Viết lúc 4AM – Đọc lại những đoạn viết rời

Đọc lại một số báo Thư Quán Bản Thảo  cũ 7 năm về trước. Buồn. Trên những trang báo này, lẽ ra phải màu xanh, màu rượu hổ phách, lẽ ra phải niềm vui, nhưng tại sao cứ những nỗi buồn này tiếp đến nỗi buồn khác. Hết Hoàng Ngọc Tuấn, rồi Nguyễn Tôn Nhan, rồi Khoa Hữu và bây giờ là Nguyễn Mộng Giác.
Continue reading Viết lúc 4AM – Đọc lại những đoạn viết rời

Để giải thích một câu hỏi…

Một người bạn, sau khi đọc bài “Thơ gởi Khoa Hữu lúc 5 AM”, điện thư hỏi: “Có chuyện gì vậy mà anh phải xé hết giấy, hết bìa và bỏ vào thùng recycle???”.  Xin trả lời, vì cái symbol ô vuông này:

Cái ô vuông này xuất hiện trên document của bạn, khi  WORD tìm không ra chữ. Ví dụ bạn gởi tôi một chữ Ả-rập mà tôi không bỏ vào trong máy tôi. Khi tôi mở bài của bạn qua WORD, trước hết WORD sẽ đọc từng chữ  ở bài bạn. Nếu OK, thì mọi sự tốt đẹp. Nếu một hai chữ lạ hoắc, WORD không đọc được, thì ô vuông sẽ in, để thay vào cái chữ mà WORD tìm không ra.

Từ trước đến nay, in hàng trăm đầu sách, tôi chưa bao giờ gặp trường hợp này. Hơn nữa muốn test (thử) rất khó vì không có cái  ô vuông  này trong WORD, ngay cả special symbol hay special characters để có thể dùng command FIND hầu tìm ra cái ô vuông chó má này cũng không có.

(Xin lỗi tôi quen ăn tục nói phét từ khi làm lính thám kích, sửa hoài cũng không được, bạn thông cảm.)

Để phải bỏ cả trăm cuốn, giấy ruột loại quí hiếm, bìa laminate tuyệt vời.

Như vậy sao không tức cho được.

Trong lãnh vực điện toán, người ta quen gọi “bug” (con bọ) để chỉ một cái gì đó gây phiền phức cho cái program mình viết. Nó có thể ẩn nấp ở đâu dó, để rồi một ngày nào đó, làm hư cả hệ thống. Nó cũng do từ sự ỷ y. Như trường hợp của tôi.
Tức thì tức. Giận thì giận. Cũng lại bắt tay thêm một lần thứ hai, hầu cho ông Khoa Hữu ở dưới suối vàng nếu có linh hiển thì thương tình cho mắt ta được sáng để nhìn cho rõ những ô vuông mập mờ ma quái. Đừng như ngày xưa.

Nhắc đến  ngày xưa, tự nhiên nhớ lại cái nồi cơm anh chàng bộ đội nào đó, bỏ dở. Chắc anh ta hoảng kinh nên quên mang cả nồi, cả lương khô, ba-lô, dép khi tự nhiên nghe súng nổ tứ phía, rồi tiếng hô xung phong rầm trời lúc 5 giờ sáng…

Thì đi, đột kích trong lòng địch
Chụm tiếp nồi cơm hộ bắc quân
Cơm nóng thầy trò ăn đỡ đói
Ha hả cười. Cơm của nhân dân…

Thời đó, anh ta  là ma, tôi cũng  là ma. Thời ấy giờ hết rồi. Vậy mà bây giờ cái con ma bug chó má này lại thềm một lần xuất hiện, trêu chọc, rồi hành hạ tôi. Vậy sao tôi không tức cho được, hỡi người bạn thiết?

Viết lúc 4AM: Niềm vui sáng kiến

Mấy hôm nay, quá quá quá bận, nên không viết gì cho 4AM, dù mỗi ngày vẫn thức giấc để tiếp tục cho cuộc hành trình mà người ta gọi là cuộc đời.

Bao nhiêu việc phải làm. In cuốn Truyện từ Văn của THT dày 290 trang. Chuẩn bị cho Thư Quán Bản Thảo chủ  đề về tạp chí Văn số tháng 8 này. In  thi phẩm Lửa, một di cảo của cố thi sĩ Khoa Hữu. Và vài mươi tập Xa Xứ đã hết, bạn đọc hỏi xin nhiều quá. Lại thêm một bộ Thơ Miền Nam, 5 tập, phải khâu chỉ, dày cả 3500 trang. Rồi còn phải tạ tình vợ, chở nàng đi chơi…

Khủng khiếp. Công việc quá sức bận rộn, làm ta như ngất ngư. Như vậy, làm sao mà viết?

Được chứ. Bằng chứng là sáng nay, thêm một bài mới cho một niềm vui.

Niềm vui sáng kiến.

Vâng, sáng kiến ở đây là tự động hóa việc ép phim loại lạnh. (Cold laminating film  automatization).

