâng, tôi không thể ép xác nữa. Và cái chuông điện này đã giúp tôi rất nhiều. Bằng chứng là hôm qua, tôi có thể in được 4 tập Văn số về Võ Hồng trước 1975. 4 tập dành cho bốn người bạn thiết thân.

Tôi cũng đang chuẩn bị bài vở cho TQBT số 56. Một bài rất hay là Chung quanh cây Sâm của Lê Quí Đôn của Trần văn Tích và một bài nhận định về văn chương thời chiến của Nguyễn Mộng Giác trên Bách Khoa. Tôi có ý cho chủ đề số tới là Van chương đo thì hay là văn chương ngoài vòng đai, và sẽ cố tập trung sưu tập những bài vở liên quan.

Tôi cảm thấy rất yêu đời, lúc này… 1AM, Y. kêu dau nhức ở  chân trái, và tôi đã cho Y. uống nửa viên Baclofen rồi thoa bóp chân bị nạn. Sau đó tôi ngủ đến  gần 5 AM. Xuống hầm nhà, xếp lại đống quần áo phơi hai ba ngày chưa xếp. Rồi ngồi trước máy. Và gõ.

Gõ về cái chuông điện. Gõ về niềm vui khi thấy mình mạnh khỏe, bình an. Gõ về 4 tập in lại từ một số báo Văn cũ chủ đề về Võ HỒng. Gõ về sự thành tựu, chứ không phải sự ước mơ.

Có phải vậy không ?