Như bạn biết, có hai loại laminating film. Loại nóng và loại lạnh. Hầu như trong kỹ nghệ, người ta đều dùng loại nóng.
Cứ lắp vào máy ép (laminator) hai roll trên và dưới. Mở máy để lám nóng hai trục ép theo nhiệt độ mình muốn. Thường là 270 độ F. Sau đó đút bìa vào giữa hai trục. Sức nóng của hai trục ép làm phim laminating chảy, và ép phim vào mặt bìa.

Vì nhiệt độ cao nên làm bìa cong, nên chuyện ép bìa sách bằng laminating film ít được dùng trong kỹ nghệ in ấn. Họ chỉ dùng phương pháp tráng láng (Utra Violet coating), vừa rẻ, vừa nhanh.

Có điều máy UV rất mắc. Một kẻ làm tài tử như tôi, không thể mua để chơi.

Chỉ có cách là dùng phim lạnh (cold laminating film).

Nhưng phim lạnh được chế để ép vào những tấm quảng cáo, yết thị, bích chương để chống lại thời tiết, mưa nắng ngoài trời. Máy ép keo lạnh không có hệ thống quay như máy ép nóng. Chỉ việc cắt cho vừa  kích thước  tấm bích chương, rồi cẩn thận bỏ vào máy để từ từ ép tùng tấm một. Việc làm rất tốn công tốn sức. Ví dụ 10 tấm bích chương, ta phải làm mười lần, phải cẩn thận đừng cho keo dính. Phải bóc lột lớp giấy dán vào keo trước khi ép. Nếu mà dính vào bìa thì xem như tấm bìa ấy bỏ đi. Nói tóm lại loại laminating lạnh chỉ dùng ép cho những bích chương hay bảng quảng cáo với số lượng ít ỏi. Bạn thử Google “Cold laminator” bạn sẽ thấy giá tiền khoảng trên dưới $1000 (Mỹ), $700 (Tàu) cho loại phim lạnh rộng quá 25 inch.

Có nghĩa là chưa có ai nghĩ ra cách làm máy để tự động ép phim lạnh. Việc tự động chỉ dành cho loại phim nhiệt (nóng) mà thôi.

Tôi đã nghĩ ra cách. Kỳ diệu quá bạn. Tôi đứng nhìn mê mẩn công trình của mình. Tôi upload cái hình để “khoe” thành tích. Đâu có gì mà xấu hổ. Đây là một sự thách đố của trí tuệ. Và tôi đã chiến thắng.

Ôi sách của tôi, truyện của tôi, bìa tôi làm, bìa tôi ép phim, láng bóng, không cong, phẳng như mặt kiếng. Tôi đã thành công sau bao lần thất bại. Những lần nín thở để thử, giờ đã nhường lại cho niềm vui kỳ diệu.

Hai bài hành thời chiến của Phạm Ngọc Lư

Đầu năm 1972, cuộc chiến bột phát dữ dội, để sau đó là máu, nước mắt, khăn sô trắng trời trong mùa hè đỏ lửa kinh hoàng ! Từ Sài Gòn trở về tạm biệt cha mẹ các em, bè bạn để chuẩn bị và chờ đợi tới lượt mình ra chiến trường ném binh như vãi đậu. Bữa cơm chiều có món rượu Cỏ May thần tửu (do Phạm Ngọc Lư đặt tên: rượu nếp ủ lâu ngày, nước đỏ màu hổ phách) và bất thần Lư đọc lên: biên cương, biên cương chào biên cương. Ban đầu là ngập ngừng, sồn sựt, nhưng càng sâu, bài thơ nghe gai lạnh chỏm tóc, gáy, sống lưng. Chữ nghĩa và cái giọng nghèn nghẹn làm nổi da gà tất cả anh em ngồi quanh chiếu rượu. Lư không phải là một chiến binh, chưa biết mặt chiến trường ra sao, nhưng những dòng chữ từ trái tim anh vút ra như một dự cảm oan nghiệt của cái mà bọn “thiết quốc” gọi là lý tưởng, chủ nghĩa để đem nướng hàng triệu sinh linh trên bãi chiến trường được chỉ định trước . Nỗi hãi hùng từ cảnh binh đao xếp thành hàng, vất vưởng, man rợ, tủi nhục… trong bài hành. Trở vào, tôi mang theo sự man rợ kinh hoàng kia để bè bạn cùng sẻ chia, cùng tự vấn vì ai gây dựng cho nên nỗi này. Sau hon 30 năm, thỉnh thoảng nhớ lại vẫn gai lạnh nỗi hoang mang tột cùng. Và mới đây anh bất ngờ chép lại đầy đủ, tặng tôi. Giờ đây tôi thay mặt anh xin kính tặng quý độc giả TQBT. (  Nguyễn Lệ Uyên)

Phạm Ngọc Lư – Trần Hoài Thư – Nguyễn Lệ Uyên – Phạm văn Nhàn (chụp tại Tuy Hòa 1970)

(trích Thư Quán Bản thảo tập 13)

Biên cương hành

Biên cương biên cương chào biên cương
Chào núi cao rừng thẳm nhiễu nhương
Máu đã nuôi rừng xanh xanh ngắt
Núi chập chùng như dãy mồ chôn
Gớm, gió Lào tanh mùi đất chết
Thổi lấp rừng già bạt núi non
Mùa khô tới theo chân thù địch
Ta về theo cho rậm chiến trường
Chiến trường ném binh như vãi đậu
Đoàn quân ma bay khắp bốn phương
Lớp lớp chồm lên đè bẹp núi
Núi mang cao điểm ngút oan hờn
Đá mang dáng dấp hình chinh phụ
Trơ vơ chóp núi đứng bồng con
Khu chiến ngày tràn lan lửa dậy
Đá Vọng Phu mọc khắp biên cương
Biên cương biên cương đi biền biệt
Chưa hết thanh xuân đã cùng đường
Trông núi có khi lầm bóng vợ
Ôm đá mà mơ chuyện yêu đương
Thôi em, sá chi ta mà đợi
Sá chi hạt cát giữa sa trường
Sa trường anh hùng còn vùi dập
Há rằng ta biết hẹn gì hơn ?

Đây biên cương, ghê thay biên cương !
Núi tiếp rừng, rừng tiếp khe truông
Hãi hùng chưa trời hoang mây rậm
Mùa mưa về báo hiệu tai ương
Quân len lỏi dưới tàn lá dữ
Lá xôn xao xanh mặt hoảng hồn
Sát khí đằng đằng rừng dựng tóc
Ma thiêng còn ngán bọn cô hồn
Cô hồn một lũ nơi quan tái
Có khi đã hóa thành thú muông
Cô hồn một lũ nơi đất trích
Vỗ đá mà ca ngông hát cuồng
Chém cây cho đỡ thèm giết chóc
Đỡ thèm môi mắt gái buôn hương

Đây biên cương, ghê thay biên cương !
Tử khí bốc lên dày như sương
Đá chảy mồ hôi rừng ứa máu
Rừng núi ơi ta đến chia buồn
Buồn quá giả làm con vượn hú
Nào ngờ ta con thú bị thương
Chiều hôm bắt tay làm loa gọi
Gọi ai nơi viễn xứ tha phương ?
Gọi ai giữa sơn cùng thủy tận ?
Ai người thiên cổ tiếc máu xương ?
Em đâu, quê nhà chong mắt đợi
Hồn theo mây trắng ra biên cương
Thôi em, yêu chi ta thêm tội
Vô duyên xui rơi lược vỡ gương
Ngày về không hẹn ngày hôn lễ
Hoặc ngày ta mắt nhắm tay buông
Thôi em, chớ liều thân cô phụ
Chiến trường nay lắm nỗi đoạn trường
Nơi nơi lạnh trăm dòng sông Dịch
Kinh Kha đời nay cả vạn muôn
Há một mình ta xuôi biên tái
“Nhất khứ bất phục phản” là thường !

Thôi em, còn chi ta mà đợi
Ngày về : thân cạn máu khô xương
Ngày về : hôn lễ hay tang lễ
Hề chi ! buổi chinh chiến tang thương
Hề chi ! kiếp cây rừng đá núi
Nghìn năm hồn quanh quẩn biên cương

Tháng 5, 1972

Cố lý hành

Chiều chết đuối trên sông ngờm ngợp
Nước đua chen đớp bọt nắng tàn
Đò qua sông đìu hiu bến đợi
Buồn rút lên bờ cây khai quang
Mây đổ xù lông như chó ốm
Trời bôi nhòe mặt ngóng đêm sang
Thôn ổ tiêu sơ gầy khói bếp
Đồng không mốc thếch lạnh tro tàn

Có biết ta về không cố lý ?
Mười năm chưa lạ mặt xóm làng
Sao phên giậu nghiêng đầu câm nín
Rơm rạ làm thinh chẳng hỏi han
Cổng khép rào vây vườn cỏ dại
Tường xiêu mái rách bóng nhà hoang
Ngõ vắng bàn chân như hụt đất
Tre già đang kể chuyện chôn măng
Nương rẫy đang phơi lòng dâu bể
Nói làm sao hết nỗi bàng hoàng ?
Khóc làm sao vừa lòng cố lý ?
Phải đây là cố lý ta chăng ?
Đâu bóng mẹ già sau khung cửa
Và những người em mặt trái xoan
Đâu bóng chị hiền như hoa cỏ
Bên luống cà xanh liếp cải vàng

Đất đá thở ra mùi u uất
Bốn bề hun hút rợn màu tang
Ai chết quanh đây mà cú rúc
Mà cơn gió lạnh réo hồn oan
Ai trong muôn dặm không về nữa
Cố lý mười năm mộng bẽ bàng
Cố lý mười năm ngày trở lại
Như ngày Lưu Nguyễn xuống trần gian !

1972